Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 334

   Cần có quy định cụ thể để áp dụng Điều 21 Bộ luật hình sự.


Thứ tư - 20/06/2018 09:38

          Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

          Theo đó, một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi không nhận thức được tác hại do hành vi của mình gây nên cho xã hội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

          Trong Điều 21 BLHS chúng ta thấy có 2 trường hợp xảy ra:

          Một là, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đang mắc bệnh tâm thần thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

          Hai là, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đang mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự.

          Như vậy, tiêu chuẩn về dấu hiệu để xác định một người không có năng lực trách nhiệm hình sự là trong khi đang mắc bệnh theo tiêu chuẩn y học và tâm lý làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Cả hai dấu hiệu này có mối liên quan chặt chẽ với nhau, cái này là tiền đề của cái kia và ngược lại, người vì mắc bệnh nên mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển và bị mất khả năng điều khiển vì họ mắc bệnh.

          Trong thực tế giải quyết án hình sự hiện nay, quá trình điều tra nếu các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện có dấu hiệu của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có biểu hiện tâm thần hoặc phát hiện có dấu hiệu mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi thì trưng cầu giám định, nếu kết quả giám định kết luận là trước, trong, sau khi phạm tội người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mắc bệnh tâm thần thì người đó không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tài Điều 21 BLHS, tuy nhiên phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh với người đó, nhưng trường hợp mắc một bệnh khác, xin nêu một vụ án cụ thể: Nguyễn Văn A điều khiển xe mô tô chở Phạm Văn P đi chơi, do có uống rượu nên A điều khiển xe đi lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều đâm vào xe của anh Lê Văn H đang điều khiển xe mô tô theo ngược hướng lại. Hậu quả anh P và anh H chết. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện đã khởi tố vụ án hình sự Tội  vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 của BLHS.

          Quá trình điều tra, A có biểu hiện không có khả năng nhận thức nên đã trưng cầu giám định tâm thần đối với A. Kết luận giám định của Trung tâm giám định pháp y tâm thần tỉnh kết luận: “Nguyễn Văn A không mắc bệnh tâm thần mà mắc bệnh hội chứng sang chấn tâm lý sau chấn thương, Quốc tế gọi là F72”.

          Theo quy định của Điều 21 BLHS  thì tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng cho 2 trường hợp:

          Thứ nhất: người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần;

          Thứ hai: người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc một bệnh khác nhưng phải thỏa mãn một trong hai yếu tố đó là bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc bênh làm mất khả năng điều khiển hành vi của mình.

          Để làm rõ A đang mắc bệnh F72 có phải là bệnh mà làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi hay không, Cơ quan điều tra tiếp tục có công văn gửi Trung tâm giám định pháp y tâm thần tỉnh đề nghị giải thích rõ thì Trung tâm giám định pháp y tâm thần tỉnh trả lời: “Cơ quan điều tra trưng cầu ngoài phạm vi giám định” nên vụ án đến nay vẫn chưa được giải quyết.

          Trước vụ án trên, có 2 quan điểm như sau:

          Quan điểm thứ nhất: Đủ căn cứ khởi tố A về Tội  vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 của BLHS bởi lẽ theo kết luận giám định thì A chỉ bị sang chấn tâm lý sau khi chấn thương tức là trước, trong khi phạm tội, A hoàn toàn bình thường, nhưng sau khi hết thời hạn điều tra thì ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can đối với A và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với A.

          Quan điểm thứ hai: Trong trường hợp này, chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với A mà Cơ quan điều tra phải trưng cầu giám định lại đối với A để xác định tình trạng bệnh lý hiện tại đối với A vì trên thực tế A không có khả năng làm việc với cơ quan chức năng (hỏi câu gì A cũng cười, đứng dậy sợ ngã…); xác định chính xác là A bị sang chấn tâm lý hay mắc bệnh tâm thần đồng thời cũng cần làm rõ hiện tại A có bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi hay không.

          Quan điểm của tôi đồng tình với hướng giải quyết thứ hai bởi cần phải xác định tình trạng bệnh lý hiện tại của A một cách khoa học trên cơ sở kết luận giám định lại của Hội đồng giám định pháp y tâm thần Trung ương để làm rõ hiện tại A bị sang chấn tâm lý hay bị mất khả năng nhận thức, mất khả năng điều khiển hành vi.      

          Trước vướng mắc trên, rất mong nhận được ý kiến tham gia của bạn đọc để đưa ra hướng giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật.
                                                                                        Tạ Văn Thiển.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết





 

Scroll to top