|
VIỆN
KIỂM
SÁT
NHÂN
DÂN
TỐI
CAO
Số:
28/HD-VKSTC
|
CỘNG
HÒA
XÃ
HỘI
CHỦ
NGHĨA
VIỆT
NAM
Độc
lập
-
Tự
do
-
Hạnh
phúc
Hà
nội,
ngày
20 tháng
06 năm
2014
|
HƯỚNG
DẪN
NHỮNG
NỘI
DUNG
MỚI
CỦA
LUẬT
ĐẤT
ĐAI
NĂM
2013
LIÊN
QUAN
ĐẾN
CÔNG
TÁC
KIỂM
SÁT
GIẢI
QUYẾT
CÁC
VỤ
ÁN
HÀNH
CHÍNH
Thực
hiện
Chỉ
thị
số
01/CT-VKSNDTC
ngày
02/1/2014
của
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
Tối
Cao
về
công
tác
của
Ngành
Kiểm
sát
nhân
dân
năm
2014
trong
đó
có
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính.
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
Tối
Cao
(Vụ
12)
có
trách
nhiệm
“hướng
dẫn
thực
hiện
các
quy
định
mới
của
Luật
đất
đai
năm
2013
liên
quan
đến
việc
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính
về
thu
hồi
đất,
giải
phóng
mặt
bằng,
tái
định
cư…”.
Thực
hiện
Kế
hoạch
số
36/KH-VKSTC-V5
ngày
22/04/2014
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
về
tổ
chức
Hội
nghị
trực
tuyến
triển
khai
thi
hành
Luật
đất
đai
năm
2013,
Vụ
12
phối
hợp
với
Viện
khoa
học
kiểm
sát
xây
dựng
tài
liệu
quán
triệt,
triển
khai
thi
hành
một
số
chương,
điều
của
Luật
đất
đai
năm
2013
và
một
số
Nghị
định
của
Chính
phủ
liên
quan
đến
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính
với
những
nội
dung
cơ
bản
sau:
I.
GIỚI
THIỆU
KHÁI
QUÁT
VỀ
LUẬT
ĐẤT
ĐAI
NĂM
2013
VÀ
CÁC
VĂN
BẢN
HƯỚNG
DẪN
CỦA
CHÍNH
PHỦ.
Luật
đất
đai
năm
2013
có
hiệu
lực
từ
ngày
01
tháng
07
năm
2014
gồm
có
14
chương,
212
Điều,
tăng
7
chương
và 66
Điều,
(Luật
đất
đai
năm
2003
gồm
7
chương,
146
Điều).
Trong
đó
có
8
Chương,
64
Điều
chứa
đựng
những
nội
dung
liên
quan
đến
việc
giải
quyết
khiếu
nại,
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính.
Chính
phủ
đã
ban
hành
05
Nghị
định,
trong
đó
có
03
Nghị
định
liên
quan
đến
quyền
và
trách
nhiệm của
Nhà
nước
đối
với
đất
đai
đó
là:
Nghị
định
số
44/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
quy
định
về
giá
đất;
Nghị
định
số
45/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
quy
định
thu
tiền
sử
dụng
đất;
Nghị
định
số
46/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
quy
định
về
thu
tiền
thuê
đất,
thuê
mặt
bằng
nước.
02
Nghị
định
liên
quan
đến
Quyết
định
hành
chính
và
hành
vi
hành
chính
trong
quản
lý
Nhà
nước
đối
với
đất
đai
đó
là:
Nghị
định
số
43/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
quy
định
chi
tiết
thi
hành
một
số
điều
của
Luật
đất
đai;
Nghị
định
số
47/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
về
bồi
thường
hỗ
trợ
tái
định
cư
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất.
II.
NHỮNG
NỘI
DUNG
MỚI
CỦA
LUẬT
ĐẤT
ĐAI
NĂM
2013
LIÊN
QUAN
ĐẾN
CÔNG
TÁC
KIỂM
SÁT
VIỆC
GIẢI
QUYẾT
VỤ
ÁN
HÀNH
CHÍNH
1.
Quy
định
chung
(Chương
I),
gồm
12
Điều
(từ
Điều
1
đến
Điều
12)
Trong
chương
này
có
một
số
nội
dung
mới
trong
việc
giải
thích
từ
ngữ,
đó
là:
Từ
ngữ
về
việc
nhà
nước
giao
đất
trong
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
có
sự
giải
thích
khác
biệt
so
với
Luật
đất
đai
năm
2003.
-
Luật
đất
đai
năm
2003
(khoản
1,
Điều
4)
giải
thích:
“Nhà
nước
giao
đất
là
việc
Nhà
nước
trao
quyền
sử
dụng
đất
bằng
quyết
định
hành
chính
cho
đối
tượng
có
nhu
cầu
sử
dụng
đất”.
-
Luật
đất
đai
năm
2013
(Khoản
7,
Điều
3)
giải
thích:
“Nhà
nước
giao
quyền
sử
dụng
đất
(sau
đây
gọi
là
Nhà
nước
giao
đất)
là
việc
Nhà
nước
ban
hành
quyết
định
giao
đất
để
trao
quyền
sử
dụng
đất
cho
đối
tượng
có
nhu
cầu
sử
dụng
đất”.
Cùng
trong
Điều
3
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
giải
thích
đầy
đủ,
rõ
nghĩa
và
phù
hợp
với
thực
tế
công
tác
quản
lý,
sử
dụng
đất
đai
hiện
nay
các
từ
ngữ
về:
+Nhà
nước
cho
thuê
quyền
sử
dụng
đất
(Khoản
8);
+
Nhà
nước
công
nhận
quyền
sử
dụng
đất
(Khoản
9);
+
Nhà
nước
thu
hồi
đất
(Khoản
11);
+
Bồi
thường
về
đất
(Khoản
12),
Hỗ
trợ
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
(Khoản
14)
v.v…
Đây
là
những
nội
dung
mới
cần
chú
ý
khi
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
vụ
án
hành
chính,
vì
có
hiểu
đúng
bản
chất,
nội
hàm
của
các
quy
định
này
thì
mới
vận
dụng
đúng,
nhất
là
công
tác
phân
loại,
xác
định
đối
tượng
khởi
kiện
của
vụ
án
hành
chính
(các
quyết
định
hành
chính
của
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
trong
quản
lý
nhà
nước
về
đất
đai).
2.
Một
số
quy
định
cụ
thể
của
Luật
đất
đai
và
hướng
dẫn
của
Chính
phủ
liên
quan
đến
Quyết
định
hành
chính,
hành
vi
hành
chính
trong
quản
lý
Nhà
nước
về
đất
đai.
2.1.
Về
quyền
trách
nhiệm
của
Nhà
nước
đối
với
đất
đai.
*
Chương
II
Luật
đất
đai,
gồm
02
mục
với
16
Điều
(từ
Điều
13
đến
Điều
28).
Các
Nghị
định:
Nghị
định
số
43/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
quy
định
chi
tiết
thi
hành
một
số
điều
của
Luật
đất
đai;
Nghị
định
số
44/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
quy
định
về
giá
đất;Nghị
định
số
45/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
quy
định
thu
tiền
sử
dụng
đất;
Nghị
định
số
46/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
quy
định
về
thu
tiền
thuê
đất,
thuê
mặt
bằng
nước
Khác
với
Luật
đất
đai
năm
2003
khi
quyền
và
trách
nhiệm
của
Nhà
nước
đối
với
đất
đai
được
quy
định
và
sắp
xếp
rải
rác
ở
các
điều,
chương
khác
nhau
(Điều
5,
6,
7
và
mục
8
Chương
II)
và
không
quy
định
chi
tiết,
cụ
thể
các
quyền
cũng
như
trách
nhiệm
của
Nhà
nước
đối
với
đất
đai.
Để
khắc
phục
hạn
chế
nêu
trên,
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định
về
quyền
và
trách
nhiệm
của
Nhà
nước
đối
với
đất
đai
được
xây
dựng
chi
tiết,
cụ
thể
và
thiết
kế
thành
một
chương
độc
lập
gồm
16
điều
(từ
Điều
13
đến
Điều
28
Chương
II),
có
một
số
nội
dụng
mới
cần
chú
ý
khi
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
như
sau:
-
Về
quyền
của
Nhà
nước
đối
với
đất
đai
quy
định
cụ
thể
tại
Điều
13
bao
gồm
8
quyền
của
đại
diện
chủ
sở
hữu
về
đất
đai:
+
Quyết
định
quy
hoạch
sử
dụng
đất,
kế
hoạch
sử
dụng
đất
(kèm
theo
quy
định
chi
tiết
tại
chương
3
Nghị
định
43/NĐ-CP
nêu
trên).
(1)
+
Quyết
định
mục
đích
sử
dụng
đất.
(2)
+
Quy
định
hạn
mức
sử
dụng
đất,
thời
hạn
sử
dụng
đất.
(3)
+
Quyết
định
thu
hồi
đất,
trưng
dụng
đất
(kèm
theo
quy
định
chi
tiết
tại
Điều
17,
chương
4
Nghị
định
43/NĐ-CP
nêu
trên
về
thông
báo
thu
hồi
đất,
thành
phần
ban
thực
hiện
cưỡng
chế
thu
hồi
đất,
kinh
phí
cưỡng
chế
thu
hồi
đất).
(4)
+
Quyết
định
giá
đất
(kèm
theo
hướng
dẫn
chi
tiết
tại
Nghị
định
44/NĐ-CP
nêu
trên).
(5)
+
Quyết
định
trao
quyền
sử
dụng
đất
cho
người
sử
dụng
đất.
(6)
+
Quyết
định
chính
sách
tài
chính
về
đất
đai
(thu
và
miễn
giảm
tiền
sử
dụng
đất
được
quy
định
chi
tiết
tại
Nghị
định
45/NĐ-CP
nêu
trên
và
Nghị
định
46/NĐ-CP
nêu
trên).
(7)
+
Quy
định
quyền
và
nghĩa
vụ
của
người
sử
dụng
đất.
(8)
Lưu
ý,
khi
Nhà
nước
thực
hiện
các
quyền
về
Quyết
định
thu
hồi
đất,
trưng
dụng
đất;
Quyết
định
giá
đất;
Quyết
định
trao
quyền
sử
dụng
đất
cho
người
sử
dụng
đất…
là
việc
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
ban
hành
các
quyết
định
hành
chính
trong
quản
lý
đất
đai,
là
một
trong
những
đối
tượng
khởi
kiện
vụ
án
hành
chính
tại
Tòa
án.
-
Về
trách
nhiệm
của
Nhà
nước
trong
nội
dung
quản
lý
nhà
nước
về
đất
đai
quy
định
tại
Điều
22
Luật
đất
đai
năm
2013
bao
gồm
15
nội
dung,
tăng
thêm
05
nội
dung
bỏ
một
nội
dung
so
với
Điều
6
Luật
đất
đai
năm
2003.
Trong
đó
nội
dung
quan
trọng,
liên
quan
trực
tiếp
đến
vấn
đề
dễ
phát
sinh
khiếu
nại,
tố
cáo
trong
quản
lý
và
sử
dụng
đất
đai;
khởi
kiện
vụ
án
hành
chính,
đó
là
Quản
lý
việc
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
khi
thu
hồi
đất
(Khoản
6)
và
Quản
lý
tài
chính
về
đất
đai
và
giá
đất
(Khoản
10).
2.2.
Về
giao
đất,
cho
thuê
đất,
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
(Chương
V),
gồm
9
Điều
(từ
Điều
52
đến
Điều
60)
và
Chương
IV
Nghị
định
số
43/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
của
Chính
phủ.
Quy
định
về
giao
đất,
cho
thuê
đất,
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
được
quy
định
cụ
thể
trong
7
Điều
của
Mục
3,
Chương
II
Luật
đất
đai
năm
2003,
trong
Luật
đất
đai
năm
2013
được
quy
định
chi
tiết,
cụ
thể
trong
9
Điều
của
Chương
V.
Một
số
nội
dung
mới
cần
chú
ý
quan
tâm
nghiên
cứu,
vận
dụng
khi
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
là:
-
Về
thẩm
quyền
giao
đất,
cho
thuê
đất,
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất:
+
Điều
59
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định
UBND
cấp
tỉnh,
UBND
cấp
huyện
đều
có
quyền
quyết
định
giao
đất
trong
việc
giao
đất,
cho
thuê
đất,
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đấtnhưng
đối
tượngcụ
thể
có
khác
nhau
ví
dụ
như
đối
với
UBND
cấp
tỉnh
giao
đất,
cho
thuê
đất,
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
cho
các
tổ
chức,
các
cơ
sở
tôn
giáo,
cơ
quan
tổ
chức
nước
ngoài,
cơ
quan
ngoại
giao;
UBND
cấp
huyện
là
những
đối
tượng
còn
lại,
còn
UBND
xã
cũng
có
quyền
cho
thuê
đất
nhưng
chỉ
đối
với
đất
nông
nghiệp
sử
dụng
vào
mục
đích
công
ích
của
xã,
vì
thế
cần
xem
xét
việc
thực
hiện
thẩm
quyền
này
của
UBND
các
cấp
trong
việc
tuân
thủ
quy
định
của
pháp
luật
khi
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát;
+Việc
quyết
định
giao
đất,
cho
thuê
đất
đối
với
đất
đang
có
người
sử
dụng
cho
người
khác
theo
quy
định
tại
Điều
32
Luật
đất
đai
năm
2003
thì
chỉ
được
thực
hiện
sau
khi
có
quyết
định
thu
hồi
đất
đất
đó.
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
bổ
sung
đầy
đủ,
rõ
ràng
hơn
tại
Điều
53:
Việc
Nhà
nước
quyết
định
giao
đất,
cho
thuê
đất
đối
với
đất
đang
có
người
sử
dụng
cho
người
khác
chỉ
được
thực
hiện
sau
khi
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
quyết
định
thu
hồi
đất
theo
quy
định
của
Luật
này
và
phải
thực
hiện
xong
việc
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
theo
quy
định
của
pháp
luật
đối
với
trường
hợp
phải
giải
phóng
mặt
bằng.
Quy
định
này
yêu
cầu
khi
Nhà
nước
quyết
định
giao
đất,
cho
thuê
đất
đối
với
đất
đang
có
người
sử
dụng
cho
người
khác
thì
phải
đảm
bảo
có
đủ
điều
kiện
về
việc
có
quyết
định
thu
hồi
đất
của
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
và
diện
tích
đất
đó
đã
thực
hiện
xong
việc
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Ngoài
ra
Điều
14
chương
IV
Nghị
định
43/NĐ-CP
nêu
trên
quy
định
chi
tiết
về
điều
kiện
đối
với
người
được
Nhà
nước
giao
đất,
cho
thuê
đất,
cho
phép
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
để
thực
hiện
dự
án
đầu
tư.
-
Về
căn
cứ
giao
đất,
cho
thuê
đất,
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất:
Điều
52
Luật
đất
đai
quy
định
cụ
thể
việc
giao
đất,
cho
thuê
đất,
cho
phép
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
phải
căn
cứ
vào
Kế
hoạch
sử
dụng
đất
hàng
năm
cấp
huyện,
quy
định
mới
này
góp
phần
quản
lý
chặt
chẽ
hơn
việc
UBND
cấp
có
thẩm
quyền
quyết
định
giao
đất,
cho
thuê
đất,
cho
phép
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất.
Vì
thế,
Khoản
4,
Điều
40
quy
định:
Nội
dung
kế
hoạch
sử
dụng
đất
hàng
năm
của
cấp
huyện
phải
xác
định
vị
trí,
diện
tích
đất
phải
thu
hồi
để
thực
hiện
công
trình,
dự
án
sử
dụng
đất
vào
mục
đích
quy
định
tại
Điều
61
và
Điều
62
của
luật
này
trong
năm
kế
hoạch
đến
từng
đơn
vị
hành
chính
cấp
xã.
Đối
với
dự
án
hạ
tầng
kỹ
thuật,
xây
dựng,
chỉnh
trang
đô
thị,
khu
dân
cư
nông
thôn
thì
phải
đồng
thời
xác
định
vị
trí,
diện
tích
đất
thu
hồi
trong
vùng
phụ
cận
để
đấu
giá
quyền
sử
dụng
đất
thực
hiện
dự
án
nhà
ở,
thương
mại,
dịch
vụ,
sản
xuất,
kinh
doanh
(Điểm
c,
Khoản
4,
Điều
40)
và
lập
bản
đồ
kế
hoạch
sử
dụng
đất
hàng
năm
của
cấp
huyện
(Điểm
đ,
Khoản
4,
Điều
40)
nhằm
đảm
bảo
đủ
căn
cứ
để
giao
đất,
cho
thuê
đất,
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất.
Ngoài
ra,
một
trong
những
căn
cứ
thu
hồi
đất
vì
mục
đích
quốc
phòng,
an
ninh;
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
vì
lợi
ích
quốc
gia,
công
cộng
quy
định
tại
Khoản
2,
Điều
63
là
Kế
hoạch
sử
dụng
đất
hàng
năm
của
cấp
huyện
đã
được
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
phê
duyệt.
Điểm
cần
chú
ý
khi
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
làtoàn
bộ
các
quyết
định
của
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
về
giao
đất,
cho
thuê
đất,
cho
phép
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất,
thu
hồi
đất
phải
căn
cứ
Kế
hoạch
sử
dụng
đất
hàng
năm
của
cấp
huyện
đã
được
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
phê
duyệt.
-
Về
đối
tượng
được
giao
đất,
cho
thuê
đất,
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
được
quy
định
cụ
thể
tại
Điều
59
Luật
đất
đai
năm
2013
gồm
hộ
gia
đình,
cá
nhân,
cộng
đồng
dân
cư,
các
tổ
chức,
cơ
sở
tôn
giáo,
người
Việt
Nam
định
cư
ở
nước
ngoài,
doanh
nghiệp
có
vốn
đầu
tư
nước
ngoài,
tổ
chức
nước
ngoài
có
chức
năng
ngoại
giao…,
vì
thế
cần
xem
xét
đầy
đủ
các
tiêu
chuẩn,
điều
kiện,
quy
định
của
pháp
luật
đối
với
các
đối
tượng
được
giao
đất,
cho
thuê
đất,
cho
phép
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
trong
quá
trình
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát;
-
Ngoài
quy
định
về
giao
đất
không
thu
tiền
sử
dụng
đất
(Điều
54),
giao
đất
có
thu
tiền
sử
dụng
đất
(Điều
55),
cho
thuê
đất
(
Điều
56),
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
(Điều
57),
thẩm
quyền
giao
đất,
cho
thuê
đất,
cho
phép
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
(Điều
59),
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
bổ
sung
quy
định
về
điều
kiện
được
giao
đất,
cho
thuê
đất,
cho
phép
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
để
thực
hiện
dự
án
đầu
tư
(Điều
58)
và
xử
lý
trường
hợp
giao
đất,
cho
thuê
đất
trước
ngày
Luật
này
có
hiệu
lực
(Điều
60).
2.3.
Về
đăng
ký
đất
đai,
cấp
Giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
quyền
sở
hữu
nhà
ở
và
tài
sản
gắn
liền
với
đất
(chương
VII),
gồm
92
mục
với
12
Điều,
(từ
Điều
95
đến
Điều
106)
và
Chương
V
Nghị
định
số
43/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
của
Chính
phủ.
Một
trong
những
điểm
mới
quan
trọng
của
Luật
Đất
đai
năm
2013
là
những
quy
định
về
cấp
giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
quyền
sở
hữu
nhà
ở
và
tài
sản
khác
gắn
liền
với
đất. Khi
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
cần
chú
ý
một
số
nội
dung
sau:
-
Về
thẩm
quyền
cấp
Giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
quyền
sở
hữu
nhà
ở
và
tài
sản
khác
gắn
liền
với
đất,
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định
rõ:
UBND
cấp
tỉnh
cấp
giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
quyền
sở
hữu
nhà
ở
và
tài
sản
khác
gắn
liền
với
đất
cho
tổ
chức,
cơ
sở
tôn
giáo,
người
Việt
Nam
định
cư
ở
nước
ngoài,
doanh
nghiệp
có
vốn
đầu
tư
nước
ngoài
thực
hiện
dự
án
đầu
tư,
tổ
chức
nước
ngoài
có
chức
năng
ngoại
giao.
Bổ
sung
quy
định:
UBND
cấp
tỉnh
được
ủy
quyền
cho
cơ
quan
tài
nguyên
và
môi
trường
cùng
cấp
cấp
Giấy
chứng
nhận
và
cơ
quan
tài
nguyên
và
môi
trường
có
thẩm
quyền
cấp
Giấy
chứng
nhận
đối
với
trường
hợp
đã
có
Giấy
chứng
nhận
mà
thực
hiện
các
quyền
hoặc
cấp
đổi,
cấp
lại
Giấy
chứng
nhận;
UBND
cấp
huyện
cấp
Giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
quyền
sở
hữu
nhà
ở
và
tài
sản
khác
gắn
liền
với
đất
cho
hộ
gia
đình,
cá
nhân
cộng
đồng
dân
cư,
người
Việt
Nam
định
cư
ở
nước
ngoài
được
sở
hữu
nhà
ở
gắn
liền
với
quyền
sử
dụng
đất
ở
tại
Việt
Nam
(Điều
105);
(kèm
theo
quy
định
chi
tiết
tại
chương
5
Nghị
định
43/NĐ-CP
nêu
trên.
-
Luật
đất
đai
năm
2013
bổ
sung
quy
định
về
các
trường
hợp
đăng
ký
lần
đầu,
đăng
ký
biến
động,
đăng
ký
đất
đai
bằng
hình
thức
đăng
ký
trên
giấy
hoặc
trên
mạng điện
tử
và
có
giá
trị
pháp
lý
như
nhau
(Khoản
2,
Điều
95);
bổ
sung
quy
định
trường
hợp
quyền
sử
dụng
đất,
quyền
sở
hữu
nhà
ở
và
tài
sản
khác
gắn
liền
với
đất
là
tài
sản
chung
của
nhiều
người
thì
cấp
mỗi
người
một
giấy
chứng
nhận,
hoặc
cấp
chung
một
sổ
đỏ
và
trao
cho
người
đại
diện.
Tuy
nhiên,
giấy
chứng
nhận
phải
ghi
đầy
đủ
tên
của
những
người
có
chung
quyền
sử
dụng
đất,
nhà
ở
hay
tài
sản
gắn
liền
với
đất
(Khoản
2,
Điều
98).
-
Trường
hợp
đất
là
tài
sản
chung
của
vợ
chồng
thì
giấy
chứng
nhận
ghi
cả
họ,
tên
vợ
và
họ,
tên
chồng
(trừ
trường
hợp
vợ,
chồng
có
thỏa
thuận
ghi
tên
một
người).
Nếu
giấy
chứng
nhận
đã
cấp
chỉ
ghi
họ,
tên
của
vợ
hoặc
chồng
thì
được
cấp
đổi
sang
giấy
chứng
nhận
mới
để
ghi
cả
họ,
tên
vợ
và
họ,
tên
chồng
nếu
có
nhu
cầu
(Khoản
4,
Điều
98).
-
Luật
Đất
đai
năm
2013
cũng
quy
định
cụ
thể
hơn
những
trường
hợp
cấp
giấy
chứng
nhận
cho
hộ
gia
đình,
cá
nhân,
cộng
đồng
dân
cư
đang
sử
dụng
đất
có
và
không
có
các
giấy
tờ
về
quyền
sử
dụng
đất
(Điều
100,
101).
Mặc
dù
Luật
Đất
đai
năm
2013
quy
định
“cấp
giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
quyền
sở
hữu
nhà
ở
và
tài
sản
khác
gắn
liền
với
đất
được
cấp
theo
từng
thửa
đất”
nhưng
nếu
người
sử
dụng
đất
đang
sử
dụng
nhiều
thửa
đất
nông
nghiệp
tại
cùng
một
xã,
phường,
thị
trấn
mà
có
yêu
cầu
thì
được
cấp
một
giấy
chứng
nhận
chung
cho
các
thửa
đất
đó.
-
Một
điểm
mới
khác
liên
quan
đến
đình,
đền,
miếu,
am,
từ
đường,
nhà
thờ
họ
được
UBND
cấp
xã
xác
nhận
là
đất
sử
dụng
chung
cho
cộng
đồng
dân
cư,
thì
được
cấp
giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
quyền
sở
hữu
nhà
ở
và
tài
sản
khác
gắn
liền
với
đất.
-
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định
về
những
trường
hợp
có
thể
cấp
giấy
chứng
nhận
ngay
cả
khi
không
có
giấy
tờ
về
quyền
sử
dụng
đất.
Theo
đó,
những
hộ
gia
đình,
cá
nhân
đang
sử
dụng
đất
trước
ngày
Luật
có
hiệu
lực
thi
hành
mà
không
có
các
giấy
tờ
Luật
quy
định
vẫn
được
cấp
giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
quyền
sở
hữu
nhà
ở
và
tài
sản
khác
gắn
liền
với
đất
và
không
phải
nộp
tiền
sử
dụng
đất.
Đối
với
hộ
gia
đình,
cá
nhân
đang
sử
dụng
đất
không
có
các
giấy
tờ
theo
quy
định
nhưng
đất
đã
được
sử
dụng
ổn
định
từ
trước
ngày
1/7/2004
và
không
vi
phạm
pháp
luật
về
đất
đai,
nay
được
UBND
cấp
xã
xác
nhận
là
đất
phù
hợp
với
quy
hoạch
sử
dụng
sẽ
được
cấp
giấy
chứng
nhận
(Điều
101).
-
Về
đính
chính,
thu
hồi
Giấy
chứng
nhận
đã
cấp:
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định
Cơ
quan
có
thẩm
quyền
đính
chính,
thu
hồi
là
cơ
quan
có
thẩm
quyền
cấp
Giấy
chứng
nhận;
bổ
sung
quy
định
không
thu
hồi
Giấy
chứng
nhận
đã
cấp
trái
pháp
luật
trong
trường
hợp
người
được
cấp
Giấy
chứng
nhận
đó
đã
thực
hiện
chuyển
quyền
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
đất
đai
(Điều
106).
Lưu
ý:
Khi
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
cần
chú
ý
việc
chấp
hành
quy
định
về
thủ
tục
hành
chính
về
đất
đai
(Đặc
biệt
là
việc
chấp
hành
về
trình
tự,
thủ
tục,
hồ
sơ,
các
quyết
định
giải
quyết)
của
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
và
của
người
sử
dụng
đất
trong
việc
đăng
ký
đất
đai,
cấp
Giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
quyền
sở
hữu
nhà
ở
và
tài
sản
gắn
liền
với
đất;
đính
chính,
thu
hồi
Giấy
chứng
nhận
đã
cấp.
2.4.
Quy
định
tài
chính
về
đất
đai,
giá
đất
và
đấu
giá
quyền
sử
dụng
đất
(Chương
VIII),
gồm
03
mục
với
13
Điều
(từ
Điều
107
đến
Điều
119)
và
Nghị
định
số
44/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
của
Chính
phủ.
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
tiếp
cận
và thể hiện đầy
đủ
về
vấn
đề
tài
chính
đất
đai
theo
cơ
chế
thị
trường
định
hướng
xã
hội
chủ
nghĩa
có
sự
quản
lý
của
Nhà
nước,
đồng
thời
đảm
bảo
quyền
lợi
của
người
sử
dụng
đất,
quyền
lợi
của
Nhà
nước,
chủ
đầu
tư
và
đảm
bảo
ổn
định
xã
hội;
phù
hợp
với
quá
trình
thực
hiện
sự
nghiệp
công
nghiệp
hóa,
hiện
đại
hóa
đất
nước.
Trong
phần
này,
khi
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
cần
chú
ý
các
nội
dung
về
giá
đất,
theo
đó,
nguyên
tắc
định
giá
đất
phải
theo
mục
đích sử
dụng
đất hợp
pháp
tại
thời
điểm
định
giá,
theo
thời
hạn
sử
dụng
đất;
phù
hợp
với
giá
đất
phổ
biến
trên
thị
trường
của
loại
đất
có
cùng
mục
đích
sử
dụng
đã
chuyển
nhượng;
giá
trúng
đấu
giá
quyền
sử
dụng
đất
đối
với
những
nơi
có
đấu
giá
quyền
sử
dụng
đất
hoặc
thu
nhập
từ
việc
sử
dụng
đất;
Cùng
một
thời
điểm,
các
thửa
đất
liền
kề
nhau
có
cùng
mục
đích
sử
dụng,
khả
năng
sinh
lợi,
thu
nhập
từ
việc
sử
dụng
đất
tương
tự
như
nhau
thì
có
mức
giá
như
nhau
(Khoản
1
Điều
112).
Bổ
sung
quy
định
về
cơ
quan
xây
dựng,
cơ
quan
thẩm
định
giá
đất,
vị
trí
của
tư
vấn
giá
đất
trong
việc
xác
định
giá
đất,
thẩm
định
giá
đất
và
việc
thuê
tư
vấn
để
xác
định
giá
đất
cụ
thể
(Điều
115,
116).
-
Về
khung
giá
đất
do
Chính
phủ
ban
hành,
định
kỳ
05
năm
một
lần
đối
với
từng
loại
đất,
theo
từng
vùng
và
công
bố
công
khai
vào
ngày
01/01
của
năm
đầu
kỳ;
Trong
thời
gian
thực
hiện
khung
giá
đất
mà
giá
đất
phổ
biến
trên
thị
trường
tăng
từ
20%
trở
lên
so
với
giá
tối
đa
hoặc
giảm
từ
20%
trở
lên
so
với
giá
tối
thiểu
trong
khung
giá
đất
trong
khoảng
thời
gian
từ
180
ngày
trở
lên
thì
Chính
phủ
điều
chỉnh
khung
giá
đất
cho
phù
hợp
(Điều
113).
(kèm
theo
quy
định
chi
tiết
tại
mục
1
chương
2
Nghị
định
số
44/2014/NĐ
–
CP)
-
Về
bảng
giá
đất
và
giá
đất
cụ
thể,
Luật
Đất
đai
năm
2013
quy
định
bảng
giá
đất
được
xây
dựng
định
kỳ
5
năm
một
lần
và
công
bố
công
khai
vào
ngày
01/01
của
năm
đầu
kỳ
(kèm
theo
quy
định
chi
tiết
tại
mục
2,
chương
2
Nghị
định
44/NĐ-CP
nêu
trên)
đã
khắc
phục
việc
Luật
Đất
đai
năm
2003
chưa
quy
định
giá
đất
cụ
thể,
trong
quá
trình
vận
hành
không
những
gây
thất
thu
cho
ngân
sách
nhà
nước
mà
còn
là
nguyên
nhân
phát
sinh
khiếu
nại
của
người
bị
thu
hồi
đất
do
giá
đất
tính
thu
tiền
sử
dụng
đất,
thu
tiền
thuê
đất,
giá
tính
bồi
thường
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
đều
áp
dụng
theo
bảng
giá
đất
mà
mức
giá
đất
trong
bảng
giá
luôn
luôn
thấp
do
không
theo
kịp
với
giá
thị
trường,
Vì
vậy,
Luật
Đất
đai
năm
2013
đã
bổ
sung
quy
định
về
việc
xác
định
và
áp
dụng
giá
đất
cụ
thể,
trong
đó
có
trường
hợp
để
tính
tiền
bồi
thường
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất.
Đây
là
nội
dung
cần
chú
ý
nghiên
cứu,
vận
dụng
vì
giá
đất
để
áp
dụng
khi
tính
tiền
sử
dụng
đất,
tiền
thuê
đất,
tính
tiền
bồi
thường
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
thường
là
một
trong
những
đối
tượng
dễ
phát
sinh
khiếu
nại
và
khởi
kiện.
2.5.
Về
thu
hồi
đất,
trưng
dụng
đất,
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
(Chương
VI), gồm
03
mục
với
34
Điều
(từ
Điều
61
đến
Điều
94).
Chương
4
Nghị
định
43/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014.(Chương
4,
Điều
17
Nghị
định
43/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
thông
báo
thu
hồi
đất);
Nghị
định
số
47/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014.
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
quy
định
cụ
thể
và
đầy
đủ
từ
việc
thu
hồi
đất,
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
đảm
bảo
một
cách
công
khai,
minh
bạch
và
quyền
lợi
của
người
có
đất
thu
hồi
nhằm
khắc
phục,
loại
bỏ
những
trường
hợp
thu
hồi
đất
làm
ảnh
hưởng
đến
quyền
và
lợi
ích
của
người
sử
dụng
đất,
đồng
thời
khắc
phục
một
cách
có
hiệu
quả
những
trường
hợp
thu
hồi
đất
mà
không
đưa
vào
sử
dụng,
gây
lãng
phí,
tạo
dư
luận
xấu
trong
xã
hội.
a)
Quy
định
về
thu
hồi
đất,
trưng
dụng
đất
(mục
1,
chương
VI)
và
Điều
17
Chương
4
Nghị
định
43/2014/NĐ-CP.
*Về
mục
đích
thu
hồi
đất:
Khác
với
Luật
đất
đai
năm
2003,
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định
cụ
thể
4
trường
hợp
thu
hồi
đất,
gồm:
Thu
hồi
đất
vì
mục
đích
quốc
phòng,
an
ninh;
Thu
hồi
đất
để
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
vì
lợi
ích
quốc
gia,
công
cộng;
Thu
hồi
đất
do
vi
phạm
pháp
luật
về
đất
đai;
Thu
hồi
đất
do
chấm
dứt
việc
sử
dụng
đất
theo
pháp
luật,
tự
nguyện
trả
lại
đất,
có
nguy
cơ
đe
dọa
tính
mạng
con
người.
-
Về
thẩm
quyền
thu
hồi
đất
được
Điều
66
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định
chi
tiết
các
trường
hợp
thuộc
thẩm
quyền
của
UBND
cấp
tỉnh
và
UBND
cấp
huyện.
Tuy
nhiên,
để
cải
cách
thủ
tục
hành
chính
khi
thực
hiện
các
dự
án,
đã
bổ
sung
thẩm
quyền
của
UBND
cấp
tỉnh
quyết
định
thu
hồi
đất
đối
với
trường
hợp
khu
đất
thu
hồi
có
cả
tổ
chức
và
hộ
gia
đình,
cá
nhân
đang
sử
dụng
đất.
-
Khắc
phục
những
bất
cập
của
Luật
đất
đai
năm
2003,
việc
thu
hồi
đất
chỉ
được
quy
định
chung
chung
là:
thu
hồi
đất
để
sử
dụng
vào
mục
đích
quốc
phòng,
an
ninh,
lợi
ích
quốc
gia,
lợi
ích
công
cộng
(Điều
39),
thu
hồi
đất
để
sử
dụng
vào
mục
đích
phát
triển
kinh
tế
(Điều
40).
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
luật
hóa,
quy
định
cụ
thể
trong
điều
luật
(Điều
61)
có
10
(mười)
trường
hợp
thu
hồi
đất
vì
mục
đích
quốc
phòng,
an
ninh,
chủ
yếu
là
để
xây
dựng
các
công
trình
đảm
bảo
phục
vụ
cho
hoạt
động
của
lực
lượng
vũ
trang
nhân
dân.
-
Điều
62
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định:
Nhà
nước
chỉ
thu
hồi
đất
với
các
dự
án
quan
trọng
quốc
gia
do
Quốc
hội
quyết
định
chủ
trương
đầu
tư
mà
phải
thu
hồi
đất
(Khoản
1);
Các
dự
án
do
Thủ
tướng
Chính
phủ
chấp
thuận,
quyết
định
đầu
tư
mà
phải
thu
hồi
đất
(quy
định
chi
tiết
tại
các
điểm
a,
b,
c
Khoản
2);
Các
dự
án
do
Hội
đồng
nhân
dân
cấp
tỉnh
chấp
thuận
mà
phải
thu
hồi
đất
(quy
định
chi
tiết
tại
các
điểm
a,
b,
c,
d,
đ
Khoản
3);
-
Khoản
1,
Điều
64
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
quy
định
cụ
thể
9
trường
hợp
thu
hồi
đất
do
vi
phạm
pháp
luật
về
đất
đai,
trong
đó
có
3
trường
hợp
cần
lưu
ý
là
có
vi
phạm
pháp
luật
về
đất
đai,
nhưng
phải
trong
trường
hợp
đã
bị
xử
phạt
vi
phạm
hành
chính
mà
tiếp
tục
vi
phạm
hoặc
không
chấp
hành
thì
Nhà
nước
mới
thu
hồi
đất:
+
Sử
dụng
đất
không
đúng
mục
đích
đã
được
Nhà
nước
giao,
cho
thuê,
công
nhận
quyền
sử
dụng
đất
và
đã
bị
xử
phạt
vi
phạm
hành
chính
về
hành
vi
sử
dụng
đất
không
đúng
mục
đích
mà
tiếp
tục
vi
phạm
(Điểm
a,
Khoản1);
+
Người
sử
dụng
đất
không
thực
hiện
nghĩa
vụ
đối
với
Nhà
nước
và
đã
bị
xử
phạt
vi
phạm
hành
chính
mà
không
chấp
hành
(Điểm
g,
Khoản
1);
+
Đặc
biệt
đối
với
trường
hợp
không
đưa
đất
đã
được
giao,
cho
thuê
vào
sử
dụng
hoặc
chậm
đưa
đất
vào
sử
dụng,
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định
chế
tài
mạnh
để
xử
lý
đối
với
các
trường
hợp
này
(Điểm
i,
Khoản
1)
.
Việc
thu
hồi
đất
do
vi
phạm
pháp
luật
về
đất
đai
phải
căn
cứ
vào
văn
bản,
quyết
định
của
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
xác
định
hành
vi
vi
phạm
pháp
luật
về
đất
đai.
-
Khoản
1,
Điều
65
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
quy
định
cụ
thể
6
trường
hợp
thu
hồi
đất
do
chấm
dứt
việc
sử
dụng
đất
theo
pháp
luật,
tự
nguyện
trả
lại
đất,
có
nguy
cơ
đe
dọa
tính
mạng
con
người.
*
Về
trưng
dụng
đất.
Những
nội
dung
quy
định
về
trưng
dụng
đất
(Điều
72
Luật
đất
đai
năm
2013)
trong
trường
hợp
cần
thiết
để
thực
hiện
nhiệm
vụ
quốc
phòng,
an
ninh,
chiến
tranh
và
phòng
chống
thiên
tai
có
một
số
nội
dung
mới
cần
chú
ý:
-
Quyết
định
trưng
dụng
đất
phải
được
thể
hiện
bằng
văn
bản;
(Điều
67
Nghị
định
số
43/NĐ
-
CP
ngày
15/05/2014
của
Chính
phủ
quy
định
chi
tiết
thi
hành
một
số
điều
của
Luật
đất
đai
hướng
dẫn
nội
dung
này
như
sau:
Quyết
định
trưng
dụng
đất,
văn
bản
xác
nhận
việc
trưng
dụng
đất
gồm
các
nội
dung
chủ
yếu
là:
Họ
tên,
chức
vụ,
đơn
vị
công
tác
của
người
quyết
định
trưng
dụng
đất;
tên,
địa
chỉ
của
người
có
đất
trưng
dụng
hoặc
người
đang
quản
lý,
sử
dụng
đất
trưng
dụng;
tên,
địa
chỉ
của
tổ
chức,
họ
tên
và
địa
chỉ
người
được
giao
đất
trưng
dụng;
mục
đích,
thời
hạn
trưng
dụng
đất;
vị
trí,
diện
tích,
loại
đất,
tài
sản
gắn
liền
với
đất
trưng
dụng;
thời
gian
bàn
giao
đất
trưng
dụng.
Và
khi
có
thiệt
hại
do
thực
hiện
trưng
dụng
đất
gây
ra
thì
Chủ
tịch
UBND
cấp
tỉnh,
cấp
huyện
nơi
có
đất
trưng
dụng
thành
lập
Hội
đồng
để
xác
định
mức
bồi
thường
thiệt
hại,
trong
thành
phần
tham
gia
Hội
đồng
có
đại
diện
Tòa
án
nhân
dân
và
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cấp
huyện
nơi
có
đất
trưng
dụng.)
-
Trường
hợp
khẩn
cấp
không
thể
ra
quyết
định
bằng
văn
bản
thì
người
có
thẩm
quyền
được
quyết
định
trưng
dụng
đất
bằng
lời
nói
nhưng
phải
viết
giấy
xác
nhận
việc
trưng
dụng
đất
ngay
tại
thời
điểm
trưng
dụng;
-
Người
có
thẩm
quyền
trưng
dụng
đất
không
được
phân
cấp
thẩm
quyền
cho
người
khác,
thực
hiện
việc
bồi
thường
thiệt
hại
do
trưng
dụng
đất
gây
ra.
*
Trình
tự,
thủ
tục
thu
hồi
đất
(quy
định
tại
các
Điều
67,
68,
69,
70,
71)
Luật
đất
đai
năm
2003
không
quy
định
chi
tiết
trong
các
điều
luật
về
trình
tự,
thủ
tục
thu
hồi
đất,
mà
trình
tự,
thủ
tục
thu
hồi
đất
được
quy
định,
hướng
dẫn
trong
các
Nghị
định
số
181/2004/NĐ-CP
ngày
29/10/2004
và
Nghị
định
số
69/2009/NĐ-CP
ngày
13/08/2009
của
Chính
phủ.
Để
thuận
lợi
cho
việc
thực
hiện
các
trình
tự,
thủ
tục
thu
hồi
đất
vì
mục
đích
quốc
phòng,
an
ninh;
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
vì
lợi
ích
quốc
gia,
công
cộng
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
luật
hóa
và
quy
định
chi
tiết,
cụ
thể
trong
các
điều
luật
về
trình
tự,
thủ
tục
thu
hồi
đất.
Một
số
nội
dung
cần
chú
ý
khi
triển
khai,
vận
dụng
trong
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
vụ
án
hành
chính:
-
Về
thẩm
quyền
thu
hồi
đất:
Về
cơ
bản
thẩm
quyền
thu
hồi
đất
được
kế
thừa
quy
định
của
Luật
đất
đai
năm
2003,
tuy
nhiên
Điều
66
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
sửa
đổi
một
số
nội
dung,
trong
đó
quy
định
UBND
cấp
tỉnh
quyết
định
thu
hồi
đất
đối
với
trường
hợp
khu
đất
thu
hồi
có
cả
tổ
chức
và
hộ
gia
đình,
cá
nhân
đang
sử
dụng
đất.
-
Tổ
chức
làm
nhiệm
vụ
bồi
thường,
giải
phóng
mặt
bằng
gồm
tổ
chức
dịch
vụ
công
về
đất
đai,
Hội
đồng
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
(Khoản
1,
Điều
68);
-
UBND
cấp
có
thẩm
quyền
thu
hồi
đất
ban
hành
thông
báo
thu
hồi
đất,
thông
báo
này
được
gửi
đến
từng
người
có
đất
thu
hồi,
niêm
yết
tại
trụ
sở
UBND
cấp
xã,
địa
điểm
sinh
hoạt
chung
của
khu
dân
cư
nơi
có
đất
thu
hồi.
(Điều
17
Nghị
định
số
43/NĐ
-
CP
ngày
15/05/2014
của
Chính
phủ
quy
định
chi
tiết
thi
hành
một
số
điều
của
Luật
đất
đai
hướng
dẫn
nội
dung
này
như
sau:
Thông
báo
thu
hồi
đất
bao
gồm
các
nội
dung:
+
Lý
do
thu
hồi
đất;
+
diện
tích,
vị
trí
khu
đất
thu
hồi
trên
cơ
sở
hồ
sơ
địa
chính
hiện
có
hoặc
quy
hoạch
chi
tiết
xây
dựng
được
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
phê
duyệt;
trường
hợp
thu
hồi
đất
theo
tiến
độ
thực
hiện
dự
án
thì
ghi
rõ
tiến
độ
thu
hồi
đất;
+
Kế
hoạch
điều
tra,
khảo
sát,
đo
đạc,
kiểm
đếm;
+
Dự
kiến
về
kế
hoạch
di
chuyển
và
bố
trí
tái
định
cư;
+
Giao
nhiệm
vụ
lập,
thực
hiện
phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư).
-
UBND
cấp
xã
có
trách
nhiệm
phối
hợp
với
tổ
chức
làm
nhiệm
vụ
bồi
thường,
giải
phóng
mặt
bằng
triển
khai
thực
hiện
kế
hoạch
thu
hồi
đất,
điều
tra,
khảo
sát,
đo
đạc,
kiểm
đếm;
-
Trường
hợp
người
sử
dụng
đất
không
phối
hợp
với
tổ
chức
làm
nhiệm
vụ
bồi
thường,
giải
phóng
mặt
bằng
trong
việc
điều
tra,
khảo
sát,
đo
đạc,
kiểm
đếm
và
sau
10
ngày
kể
từ
ngày
được
vận
động,
thuyết
phục
vẫn
không
phối
hợp
thì
Chủ
tịch
UBND
cấp
huyện
ban
hành
quyết
định
kiểm
đếm
bắt
buộc
và
tổ
chức
thực
hiện
kiểm
đếm
bắt
buộc;
*
Về
bồi
thường
hỗ
trợ
tái
định
cư.
-
Phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
được
tổ
chức
lấy
ý
kiến
theo
hình
thức
tổ
chức
họp
trực
tiếp
với
người
dân
trong
khu
vực
có
đất
thu
hồi
và
phải
được
lập
thành
biên
bản
có
xác
nhận
của
đại
diện
của
UBND
cấp
xã,
UB
Mặt
trận
Tổ
quốc
cấp
xã,
đại
diện
những
người
có
đất
thu
hồi;
tổ
chức
làm
nhiệm
vụ
bồi
thường,
giải
phóng
mặt
bằng
phối
hợp
với
UBND
cấp
xã
nơi
có
đất
thu
hồi
tổ
chức
đối
thoại
đối
với
trường
hợp
không
đồng
ý
về
phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư;
hoàn
chỉnh
phương
án
trình
cơ
quan
có
thẩm
quyền;
-
Về
quyết
định
phê
duyệt
phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ
khi
thu
hồi
đất.
Quyết
định
phê
duyệt
phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
trong
cùng
một
ngày
thuộc
thẩm
quyền
UBND
cấp
có
thẩm
quyền
là
UBND
cấp
tỉnh
hoặc
UBND
cấp
huyện
(Điều
6
Luật
đất
đai).
-
Quyết
định
phê
duyệt
phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
được
phổ
biến
và
niêm
yết
công
khai
tại
trụ
sở
UBND
cấp
xã
và
địa
điểm
sinh
hoạt
chung
của
khu
dân
cư
nơi
có
đất
thu
hồi;
-
Quyết
định
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
được
gửi
đến
từng
người
có
đất
thu
hồi;
*
Về
cưỡng
chế
thu
hồi
đất.
-
Trường
hợp
người
có
đất
thu
hồi
không
bàn
giao
đất
và
sau
khi
đã
được
vận
động,
thuyết
phục
nhưng
không
chấp
hành
thì
Chủ
tịch
UBND
cấp
huyện
ban
hành
quyết
định
cưỡng
chế
thu
hồi
đất
và
tổ
chức
thực
hiện
việc
cưỡng
chế;
-
Việc
thực
hiện
quyết
định
cưỡng
chế
kiểm
đếm
bắt
buộc
và
quyết
định
cưỡng
chế
thu
hồi
đất
phải
tuân
thủ
các
nguyên
tắc
sau:
+
Việc
cưỡng
chế
phải
tiến
hành
công
khai,
dân
chủ,
khách
quan,
bảo
đảm
trật
tự,
an
toàn,
đúng
quy
định
của
pháp
luật;
+
Thời
điểm
bắt
đầu
tiến
hành
cưỡng
chế
được
thực
hiện
trong
giờ
hành
chính.
-
Trước
khi
tiến
hành
cưỡng
chế
thu
hồi
đất,
Chủ
tịch
UBND
cấp
huyện
quyết
định
thành
lập
Ban
thực
hiện
cưỡng
chế
(Khoản
3
Điều
17
Nghị
định
số
43/NĐ
-
CP
ngày
15/05/2014
của
Chính
phủ
quy
định
chi
tiết
thi
hành
một
số
điều
của
Luật
đất
đai
hướng
dẫn
nội
dung
này
như
sau:
“Ban
thực
hiện
cưỡng
chế
thu
hồi
đất
gồm
các
thành
phần
sau:
+
Chủ
tịch
hoặc
Phó
Chủ
tịch
UBND
cấp
huyện
là
trưởng
ban;
+
Các
thành
viên
gồm
đại
diện
các
cơ
quan:
tài
chính,
tài
nguyên
và
môi
trường,
thanh
tra,
tư
pháp,
xây
dựng
cấp
huyện;
Mặt
trận
Tổ
quốc
Việt
Nam
cấp
xã,
tổ
chức
làm
nhiệm
vụ
bồi
thường
giải
phóng
mặt
bằng,
UBND
cấp
xã
nơi
có
đất
và
một
số
thành
viên
khác
do
Chủ
tịch
UBND
cấp
huyện
quyết
định”;
-
Ban
thực
hiện
cưỡng
chế
có
quyền
buộc
người
bị
cưỡng
chế
và
những
người
có
liên
quan
phải
ra
khỏi
khu
đất
cưỡng
chế,
tự
chuyển
tài
sản
ra
khỏi
khu
đất
cưỡng
chế;
nếu
không
thực
hiện
thì
Ban
thực
hiện
cưỡng
chế
có
trách
nhiệm
di
chuyển
người
bị
cưỡng
chế
và
người
có
liên
quan
phải
ra
khỏi
khu
đất
cưỡng
chế;
trường
hợp
người
bị
cưỡng
chế
từ
chối
nhận
tài
sản
thì
Ban
thực
hiện
cưỡng
chế
phải
lập
biên
bản,
tổ
chức
thực
hiện
bảo
quản
tài
sản
theo
quy
định
của
pháp
luật
và
thông
báo
cho
người
có
tài
sản
nhận
lại
tài
sản;
-
Một
nội
dung
cần
đặc
biệt
lưu
ý
khi
cơ
quan
có
thẩm
quyền
tổ
chức
thực
hiện
quyết
định
cưỡng
chế
thu
hồi
đất
thì
ngoài
các
điều
kiện
về
việc
người
có
đất
thu
hồi
không
chấp
hành
quyết
định
thu
hồi
đất
sau
khi
đã
được
vận
động,
thuyết
phục,
quyết
định
cưỡng
chế
thu
hồi
đất
đã
có
hiệu
lực
pháp
luật
và
đã
được
niêm
yết
công
khai
thì
việc
người
bị
cưỡng
chế
được
nhận
quyết
định
cưỡng
chế
thực
hiện
quyết
định
thu
hồi
đất
có
hiệu
lực
thi
hành
là
điều
kiện
bắt
buộc,
trường
hợp
người
bị
cưỡng
chế
từ
chối
không
nhận
quyết
định
cưỡng
chế
hoặc
vắng
mặt
khi
giao
quyết
định
cưỡng
chế
thì
UBND
cấp
xã
lập
biên
bản;
-
Về
phân
công
trách
nhiệm
của
tổ
chức,
cá
nhân
trong
việc
thực
hiện
quyết
định
cưỡng
chế
thu
hồi
đất
thì
UBND
cấp
huyện
chịu
trách
nhiệm
tổ
chức
thực
hiện
việc
cưỡng
chế,
giải
quyết
khiếu
nại
có
liên
quan
đến
việc
cưỡng
chế
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
khiếu
nại,
(Khoản
6
Điều
17
Nghị
định
số
43/NĐ
-
CP
ngày
15/05/2014
của
Chính
phủ
quy
định
về
giải
quyết
khiếu
kiện
phát
sinh
từ
việc
cưỡng
chế
thu
hồi
đất:
“Người
có
đất
thu
hồi,
tổ
chức,
cá
nhân
có
liên
quan
có
quyền
khiếu
nại
về
việc
thu
hồi
đất
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
khiếu
nại.
Trong
khi
chưa
có
quyết
định
giải
quyết
khiếu
nại
thì
vẫn
phải
tiếp
tục
thực
hiện
quyết
định
thu
hồi
đất,
quyết
định
cưỡng
chế
thu
hồi
đất.
Trường
hợp
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
giải
quyết
khiếu
nại
có
kết
luận
việc
thu
hồi
đất
là
trái
pháp
luật
thì
phải
dừng
cưỡng
chế
nếu
việc
cưỡng
chế
chưa
hoàn
thành;
hủy
bỏ
quyết
định
thu
hồi
đất
đã
ban
hành
và
bồi
thường
thiệt
hại
do
quyết
định
thu
hồi
đất
gây
ra
(nếu
có).
Đối
với
trường
hợp
việc
thu
hồi
đất
có
liên
quan
đến
quyền
và
lợi
ích
của
tổ
chức,
cá
nhân
khác
trong
việc
sử
dụng
đất
theo
quy
định
của
pháp
luật
khác
có
liên
quan
thì
Nhà
nước
tiến
hành
thu
hồi
đất,
cưỡng
chế
thực
hiện
quyết
định
thu
hồi
đất
theo
quy
định
mà
không
phải
chờ
cho
đến
khi
giải
quyết
xong
quyền
và
nghĩa
vụ
liên
quan
đến
việc
sử
dụng
đất
giữa
người
có
đất
thu
hồi
và
tổ
chức,
cá
nhân
đó
theo
quy
định
của
pháp
luật
có
liên
quan”.
Với
những
quy
định
về
trình
tự,
thủ
tục
thu
hồi
đất
của
Luật
đất
đai
năm
2013
nêu
trên,
khi
thực
hiên
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
vụ
án
hành
chính
cần
chú
ý
phân
biệt
về
quyết
định
hành
chính
và
hành
vi
hành
chính
trong
quá
trình
thực
hiện
việc
thu
hồi
đất,
cụ
thể:
-
Thứ
nhất,
về
thẩm
quyền
của
UBND
có
thẩm
quyền
thu
hồi
đất
gồm
ban
hành
thông
báo
thu
hồi
đất;
quyết
định
thu
hồi
đất,
quyết
định
phê
duyệt
phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
trong
cùng
một
ngày;
chịu
trách
nhiệm
tổ
chức
thực
hiện
việc
cưỡng
chế,
giải
quyết
khiếu
nại
có
liên
quan
đến
việc
cưỡng
chế
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
khiếu
nại
v.v;
-
Thứ
hai,
về
thẩm
quyền
của
Chủ
tịch
UBND
cấp
huyện
gồm
ban
hành
quyết
định
kiểm
đếm
bắt
buộc,
quyết
định
cưỡng
chế
thực
hiện
kiểm
đếm
bắt
buộc,
quyết
định
cưỡng
chế
thu
hồi
đất
và
tổ
chức
thực
hiện
các
quyết
định
đó;
ban
hành
quyết
định
thành
lập
Ban
thực
hiện
cưỡng
chế
v.v;
-
Thứ
ba,
về
thẩm
quyền,
trách
nhiệm
của
UBND
cấp
xã
gồm
phối
hợp
với
Ban
thực
hiện
cưỡng
chế,
tổ
chức
làm
nhiệm
vụ
bồi
thường,
giải
phóng
mặt
bằng
triển
khai
thực
hiện
kế
hoạch
thu
hồi
đất,
điều
tra,
khảo
sát,
đo
đạc,
kiểm
đếm;
niêm
yết
công
khai
các
quyết
định
của
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền;
tổ
chức
lấy
ý
kiến
về
phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
theo
hình
thức
tổ
chức
họp
trực
tiếp
với
người
dân
trong
khu
vực
có
đất
thu
hồi;
tổ
chức
đối
thoại
với
trường
hợp
còn
ý
kiến
không
đồng
ý
về
phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư;
lập
biên
bản
trong
trường
hợp
người
bị
cưỡng
chế
không
nhận
quyết
định
cưỡng
chế
hoặc
vắng
mặt
khi
giao
quyết
định
cưỡng
chế;
tham
gia
thực
hiện
cưỡng
chế;
niêm
phong,
di
chuyển,
bảo
quản
tài
sản
của
người
bị
cưỡng
chế
thu
hồi
đất.v.v;
-
Thứ
tư,
về
thẩm
quyền,
trách
nhiệm
của
Ban
thực
hiện
cưỡng
chế
gồm
vận
động,
thuyết
phục,
đối
thoại
với
người
bị
cưỡng
chế;
có
quyền
buộc
người
bị
cưỡng
chế
và
những
người
có
liên
quan
phải
ra
khỏi
khu
đất
cưỡng
chế
tự
chuyển
tài
sản
ra
khỏi
khu
đất
cưỡng
chế;
nếu
không
thực
hiện
thì
Ban
thực
hiện
cưỡng
chế
có
trách
nhiệm
di
chuyển
người
bị
cưỡng
chế
và
người
có
liên
quan
phải
ra
khỏi
khu
đất
cưỡng
chế;
trường
hợp
người
bị
cưỡng
chế
từ
chối
nhận
tài
sản
thì
Ban
thực
hiện
cưỡng
chế
phải
lập
biên
bản,
tổ
chức
thực
hiện
bảo
quản
tài
sản
theo
quy
định
của
pháp
luật
và
thông
báo
cho
người
có
tài
sản
nhận
lại
tài
sản.
b)
Quy
định
về
bồi
thường
về
đất,
hỗ
trợ
và
tái
định
cư
chương
VI
mục
2
và
Chương
II
Nghị
định
47/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
về
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất.
-
Các
nguyên
tắc
bồi
thường
về
đất
khi
Nhà
thu
hồi
đất
được
quy
định
cụ
thể,
chi
tiết
tại
Điều
74
Luật
đất
đai
năm
2013,
trong
đó
điểm
cần
chú
ý
là
việc
bồi
thường
được
thực
hiện
bằng
việc
giao
đất
có
cùng
mục
đích
sử
dụng
với
loại
đất
thu
hồi,
nếu
không
có
đất
để
bồi
thường
thì
được
bồi
thường
bằng
tiền
theo
giá
đất
cụ
thể
của
loại
đất
thu
hồi
do
UBND
cấp
tỉnh
quyết
định
tại
thời
điểm
quyết
định
thu
hồi
đất;
-
Điều
75
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định
6
điều
kiện
cụ
thể
để
được
bồi
thường
về
đất
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
vì
mục
đích
quốc
phòng,
an
ninh;
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
vì
lợi
ích
quốc
gia,
công
cộng;
-
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
quy
định
về
các
trường
hợp
không
được
Bồi
thường
về
đất,
không
được
bồi
thường
chi
phí
đầu
tư
vào
đất
còn
lại
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
vì
mục
đích
quốc
phòng,
an
ninh;
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
vì
lợi
ích
quốc
gia,
công
cộng
(Điều
76),
bồi
thường
về
đất,
chi
phí
đầu
tư
vào
đất
còn
lại
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
nông
nghiệp,
đất
phi
nông
nghiệp
không
phải
là
đất
ở
của
hộ
gia
đình,
cá
nhân
(Điều
77,
80),
bồi
thường
về
đất
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
ở
(Điều
79)…
-
Đồng
thời
với
việc
quy
định
cụ
thể
về
bồi
thường
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất,
Luật
đất
đai
năm
2013
cũng
đã
quy
định
cụ
thể
về
hỗ
trợ
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
(Điều
83),
lập
và
thực
hiện
dự
án
tái
định
cư
(Điều
85),
trong
đó
cần
chú
ý
về
quy
định
UBND
cấp
tỉnh,
UBND
cấp
huyện
có
trách
nhiệm
tổ
chức
lập
và
thực
hiện
dự
án
tái
định
cư
trước
khi
thu
hồi
đất.
Về
bồi
thường
về
đất,
hỗ
trợ
và
tái
định
cưcòn
được
quy
định
cụ
thể
trong
Nghị
định
số
47/2014/NĐ-CP
ngày
15/05/2014
của
Chính
phủ
và
Tài
liệu
của
Bộ
Tài
nguyên
và
Môi
trường,
khi
nghiên
cứu,
vận
dụng
trong
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
vụ
án
hành
chính
cần
chú
ý
các
nội
dung
về
đối
tượng,
điều
kiện,
mức
được
hưởng
chế
độ
bồi
thường
về
đất,
hỗ
trợ
và
tái
định
cưđể
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
cho
phù
hợp.
Bên
cạnh
đó,
cần
lưu
ý
nội
dung
về
Phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
theo
quyết
định
của
UBND
cấp
có
thẩm
quyền
phải
được
niêm
yết
công
khai
tại
trụ
sở
UBND
cấp
xã
và
địa
điểm
sinh
hoạt
chung
của
khu
dân
cư
nơi
có
đất
thu
hồi;
được
gửi
đến
từng
người
có
đất
thu
hồi
v.v.
c)
Quy
định
về
bồi
thường
thiệt
hại
về
tài
sản,
về
sản
xuất,
kinh
doanh
Khác
với
Luật
đất
đai
năm
2003,
Luật
đất
đai
năm
2013
đã
xây
dựng
một
mục
riêng
(Mục
3,
Chương
VI)
về
bồi
thường
thiệt
hại
về
tài
sản,
về
sản
xuất,
kinh
doanh.
Xác
định
nguyên
tắc
bồi
thường
thiệt
hại
về
tài
sản,
về
sản
xuất,
kinh
doanh
gồm:
+
Khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
mà
chủ
sở
hữu
tài
sản
hợp
pháp
gắn
liền
với
đất
bị
thiệt
hại
về
tài
sản
thì
được
bồi
thường;
+
Khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
mà
tổ
chức,
hộ
gia
đình,
cá
nhân,
người
Việt
Nam
định
cư
ở
nước
ngoài,
doanh
nghiệp
có
vốn
đầu
tư
nước
ngoài
phải
ngừng
sản
xuất,
kinh
doanh
mà
có
thiệt
hại
thì
được
bồi
thường
thiệt
hại.
-
Quy
định
cụ
thể
về
bồi
thường
thiệt
hại
về
nhà,
công
trình
xây
dựng
trên
đất
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
(Điều
89),
bồi
thường
đối
với
cây
trồng,
vật
nuôi
(Điều
90),
bồi
thường
chi
phí
di
chuyển
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất
(Điều
91)
-
Một
trong
những
nội
dung
mới
quan
trọng
của
Luật
đất
đai
năm
2013
là
quy
định
về
việc
chi
trả
tiền
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
(Điều
93),
theo
đó:
Trường
hợp
cơ
quan,
tổ
chức
có
trách
nhiệm
bồi
thường
chậm
chi
trả
thì
khi
thanh
toán
tiền
bồi
thường,
hỗ
trợ
cho
người
có
đất
thu
hồi,
ngoài
tiền
bồi
thường,
hỗ
trợ
theo
phương
án
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
được
cấp
có
thẩm
quyền
phê
duyệt
thì
người
có
đất
thu
hồi
còn
được
thanh
toán
thêm
một
khoản
tiền
bằng
mức
tiền
chậm
nộp
theo
quy
định
của
Luật
quản
lý
thuế
tính
trên
số
tiền
chậm
trả
và
thời
gian
chậm
trả.
Trong
phần
nội
dung
quy
định
về
thu
hồi
đất,
trưng
dụng
đất,
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư,
đề
nghị
VKSND
các
địa
phương
nghiên
cứu
các
quy
định
về
Điều
khoản
chuyển
tiếp
(quy
định
tại
Điều
210,
Luật
đất
đai
năm
2013)
và
Hướng
dẫn
tại
các
Điều
34,
99
Nghị
định
số
43/2014/NĐ-CP
ngày
15/05/2014
của
Chính
phủ
về
xử
lý
các
trường
hợp
đang
thực
hiện
thủ
tục
thu
hồi
đất,
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư
trước
ngày
01/07/2014
để
vận
dụng
trong
thực
tiễn.
2.6.
Quy
định
về
các
thủ
tục
hành
chính
về
đất
đai
(chương
XII),
gồm
2
Điều
(Từ
Điều
195
đến
Điều
197)
và
Chương
7
Nghị
định
43/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014.
-
Luật
đất
đai
năm
2003
quy
định
về
thủ
tục
hành
chính
ở
các
Điều
từ
122
đến
Điều
131,
chương
V.
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định
về
thủ
tục
hành
chính
chỉ
ở
3
Điều
từ
195
đến
197,
chương
XII
và
quy
định
tại
Điều
195
về
các
thủ
tục
hành
chính
về
đất
đai
gồm
07
nội
dung
cụ
thể
về
thủ
tục
hành
chính
về
đất
đai.
-
Điều
196
quy
định
công
khai
thủ
tục
hành
chính
về
:Cơ
quan
có
thẩm
quyền
tiếp
nhận
hồ
sơ
và
trả
kết
quả;
Thời
gian
giải
quyết
đối
với
mỗi
thủ
tục
hành
chính;
Thành
phần
hồ
sơ
đối
với
từng
thủ
tục
hành
chính;
Quy
trình
và
trách
nhiệm
giải
quyết
từng
loại
thủ
tục
hành
chính;
Nghĩa
vụ
tài
chính,
phí
và
lệ
phí
phải
nộp
đối
với
từng
thủ
tục
hành
chính;
Việc
công
khai
về
các
nội
dung
quy
định
trên
thực
hiện
bằng
hình
thức
niêm
yết
thường
xuyên
tại
trụ
sở
cơ
quan
tiếp
nhận
hồ
sơ
và
trả
kết
quả;
đăng
trên
trang
thông
tin
điện
tử
cơ
sở
dữ
liệu
quốc
gia
về
thủ
tục
hành
chính,
trang
thông
tin
điện
tử
của
UBND
cấp
tỉnh,
UBND
cấp
huyện.
-
Về
trách
nhiệm
thực
hiện
các
thủ
tục
hành
chính
về
đất
đai
(Điều
197)
thuộc
các
Bộ,
ngành,
UBND
các
cấp,
cơ
quan
có
thẩm
quyền
giải
quyết
thủ
tục
hành
chính
về
đất
đai,
người
sử
dụng
đất
và
người
khác
có
liên
quan
phải
thực
hiện
đúng
trình
tự,
thủ
tục
theo
quy
định.
*
Khi
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
cần
chú
ý
việc
chấp
hành
các
quy
định
về
thủ
tục
hành
chính
của
cơ
quan,
tổ
chức
có
thẩm
quyền,
vì
đây
là
một
trong
nhiều
nội
dung
mà
khi
giải
quyết
cơ
quan,
tổ
chức
có
thẩm
quyền
ban
hành
các
quyết
định
hành
chính
và
thực
hiện
các
hành
vi
hành
chính
là
đối
tượng
dễ
phát
sinh
khiếu
nại,
khởi
kiện
vụ
án
hành
chính.
2.7.
Quy
định
về
giải
quyết
khiếu
nại,
khiếu
kiện
về
đất
đai
Chương XIII
(Điều
204)
và
Chương
IX
Nghị
định
43/2014/NĐ-CP
ngày
15/5/2014
về
xử
lý
vi
phạm
pháp
luật
về
đất
đai.
-
Giải
quyết
khiếu
nại,
khiếu
kiện
về
đất
đai
(Điều
204
Luật
đất
đai):
+
Người
sử
dụng
đất,
người
có
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
liên
quan
đến
sử
dụng
đất
có
quyền
khiếu
nại,
khởi
kiện
quyết
định
hành
chính
hoặc
hành
vi
hành
chính
về
quản
lý
đất
đai.
+
Trình
tự,
thủ
tục
giải
quyết
khiếu
nại
quyết
định
hành
chính,
hành
vi
hành
chính
về
đất
đai
thực
hiện
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
khiếu
nại.
Trình
tự,
thủ
tục
giải
quyết
khiếu
kiện
quyết
định
hành
chính,
hành
vi
hành
chính
về
đất
đai
thực
hiện
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
tố
tụng
hành
chính.
Lưu
ý:
Hiện
nay
theo
quy
định
tại
chương
9
Nghị
định
43/NĐ-CP
nêu
trên
một
số
hướng
dẫn
việc
xử
lý
vi
phạm
pháp
luật
về
đất
đai
đối
với
công
chức
,
viên
chức
của
các
cơ
quan
tổ
chức của
Nhà
nước
mà
chưa
có
hướng
dẫn
việc
xử
lý
vi
phạm
pháp
luật
về
đất
đai
đối
với
công
dân,
cơ
quan,
tổ
chức
có
vi
phạm
pháp
luật
liên
quan
đến
sử
dụng
đất
đai.
II.
Một
số
yêu
cầu
đối
với
VKSND
các
địa
phương
-
Trên
cơ
sở
nghiên
cứu,
tìm
hiểu
những
quy
định
mới
trong
Luật
đất
đai
năm
2013,
Viện
kiểm
sát
các
cấp,
nhất
là
các
đơn
vị,
các
đồng
chí
được
phân
công
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính
cần
tiếp
tục
nghiên
cứu
để
hiểu
đúng,
thực
hiện
đầy
đủ
nội
dung
của
Luật
đất
đai
năm
2013
và
các
Nghị
định
của
Chính
phủ
để
vận
dung,
áp
dụng
trong
công
tác
kiểm
sát;
-
Viện
kiểm
sát
các
cấp
kịp
thời
phản
ánh
về
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
(Vụ
12)
những
khó
khăn,
vướng
mắc
trong
việc
nghiên
cứu,
vận
dụng
quy
định
của
Luật
đất
đai
năm
2013
và
các
Nghị
định
của
Chính
phủ
trong
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính
để
tổng
hợp;
-
Trên
cơ
sở
những
khó
khăn,
vướng
mắc
của
Viện
kiểm
sát
các
địa
phương
của
các
Viện
phúc
thẩm,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
sẽ
phối
hợp
với
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
và
các
ngành
có
liên
quan
ở
Trung
ương
kịp
thời
hướng
dẫn
thực
hiện
thực
hiện
Luật
đất
đai
năm
2013.
|
Nơi
nhận:
|
TL.VIỆN
TRƯỞNG
VỤ
TRƯỞNG
|
|
-
Đ/c
Nguyễn
Thị
Thủy
Khiêm,
PVT;
-
Viện
KSND
tỉnh,
TP
trực
thuộc
TW;
-
Viện
phúc
thẩm
I,
II,
II;
-
Viện
khoa
học
Kiểm
sát;
-
Trường
Đại
học
Kiểm
sát
Hà
Nội;
-
Phân
hiệu
Đào
tạo,
bồi
dưỡng
nghiệp
vụ
Kiểm
sát;
-
Văn
phòng
VKSND
TC;
-
Trang
thông
tin
điện
tử
VKSND
TC;
-
Vụ
12
(Lãnh
đạo,
KSV,
KTV,
CV);
-
Lưu:
Vt,
V12.
|
(Đã
ký)
Phương
Hữu
Oanh
|