Kinh
tế
-
Xã
hội
ngày
càng
phát
triển
kéo
theo
các
tranh
chấp
dân
sự,
hôn
nhân
gia
đình
cũng
có
chiều
hướng
gia
tăng,
số
lượng
vụ
việc
dân
sự
Tòa
án
nhân
dân
huyện
Sơn
Dương
thụ
lý
hằng
năm
tăng,
cụ
thể:
năm
2015
thụ
lý
312
vụ,
năm
2016
thụ
lý
362
vụ,
năm
2017
thụ
lý
391
vụ.
Để
nâng
cao
chất
lượng
khâu
công
tác
này,
tôi
chọn
chuyên
đề
“Kĩ
năng
kiểm
sát
các
Bản
án,
Quyết
định
HNGĐ
của
Tòa
án”
để
nghiên
cứu.
Thông
qua
chuyên
đề,
tôi
sẽ
làm
rõ
hơn
những
kết
quả
đã
đạt
được
cũng
như
những
hạn
chế,
đồng
thời
tìm
ra
những
nguyên
nhân
của
hạn
chế,
vướng
mắc
để
đề
xuất
các
biện
pháp
thực
hiện
tốt
chức
năng
Kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
của
Tòa
án.
I.
CÁC
QUY
ĐỊNH
PHÁP
LUẬT
VỀ
CÔNG
TÁC
KIỂM
SÁT
BẢN
ÁN,
QUYẾT
ĐỊNH
DÂN
SỰ
CỦA
TÒA
ÁN
Tại
Điều
107
Hiến
pháp
nước
CHXHCN
Việt
Nam
năm
2013
đã
quy
định
rõ
chức
năng,
nhiệm
vụ
của
ngành
Kiểm
sát
nhân
dân.
Tại
Khoản
4,
Điều
27
Luật
tổ
chức
Viện
kiểm
sát
quy
định
về:
Nhiệm
vụ,
quyền
hạn
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
khi
kiểm
sát
việc
giải
quyết
vụ
án
hành
chính,
vụ
việc
dân
sự,
hôn
nhân
và
gia
đình,
kinh
doanh,
thương
mại,
lao
động
và
những
việc
khác
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Khoản
5
Điều
58
BLTTDS
năm
2015
cũng
quy
định
rõ
về
Nhiệm
vụ,
Quyền
hạn
của
Kiểm
sát
viên
là:
Kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
của
Tòa
án.
Nghị
quyết
326
ngày
30/12/2016
của
UBTV
Quốc
hội;
Nghị
quyết
của
Hội
đồng
thẩm
phán
TANDTC.
Thông
tư
liên
tịch
số
02
ngày
31/8/2016
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
Tối
cao
và
Tòa
án
nhân
dân
Tối
cao
Quy
định
về
“Việc
phối
hợp
giữa
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
và
Tòa
án
nhân
dân
trong
việc
thi
hành
một
số
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự”.
II.
THỰC
TRẠNG
NHỮNG
THIẾU
SÓT
CỦA
TÒA
ÁN
THƯỜNG
GẶP
Các
vấn
đề
phải
giải
quyết
đối
với
loại
án
hôn
nhân
và
gia
đình
gồm:
quan
hệ
hôn
nhân,
con
chung,
quan
hệ
tài
sản.
Tòa
án
thường
gặp
thiếu
sót
trong
việc
giải
quyết
phần
tài
sản;
về
thời
hạn
chuyển
giao
quyết
định,
bản
án
giải
quyết
vụ
án
hôn
nhân
gia
đình
cho
VKS
cùng
cấp;
lãi
suất
nếu
Đương
sự
chậm
nộp
tiền
cấp
dưỡng
nuôi
con;
quyền
và
nghĩa
vụ
của
Đương
sự
đối
với
con
chung
sau
khi
li
hôn.
III.
KỸ
NĂNG
CÔNG
TÁC
KIỂM
SÁT
BẢN
ÁN,
QUYẾT
ĐỊNH
GIẢI
QUYẾT
VỤ
VIỆC
HNGĐ
CỦA
TÒA
ÁN
Khi
kiểm
sát
Bản
án,
Quyết
định
cần
chú
ý:
Hình
thức,
nội
dung
của
BA,
QĐ.
1.
Đối
với
Quyết
định
công
nhận
sự
thuận
tình
ly
hôn
và
thoả
thuận
của
các
đương
sự
(Điều
212
BLTTDS
năm
2015)
“Công
nhận”
nghĩa
là
việc
mọi
người
đều
thừa
nhận,
đều
cho
là
đúng.
Khi
phiên
hòa
giải
kết
thúc,
các
bên
Đương
sự
đã
tìm
ra
tiếng
nói
chung,
đã
thỏa
thuận
được
với
nhau
việc
giải
quyết
vụ
việc
một
cách
phù
hợp,
đảm
bảo
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
cho
các
bên
và
đã
được
ghi
trong
biên
bản
hòa
giải.
Trong
thời
hạn
07
kể
từ
ngày
lập
biên
bản
hòa
giải
thành
mà
không
có
Đương
sự
nào
thay
đổi
ý
kiến
thì
Thẩm
phán
ban
hành
Quyết
định
công
nhận
sự
thuận
tình
li
hôn
và
thoả
thuận
của
các
đương
sự.
Đối
với
loại
QĐ
này,
cần
chú
ý
như
sau:
-
Thứ
nhất:
Thẩm
quyền
ban
hành
Quyết
định
là
Thẩm
phán
chủ
trì
phiên
hòa
giải
chứ
không
nhất
thiết
là
Thẩm
phán
được
Chánh
án
phân
công
thụ
lí
vụ
việc
dân
sự
đó.
Còn
tại
phiên
tòa
thì
thẩm
quyền
ban
hành
Quyết
định
này
là
Hội
đồng
xét
xử;
-
Thứ
hai:
Trong
thời
hạn
05
ngày
làm
việc
TA
phải
gửi
Quyết
định
này
cho
VKS
cùng
cấp
và
các
đương
sự;
-
Thứ
ba:
Cần
lưu
ý
là
Thẩm
phán
chỉ
được
ban
hành
Quyết
định
này
nếu
Đương
sự
thỏa
thuận
được
với
nhau
toàn
bộ
nội
dung
vụ
án;
Mặt
khác,
việc
hòa
giải
nếu
thỏa
thuận
được
với
nhau
về
toàn
bộ
nội
dung
vụ
án
thì
thỏa
thuận
đó
chỉ
có
giá
trị
đối
với
những
Đương
sự
có
mặt
trong
phiên
hòa
giải
mà
việc
thỏa
thuận
này
không
ảnh
hưởng
đến
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
Đương
sự
vắng
mặt
thì
TP
mới
được
quyền
ban
hành
loại
QĐ
này;
-
Thứ
tư:
QĐ
này
được
TP
ban
hành
trong
giai
đoạn
chuẩn
bị
xét
xử
thì
Đương
sự
chỉ
phải
chịu
50%
mức
án
phí
so
với
quy
định;
Còn
QĐ
này
được
HĐXX
ban
hành
trong
giai
đoạn
xét
xử
thì
Đương
sự
vẫn
phải
chịu
toàn
bộ
mức
án
phí
theo
pháp
luật
quy
định,
trừ
trường
hợp
được
miễn,
giảm
án
phí.
Cần
lưu
ý
thêm
nữa
là
Nguyên
đơn
trong
vụ
án
ly
hôn
là
người
bắt
buộc
phải
chịu
án
phí
ly
hôn,
còn
trong
vụ
án
có
tài
sản
chung
thì
án
phí
được
tính
theo
phần
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm
có
giá
ngạch
(việc
tính
án
phí
được
thực
hiện
theo
quy
định
tại
Nghị
Quyết
số
326
ngày
30/12/2016
của
Ủy
ban
thường
vụ
Quốc
hội
quy
định
về
án
phí,
lệ
phí
của
Tòa
án).
-
Thứ
năm:
Đối
với
QĐ
này
VKS
cùng
cấp
chỉ
có
quyền
Kiến
nghị
khi
phát
hiện
vi
phạm
chứ
không
có
thẩm
quyền
Kháng
nghị
theo
thủ
tục
phúc
thẩm,
nếu
phát
hiện
vi
phạm
nghiêm
trọng
ảnh
hưởng
trực
tiếp
đến
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
Đương
sự
thì
VKS
cùng
cấp
phải
báo
cáo
VKS
cấp
trên
để
thực
hiện
thủ
tục
kháng
nghị
theo
thẩm
quyền.
2.
Bản
án
sơ
thẩm
(Quy
định
tại
Điều
266
BLTTDS
năm
2015)
BA
dân
sự
sơ
thẩm
là
văn
kiện
được
tuyên
nhân
danh
Nhà
nước
CHXHCN
Việt
Nam,
khi
có
hiệu
lực
pháp
luật
phải
được
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
tôn
trọng;
Cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
hữu
quan
phải
nghiêm
chỉnh
chấp
hành.
Khi
thực
hiện
chức
năng
Kiểm
sát
BA
dân
sự
cần
lưu
ý
những
điểm
sau:
-
Thứ
nhất:
Thẩm
quyền
ban
hành
BA
thuộc
về
HĐXX;
-
Thứ
hai:
Thời
hạn
TA
gửi
BA
cho
VKS
cùng
cấp
và
các
Đương
sự
là
10
ngày,
kể
từ
ngày
tuyên
án.
-
Thứ
ba:
Kiểm
sát
phần
mở
đầu
của
BA
như
số
BA,
ngày
tháng
năm
ban
hành
BA,
ngày
tháng
năm
mở
phiên
tòa;
Thông
tin
người
tiến
hành
tố
tụng
và
người
tham
gia
tố
tụng;
Quan
hệ
pháp
luật
tranh
chấp;
Sự
có
mặt
của
người
tham
gia
tố
tụng,…
Thực
tế
thiếu
sót
của
Tòa
án
thường
gặp
là
không
đưa
người
có
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
liên
quan
đến
vụ
án
vào
tham
gia
tố
tụng
khi
giải
quyết
vụ
án.
Đặc
biệt
các
vụ
án
li
hôn
có
tranh
chấp
về
tài
sản
chung
có
liên
quan
đến
việc
cấp
giấy
Chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
Tòa
án
thường
không
đưa
UBND
huyện
vào
tham
gia
tố
tụng
với
tư
cách
là
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan.
Ngoài
ra
Tòa
án
cũng
thường
nhầm
lẫn
trong
việc
ngày
tháng
năm
Tòa
án
ban
hành
Bản
án
và
ngày
tháng
năm
Tòa
án
mở
phiên
tòa
(trong
trường
hợp
phiên
tòa
kéo
dài
nhiều
ngày).
Ví
dụ:
Trường
hợp
của
ông
Nông
Văn
B
và
bà
Nguyễn
Thị
C,
ông
B
trong
quá
trình
hòa
giải
có
yêu
cầu
tuyên
hủy
giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất
cấp
cho
ông
B
và
bà
C
với
lí
do
là
thửa
đất
đó
là
tài
sản
riêng
của
ông,
quá
trình
giải
quyết,
Tòa
án
đã
không
đưa
UBND
huyện
vào
tham
gia
tố
tụng
với
tư
cách
là
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan,
chỉ
đến
khi
VKS
cùng
cấp
yêu
cầu
Tòa
án
mới
thực
hiện.
-
Thứ
tư:
Kiểm
sát
phần
nội
dung
của
bản
án
thì
cần
lưu
ý:
TA
trình
bày
lời
khai
của
các
đương
sự
có
phù
hợp
không,
các
biên
bản
xác
minh,
thẩm
định,
định
giá,
hòa
giải
có
đúng
ngày
tháng
năm,
nội
dung
hay
không;
Nhận
định
của
HĐXX
có
phù
hợp,
có
căn
cứ
hay
không;
Để
có
cơ
sở
nhận
định
đời
sống
chung
của
vợ
chồng
không
tồn
tại,
mục
đích
hôn
nhân
không
đạt
được,
thì
phải
căn
cứ
vào
tình
trạng
cuộc
sống
hôn
nhân
hiện
tại
của
vợ
chồng
đã
đến
mức
trầm
trọng
hay
chưa.
Nếu
thực
tế
cho
thấy
đã
được
nhắc
nhở,
hoà
giải
nhiều
lần,
nhưng
vẫn
tiếp
tục
có
quan
hệ
ngoại
tình
hoặc
vẫn
tiếp
tục
sống
ly
thân,
bỏ
mặc
nhau
hoặc
vẫn
tiếp
tục
có
hành
vi
ngược
đãi
hành
hạ,
xúc
phạm
nhau,
thì
có
căn
cứ
để
nhận
định
rằng
đời
sống
chung
của
vợ
chồng
không
thể
kéo
dài
được
(theo
Khoản
3,
Điều
56
luật
HNGĐ).
Ví
dụ:
Ông
Nguyễn
Văn
S
khởi
kiện
yêu
cầu
ly
hôn
với
bà
Vi
Thị
L,
quá
trình
hòa
giải,
bà
L
không
nhất
trí
ly
hôn
với
ông
S.
Tại
phiên
tòa
sơ
thẩm,
Tòa
án
bác
yêu
cầu
khởi
kiện
của
ông
S
do
xác
định
không
có
mâu
thuẫn,
cuộc
sống
hôn
nhân
vẫn
còn
tồn
tại.
Ông
S
có
đơn
kháng
cáo
toàn
bộ
bản
án
sơ
thẩm.
Sau
khi
kháng
cáo,
ông
S
đưa
ra
các
chứng
cứ
như:
Ông
S
đi
làm
xa
nhà
khoảng
03
năm
nay,
không
mấy
khi
về
nhà,
không
quan
tâm,
chăm
sóc
bà
L
nữa.
Sau
khi
nghiên
cứu
hồ
sơ
vụ
án
thấy
rằng,
trong
quá
trình
giải
quyết
sơ
thẩm,
Tòa
án
chỉ
xác
minh
tại
địa
phương
nơi
bà
L
sinh
sống
về
cuộc
sống
hôn
nhân
giữa
bà
L
và
ông
S
thể
hiện
không
có
mâu
thuẫn
gì,
không
thể
hiện
được
việc
ông
S
và
bà
L
đã
có
cuộc
sống
li
thân
trong
thời
gian
03
năm.
Như
vậy,
Tòa
án
tuyên
bác
yêu
cầu
khởi
kiện
của
ông
S
là
không
có
căn
cứ,
gây
ảnh
hưởng
đến
quyền
và
lợi
ích
của
ông
S.
Ngoài
ra,
thực
tiễn
tại
địa
phương,
rất
nhiều
trường
hợp
Tòa
án
phải
qua
hai
lần
giải
quyết,
phải
bằng
hai
quyết
định
hoặc
bản
án
của
Tòa
mới
giải
quyết
dứt
điểm
một
vụ
án
Hôn
nhân
và
Gia
đình,
chưa
tính
đến
vụ
án
phải
giải
quyết
theo
thủ
tục
phúc
thẩm,
giám
đốc
thẩm,
tái
thẩm.
Bởi
khi
đương
sự
làm
đơn
xin
ly
hôn,
hoặc
là
do
đương
sự
tự
nguyện,
hoặc
là
do
ngại
vụ
án
phức
tạp,
kéo
dài
nên
thường
Tòa
án
hướng
dẫn
đương
sự
yêu
cầu
giải
quyết
mối
quan
hệ
hôn
nhân
và
con
chung
trước,
còn
phần
tài
sản
thì
hoặc
là
không
yêu
cầu
giải
quyết
hoặc
là
để
lại
giải
quyết
sau.
Về
nguyên
tắc
của
pháp
luật
dân
sự
ở
nước
ta
và
nhiều
nước
cho
thấy,
Tòa
án
phải
tôn
trọng
quyền
tự
định
đoạt
của
đương
sự,
đương
sự
yêu
cầu
đến
đâu,
Tòa
án
giải
quyết
đến
đó.
Vấn
đề
ở
chỗ,
nhiều
trường
hợp
do
người
dân
không
am
hiểu
pháp
luật,
cán
bộ
Tòa
án
đã
giải
thích
cho
đương
sự
theo
hướng
giải
quyết
từng
phần
(điều
này
có
lợi
cho
cán
bộ
TA
được
phân
công
giải
quyết),
dẫn
đến
bản
án
không
giải
quyết
hết
những
nội
dung
còn
tranh
chấp.
Ví
dụ: Ngày
25/8/2016
Tòa
án
địa
phương
S
ra
quyết
định
thuận
tình
ly
hôn
và
công
nhận
sự
thỏa
thuận
của
các
Đương
sự
giữa
ông
Nông
Văn
B
và
bà
Nguyễn
Thị
C,
theo
đó
công
nhận
sự
thuận
tình
ly
hôn
giữa
ông
B
và
bà
C;
về
phần
tài
sản
chung
ghi:
Không
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết,
chúng
tôi
tự
thỏa
thuận;
Ngày
01/12/2017,
ông
Nông
Văn
B
có
yêu
cầu
phân
chia
lại
tài
sản
chung
trong
thời
kỳ
hôn
nhân.
Tòa
án
tiếp
tục
thụ
lý
vụ
việc
tranh
chấp
với
quan
hệ
pháp
luật
là
Kiện
chia
tài
sản
trong
thời
kì
hôn
nhân.
Kiểm
tra
lại
hồ
sơ
vụ
án
ban
đầu
thì
không
có
chứng
cứ
phản
ánh
việc
các
đương
sự
không
yêu
cầu
giải
quyết
đối
với
khối
tài
sản
chung.
Việc
giải
quyết
của
Tòa
án
không
triệt
để
đã
dẫn
đến
vụ
việc
trên
kéo
dài
và
phải
giải
quyết
bằng
hai
Quyết
định,
bản
án
khác
nhau.
Về
tranh
chấp
là
công
nợ
chung,
Tòa
án
thường
có
vi
phạm
là
không
xác
định
số
công
nợ
chung
đó
được
các
đương
sự
hay
một
đương
sự
vay,
được
vay
trong
thời
gian
nào,vay
trong
thời
gian
cuộc
sống
hôn
nhân
còn
tồn
tại
hay
trong
thời
gian
đã
sống
li
thân,
Tòa
án
thường
vi
phạm
vấn
đề
này
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án
dẫn
đến
một
thói
quen
thường
gặp
là
cứ
có
tranh
chấp
về
công
nợ
chung
thì
Tòa
án
giải
quyết
bằng
cách
mỗi
người
chịu
một
nửa.
Cũng
tương
tự
như
vậy
đối
với
khối
tài
sản
chung
được
tạo
lập
sau
thời
kì
ly
thân.
Ví
dụ:
Tại
yêu
cầu
khởi
kiện
trong
vụ
án
ông
B
và
bà
C
nói
trên,
ông
B
yêu
cầu
chia
số
tiền
97.000.000đ
là
số
tiền
bán
mía
mà
bà
C
đã
bán
cho
nhà
máy
đường
SD.
Tòa
án
đã
nhận
định
chia
đôi
số
tiền
trên
theo
quy
định
nhưng
không
xét
đến
số
mía
mà
bà
C
đã
bán
là
khối
tài
sản
mà
bà
C
tự
tạo
lập
trong
thời
kì
sống
ly
thân.
Như
vậy,
làm
ảnh
hưởng
đến
quyền
và
lợi
ích
của
bà
C.
-
Thứ
năm:
Kiểm
sát
phần
Quyết
định
của
BA
cần
lưu
ý
các
căn
cứ
pháp
luật
có
chính
xác
không;
có
chấp
nhận
yêu
cầu
khởi
kiện
của
Nguyên
đơn
hay
không,
yêu
cầu
phản
tố
của
bị
đơn
hay
yêu
cầu
độc
lập
của
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan
hay
không;
Lưu
ý
về
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
của
các
đương
sự,
lưu
ý
về
án
phí
và
các
chi
phí
tố
tụng,
quyền
kháng
cáo
của
các
đương
sự
được
quy
định
tại
Điều
271,
273
BLTTDS,
quyền
kháng
nghị
của
VKS
cùng
cấp.
Thực
tiễn
tại
địa
phương,
Tòa
án
thường
áp
dụng
thiếu
các
căn
cứ
pháp
luật
như:
Thuận
tình
ly
hôn
(Điều
55
Luật
HNGĐ)
và
Ly
hôn
theo
yêu
cầu
của
một
bên
(Điều
56
luật
HNGĐ),
áp
dụng
thiếu
căn
cứ
về
quyền
và
nghĩa
vụ
của
cha
mẹ
sau
khi
ly
hôn
(Quy
định
tại
Điều
81,
82,
83
luật
HNGĐ),
hay
thiếu
các
căn
cứ
về
mức
cấp
dưỡng
và
phương
thức
cấp
dưỡng
nuôi
con
chung
sau
khi
ly
hôn
(Điều
110,
Điều
116,
Điều
117
Luật
HNGĐ).
Ngoài
ra
Tòa
án
áp
dụng
thiếu
các
căn
cứ
về
lãi
suất
nếu
chậm
nộp
tiền
cấp
dưỡng
(Quy
định
tại
Điều
357,
468
BLDS).
III.
Những
khó
khăn,
vướng
mắc
trong
việc
Kiểm
sát
các
Quyết
định,
Bản
án
dân
sự
của
TA
và
giải
pháp
1. Khó
khăn,
vướng
mắc
Giữa
VKS
và
TA
cùng
cấp,
giữa
VKS
và
các
cơ
quan,
đơn
vị
hữu
quan
chưa
có
sự
phối
hợp
chặt
chẽ,
nhất
là
việc
chuyển
giao
BA,
QĐ
đến
VKS
của
TA
dẫn
đến
việc
không
phát
hiện
kịp
thời
những
vi
phạm
hoặc
có
phát
hiện
thì
cũng
hết
thời
hạn
kháng
nghị
theo
quy
định.
Mặt
khác,
có
một
số
Quyết
định
Pháp
luật
quy
định
không
phải
gửi
cho
VKS
cùng
cấp,
VKS
chỉ
phát
hiện
được
khi
trực
tiếp
nghiên
cứu
hồ
sơ
hay
khi
HĐXX
ban
hành
Quyết
định
ngay
tại
phiên
tòa
có
KSV
tham
gia,
việc
này
dẫn
đến
công
tác
Kiểm
sát
không
được
thực
hiện
một
cách
hiệu
quả.
Khi
TA
tiến
hành
thẩm
định,
định
giá
tài
sản,
KSV
cùng
cấp
không
trong
thành
phần
tham
gia
thẩm
định,
định
giá
tài
sản
dẫn
đến
việc
nghiên
cứu
giải
quyết
vụ
án
gặp
nhiều
khó
khăn,
nhất
là
trong
các
trường
hợp
vụ
án
hôn
nhân
và
gia
đình
có
tranh
chấp
về
tài
sản
chung
Quyền
sử
dụng
đất
và
tài
sản
gắn
liền
với
đất.
2.
Một
số
giải
pháp
để
nâng
cao
chất
lượng
trong
khâu
công
tác
này
Kiến
nghị
sửa
đổi
bổ
sung
BLTTDS
năm
2015
theo
hướng
TA
phải
gửi
tất
cả
các
Quyết
Định
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự
cho
VKS
cùng
cấp.
Tăng
cường
sự
phối
hợp
giữa
VKS
và
TA
cùng
cấp,
phối
hợp
chặt
chẽ
khi
TA
tiến
hành
xem
xét
thẩm
định,
định
giá
tài
sản
có
sự
tham
gia
của
KSV
cùng
cấp
để
việc
giải
quyết
vụ
án
được
khách
quan,
đảm
bảo
quyền
lợi
cho
các
đương
sự.
Thực
hiện
nghiêm
Quy
chế
công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ,
việc
dân
sự;
Quy
chế
công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính;
Chỉ
thị
số
10/CT
–
VKSTC
ngày
06/4/2016
của
VKSND
tối
cao
về
tăng
cường
công
tác
kháng
nghị
phúc
thẩm,
giám
đốc
thẩm,
tái
thẩm
các
vụ
việc
dân
sự,
vụ
án
hành
chính;
Kế
hoạch
số
45/KH-VKS-P9
ngày
08/01/2018
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tỉnh
Tuyên
Quang
về
những
giải
pháp
thực
hiện
nhiệm
vụ
trọng
tâm
năm
2018
của
Viện
kiểm
nhân
dân
tỉnh
Tuyên
Quang
trong
lĩnh
vực
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ,
việc
dân
sự,
vụ
án
hành
chính,
kinh
doanh
thương
mại,
lao
động
và
những
việc
khác
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Nâng
cao
ý
thức,
trách
nhiệm
của
Kiểm
sát
viên
tại
các
phiên
tòa,
phiên
họp
cũng
như
kiểm
sát
các
bản
án,
quyết
định
để
kịp
thời
phát
hiện
vi
phạm.
Trong
phạm
vi
chuyên
đề
với
thời
gian
nghiên
cứu
có
hạn,
không
thể
tránh
được
sai
sót,
đồng
thời
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự
năm
2015
mới
được
áp
dụng
nên
việc
triển
khai,
thực
hiện
còn
chưa
được
đồng
bộ,
rất
mong
các
đồng
chí,
đồng
nghiệp
đóng
góp
ý
kiến
để
chuyên
đề
được
hoàn
thiện
hơn.
Hoàng
Văn
Thái.