Để
xác
định
hành
vi
phạm
tội
Vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
quản
lý
lâm
sản
theo
quy
định
tại
Điều
232
BLHS
năm
2015.
Ngoài
các
dấu
hiệu
đặc
trưng
về
cấu
thành
tội
phạm
thì
việc
xác
định
thiệt
hại
về
thực
vật
rừng
là
gỗ
và
thực
vật
rừng
ngoài
gỗ
như:
xác
định
tên
gỗ,
nhóm
gỗ,
xác
định
khối
lượng
gỗ
bằng
phương
pháp
đo
khối
lượng,
xác
định
giá
trị
gỗ
bằng
yêu
cầu
định
giá
tài
sản
là
yêu
cầu
bắt
buộc,
do
đó
việc
xác
định
đúng
về
khối
lượng,
chủng
loại,
giá
trị
là
một
trong
những
vấn
đề
cần
chứng
minh
trong
quá
trình
điểu
tra,
xác
minh
giải
quyết
nguồn
tin
về
tội
phạm,
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử.
Theo
quy
định
khoản
1
Điều
2
Luật
Giám
định
tư
pháp
năm
2012
được
sửa
đổi,
bổ
sung
ngày
10/6/2020
“1.
Giám
định
tư
pháp là
việc
người
giám
định
tư
pháp
sử
dụng
kiến
thức,
phương
tiện,
phương
pháp
khoa
học,
kỹ
thuật,
nghiệp
vụ
để
kết
luận
về
chuyên
môn
những
vấn
đề
có
liên
quan
đến
hoạt
động
khởi
tố,
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
và
thi
hành
án
hình
sự,
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự,
vụ
án
hành
chính
theo
trưng
cầu
của
cơ
quan
có
thẩm
quyền
tiến
hành
tố
tụng,
người
có
thẩm
quyền
tiến
hành
tố
tụng
hoặc
theo
yêu
cầu
của
người
yêu
cầu
giám
định
theo
quy
định
của
Luật
này”.
Như
vậy
theo
quy
định
của
luật,
việc
giám
định
tư
pháp
đóng
vai
trò
hết
sức
quan
trọng,
là
cơ
sở
xem
xét
quyết
định
hành
vi
phạm
tội
đối
với
một
người,
một
nhóm
người
hay
cơ
quan,
tổ
chức
qua
đó
giúp
cho
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
xử
lý
đúng
người,
đúng
tội
theo
quy
định
của
pháp
luật
đảm
bảo
không
làm
oan
người
vô
tội,
không
bỏ
lọt
người
phạm
tội
và
tội
phạm.
Trong
quá
trình
điều
tra
vụ
án
hình
sự,
việc
trưng
cầu
giám
định
tư
pháp
phải
tuân
thủ
theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
205
BLTTHS:
“1.
Khi
thuộc
một
trong
các
trường
hợp
quy
định
tại
Điều
206
của
Bộ
luật
này
hoặc
khi
xét
thấy
cần
thiết
thì
cơ
quan
có
thẩm
quyền
tiến
hành
tố
tụng
ra
quyết
định
trưng
cầu
giám
định”.
Điều
206
BLTTHS
quy
định
các
trường
hợp
“Bắt
buộc
phải
trưng
cầu
giám
định
khi
cần
xác
định:
1.
Tình
trạng
tâm
thần
của
người
bị
buộc
tội
khi
có
sự
nghi
ngờ
về
năng
lực
trách
nhiệm
hình
sự
của
họ;
tình
trạng
tâm
thần
của
người
làm
chứng
hoặc
bị
hại
khi
có
sự
nghi
ngờ
về
khả
năng
nhận
thức,
khả
năng
khai
báo
đúng
đắn
về
những
tình
tiết
của
vụ
án;
2.
Tuổi
của
bị
can,
bị
cáo,
bị
hại
nếu
việc
đó
có
ý
nghĩa
đối
với
việc
giải
quyết
vụ
án
và
không
có
tài
liệu
để
xác
định
chính
xác
tuổi
của
họ
hoặc
có
nghi
ngờ
về
tính
xác
thực
của
những
tài
liệu
đó;
3.
Nguyên
nhân
chết
người;
4.
Tính
chất
thương
tích,
mức
độ
tổn
hại
sức
khoẻ
hoặc
khả
năng
lao
động;
5.
Chất
ma
tuý,
vũ
khí
quân
dụng,
vật
liệu
nổ,
chất
cháy,
chất
độc,
chất
phóng
xạ,
tiền
giả,
vàng,
bạc,
kim
khí
quý,
đá
quý,
đồ
cổ;
6.
Mức
độ
ô
nhiễm
môi
trường”.
Trên
thực
tế
khi
giải
quyết
các
vụ
án
hình
sự
về
tội
Vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
quản
lý
lâm
sản
theo
theo
quy
định
tại
Điều
232
BLHS,
việc
trưng
cầu
giám
định
thường
được
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
và
người
tiến
hành
tố
tụng
đặt
ra.
Tuy
nhiên
trong
quá
trình
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
việc
xác
định
“khi
xét
thấy
cần
thiết”
theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
205
BLTTHS
để
tiến
hành
trưng
cầu
giám
định
lại
có
nhiều
quan
điểm,
nhận
thức
khác
nhau
giữa
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
và
người
tiến
hành
tố
tụng,
cụ
thể:
*
Quan
điểm
thứ
nhất:
Trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án
vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
quản
lý
lâm
sản
thì
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
người
tiến
hành
tố
tụng
không
cần
thiết
trưng
cầu
giám
định
thiệt
hại
thực
vật
rừng
(gỗ,
thực
vật
khác
ngoài
gỗ),
chỉ
cần
dựa
trên
bảng
kê,
biên
bản
xác
định
của
cơ
quan
chuyên
môn
(như
Kiểm
lâm
..)
bởi
đây
là
cơ
quan
có
chuyên
môn,
có
kiến
thức,
kinh
nghiệm
trong
nhận
biết
về
mặt
trực
quan,
đồng
thời
phù
hợp
với
ý
kiến
đồng
ý
hoặc
thừa
nhận
của
người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
và
những
người
tham
gia
tố
tụng
khác,
như
vậy
đảm
bảo,
phù
hợp
với
khoản
1
Điều
205
BLTTHS
đây
là
các
trường
hợp
không
cần
thiết,
không
bắt
buộc
phải
trưng
cầu
giám
định.
Nếu
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án,
những
người
tham
gia
tố
tụng
có
ý
kiến
khác
nhau
hoặc
người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội,
không
chấp
nhận
biên
bản
xác
định
của
cơ
quan
chuyên
môn
về
thiệt
hại
thực
vật
rừng
(gỗ,
thực
vật
khác
ngoài
gỗ),
thì
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
người
tiến
hành
tố
tụng
mới
phải
trưng
cầu
giám
định
tư
pháp.
Quan
điểm
này
giải
quyết
được
vấn
đề
thực
tiễn
đặt
ra
đó
là:
Nếu
như
tất
cả
các
vụ
án
vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
quản
lý
lâm
sản
(Điều
232)
phải
trưng
cầu
giám
định,
mà
trong
số
đó
có
những
vụ
án
đối
tượng
cần
giám
định
có
số
lượng
quá
nhiều
nếu
thực
hiện
việc
trưng
cầu
giám
định
sẽ
làm
tăng
chi
phí,
thủ
tục
cũng
như
kéo
dài
thời
hạn
giải
quyết
vụ
án
và
làm
giảm
hiệu
quả
đấu
tranh
đối
với
loại
tội
phạm
này.
Tuy
nhiên
theo
quan
điểm
này
lại
đặt
ra
một
vấn
đề
bất
cập
là:
Các
cơ
quan
chuyên
môn
được
yêu
cầu,
thực
hiện
xác
nhận
dựa
trên
kinh
nghiệm
và
nhận
biết
về
mặt
trực
quan,
có
đảm
bảo
đúng
không,
liệu
có
hay
không
sự
nhầm
lẫn,
không
chính
xác
trong
việc
xác
định
lâm
sản
thiệt
hại.
Mặt
khác
xác
nhận
của
cán
bộ,
cơ
quan
chuyên
môn
này
có
đảm
bảo
giá
trị
thay
cho
kết
luận
giám
định
hay
không,
trong
khi
theo
quy
định
tại
khoản
3,
Điều
3,
Thông
tư
số
20/2022/TT-BNNPTNT
ngày
22/12/2022
có
lĩnh
vực
Giám
định
tư
pháp
về
lâm
nghiệp.
Như
vậy
để
xác
định
cụ
thể
trong
lĩnh
vực
này
cần
phải
giám
định
tư
pháp;
bên
cạnh
đó
khi
không
giám
định
nếu
có
sự
nhầm
lẫn
xảy
ra
thì
sẽ
ảnh
hưởng
đến
quyền
của
người
có
hành
vi
đang
bị
xem
xét,
kết
tội.
*
Quan
điểm
thứ
hai
cũng
là
quan
điểm
của
tác
giả:
Để
giải
quyết
vấn
đề
vướng
mắc,
bất
cập
trong
việc
xác
định
thực
vật
rừng
là
gỗ,
thực
vật
khác
ngoài
gỗ,
cũng
như
thực
tiễn
đặt
ra
khi
áp
dụng
quy
định
tại
khoản
1
Điều
205
BLTTHS
trong
quá
trình
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
đối
với
tội
Vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
quản
lý
lâm
sản
(Điều
232)
thực
hiện
như
sau:
-
Bắt
buộc
phải
trưng
cầu
giám
định
thuộc
trường
hợp
khi
xét
thấy
cần
thiết
để
xác
định
gỗ,
thực
vật
rừng
ngoài
gỗ
bị
xâm
hại
thuộc
các
trường
hợp
sau:
+
Gỗ
thuộc
Danh
mục
loài
nguy
cấp,
quý,
hiếm
được
ưu
tiên
bảo
vệ
hoặc
thuộc
Danh
mục
thực
vật
rừng,
động
vật
rừng
nguy
cấp,
quý,
hiếm
Nhóm
IA.
+
Thực
vật
rừng
ngoài
gỗ
thuộc
Danh
mục
loài
nguy
cấp,
quý,
hiếm
được
ưu
tiên
bảo
vệ
hoặc
Danh
mục
thực
vật
rừng,
động
vật
rừng
nguy
cấp,
quý,
hiếm
Nhóm
IA.
Với
lý
do:
Đây
là
những
loài
rất
khó
xác
định
trên
thực
tế,
cần
xác
định
chính
xác
tên,
ngành,
lớp,
họ,
loại
bị
xâm
hại
cần
phải
có
cơ
quan
chuyên
môn,
người
có
kiến
thức,
kinh
nghiệm,
chuyên
gia,
nhà
khoa
học
có
tư
cách
pháp
lý
được
pháp
luật
công
nhận
theo
quy
định
của
Luật
giám
định
tư
pháp
và
Thông
tư
số
20/2022.
-
Không
bắt
buộc
giám
định
thuộc
các
trường
hợp
sau:
+
Gỗ
có
nguồn
gốc
từ
nước
ngoài
thuộc
Phụ
lục
I
Công
ước
về
buôn
bán
quốc
tế
các
loài
động
vật,
thực
vật
hoang
dã
nguy
cấp
+
Gỗ
thuộc
Danh
mục
thực
vật
rừng,
động
vật
rừng
nguy
cấp,
quý,
hiếm
Nhóm
IIA
hoặc
gỗ
có
nguồn
gốc
từ
nước
ngoài
thuộc
Phụ
lục
I,
Phụ
lục
II
Công
ước
về
buôn
bán
quốc
tế
các
loài
động
vật,
thực
vật
hoang
dã
nguy
cấp.
+
Gỗ
loài
thực
vật
thông
thường
(Nhóm
II
đến
nhóm
VIII).
Với
lý
do:
Đây
là
những
loài
phổ
biến
trên
thực
tế,
dễ
nhận
biết,
được
nhiều
người
thừa
nhận
và
có
xác
định
của
cơ
quan
chuyên
môn,
ngoài
ra
đối
với
gỗ
có
nguồn
gốc
từ
nước
ngoài
thuộc
Phụ
lục
I,
Phụ
lục
II
Công
ước
về
buôn
bán
quốc
tế
các
loài
động
vật,
thực
vật
hoang
dã
nguy
cấp
thì
đều
có
hồ
sơ
nhập
khẩu
theo
quy
định.
Quan
điểm
trên
vừa
giải
quyết
được
vấn
đề
thực
tiễn
đặt
ra
đảm
bảo
không
ảnh
hưởng
đến
quyền
của
người
có
hành
vi
đang
bị
xem
xét,
kết
tội;
vừa
tiết
kiệm
chi
phí,
đơn
giản
hoá
thủ
tục
nhưng
vẫn
đảm
bảo
thời
hạn
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án,
tăng
hiệu
quả
đấu
tranh
đối
với
loại
tội
phạm
này;
đồng
thời
đảm
bảo
căn
cứ
pháp
lý,
xử
lý
nghiêm
khắc,
tương
xứng
với
hành
vi
phạm
tội,
thoả
mãn
tính
chất
định
tính,
định
lượng
làm
căn
cứ
để
định
khung
hình
phạt
có
căn
cứ,
đúng
pháp
luật
tránh
oan
sai,
bỏ
lọt
tội
phạm.
Trên
đây
là
các
quan
điểm,
nhận
thức
về
việc
trưng
cầu
giám
định
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án
hình
sự
về
tội
vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
quản
lý
lâm
sản
theo
theo
quy
định
tại
Điều
232
BLHS,
rất
mong
được
bạn
đọc
chia
sẻ
và
thảo
luận,
phản
ánh
trong
quá
trình
góp
ý
xây
dựng
pháp
luật,
đề
nghị
Liên
ngành
Tư
pháp
Trung
ương
có
Hướng
dẫn
cụ
thể,
phù
hợp
với
thực
tiễn
nhằm
tháo
gỡ
những
vướng
mắc,
bất
cập
để
việc
áp
dụng
đảm
bảo
pháp
luật
được
thực
hiện
đồng
bộ
và
thống
nhất,
qua
đó
đảm
bảo
Viện
KSND
cấp
dưới
thực
hiện
tốt
chức
năng,
nhiệm
vụ
của
Ngành
và
phục
vụ
tốt
nhiệm
vụ
chính
trị
địa
phương.
Trần
Đức
Hiệp
-
P7,
VKSND
tỉnh
Tuyên
Quang