Thông
qua
công
tác
kiểm
sát
thi
hành
án
dân
sự
chúng
tôi
thấy
có
một
số
khó
khăn, vướng
mắc
trong
nhận
thức
và
áp
dụng
các
quy
định
của
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
năm
2008,
sửa
đổi
bổ
sung năm
2014,
cụ
thể
như
sau:
1.
Về
việc
cung
cấp
thông
tin
về
tài
sản
thi
hành
án
của
người
có
đơn
yêu
cầu
thi
hành
án.
-
Điểm
đ
khoản
2
Điều
31
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
quy
định:
“2.
Đơn
yêu
cầu
phải
có
nội
dung:
….
đ)
Thông
tin
về
tài
sản
hoặc
điều
kiện
thi
hành
án
của
người
phải
thi
hành
án…”.
Quy
định
này
không
phù
hợp
với
thực
tế
đời
sống
xã
hội
và
gây
khó
khăn,
trở
ngại
trong
hoạt
động
thi
hành
án
dân
sự,
bởi
vì:
Người
có
đơn
yêu
cầu
thi
hành
án
bắt
buộc
phải
có
thông
tin
về
tài
sản
hoặc
điều
kiện
thi
hành
án
của
người
phải
thi
hành
án.
Trên
thực
tế
việc
người
được
thi
hành
án
có
đơn
yêu
cầu
thi
hành
án,
xác
định
người
phải
thi
hành
án
có
tài
sản
để
thi
hành
án
hay
không
là
rất
khó
khăn,
họ
rất
khó
có
thể
tự
xác
minh
điều
kiện
thi
hành
án
của
người
phải
thi
hành
án
mà
thường
yêu
cầu
Chấp
hành
viên
xác
minh
điều
kiện
thi
hành
án
của
người
phải
thi
hành
án
hoặc
nếu
có
xác
minh
điều
kiện
thi
hành
án
của
người
phải
thi
hành
án
thì
kết
quả
xác
minh
đó
chưa
đảm
bảo
tính
chính
xác,
khách
quan.
Vì
vậy
Điều
luật
đưa
ra
nội
dung
này
mang
tính
hình
thức,
khó
thực
hiện
trên
thực
tế.
2.
Thông
báo
về
thi
hành
án,
chi
phí
thông
báo
về
thi
hành
án.
Điều
39
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
quy
định:
“Thông
báo
về
thi
hành
án:
1.
…
4.
Chi
phí
thông
báo
do
người
phải
thi
hành
án
chịu,
trừ
trường
hợp
pháp
luật
quy
định
ngân
sách
nhà
nước
chi
trả
hoặc
người
được
thi
hành
án
chịu”.
Hiện
nay
chưa
có
văn
bản
hướng
dẫn
quy
định
cụ
thể
về
mức
thu
của
từng
loại
chi
phí
thông
báo
về
thi
hành
án
do
người
phải
thi
hành
án,
ngân
sách
nhà
nước
chi
trả
hoặc
người
được
thi
hành
phải
chịu.
Điều
43
Luật
thi
hành
án
dân
sự
quy
định:
“Thông
báo
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng.
1.
Thông
báo
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng
chỉ
được
thực
hiện
khi
pháp
luật
có
quy
định
hoặc
khi
đương
sự
có
yêu
cầu...”
Theo
quy
định
nêu
trên
thì
hình
thức
thông
báo
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng
chỉ
được
thực
hiện
khi:
Pháp
luật
có
quy
định
hoặc
đương
sự
có
yêu
cầu.
Thực
tế
hiện
nay,
một
số
Chấp
hành
viên
và
cơ
quan
thi
hành
án
dân
sự
vẫn
thực
hiện
việc
thông
báo
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng
trong
trường
hợp
người
được
thi
hành
án
yêu
cầu
cơ
quan
thi
hành
án
thông
báo
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng
về
các
quyết
định,
văn
bản
để
người
được
thi
hành
án
nắm
được.
Như
vậy
trong
trường
hợp
pháp
luật
không
quy
định
mà
Chấp
hành
viên
(Cơ
quan
Thi
hành
án)
lại
thông
báo
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng
là
không
đúng
với
quy
định
của
Điều
luật
trên
và
có
thể
xảy
ra
khiếu
nại
của
người
phải
thi
hành
án.
3.
Về
điều
kiện
hoãn
thi
hành
án.
Điều
48,
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
quy
định:
“1.
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
dân
sự
ra
quyết
định
hoãn
thi
hành
án
trong
trường
hợp
sau
đây:
a)…
b)Chưa
xác
định
được
địa
chỉ
của
người
phải
thi
hành
án
hoặc
vì
lý
do
chính
đáng
khác
mà
người
phải
thi
hành
án
không
thể
tự
mình
thực
hiện
được
nghĩa
vụ
theo
bản
án,
quyết
định;…”
Hiện
nay
chưa
có
văn
bản
hướng
dẫn
về
điều
kiện
hoãn
thi
hành
án
đối
với
trường
hợp
vì
lý
do
chính
đáng
khác
mà
người
phải
thi
hành
án
không
thể
tự
mình
thực
hiện
được
nghĩa
vụ
theo
bản
án,
quyết
định.
Do
đó
thực
tiễn
việc
áp
dụng
hoãn
còn
tùy
tiện,
không
thống
nhất
giữa
các
địa
phương
khác
nhau.
4.
Về
việc
thực
hiện
quy
định
về
miễn,
giảm thi
hành
án:
Điều
61
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
quy
định:
“Điều
kiện
miễn,
giảm
nghĩa
vụ
thi
hành
án
đối
với
khoản
thu
nộp
ngân
sách
nhà
nước
1.
Người
phải
thi
hành
án
được
xét
miễn
nghĩa
vụ
thi
hành
án
khi
có
đủ
các
điều
kiện
sau
đây:
a)
Không
có
tài
sản
hoặc
có
tài
sản
nhưng
tài
sản
đó
theo
quy
định
của
pháp
luật
không
được
xử
lý
để
thi
hành
án
hoặc
là
không
có
thu
nhập
hoặc
có
thu
nhập
chỉ
đảm
bảo
cuộc
sống
tối
thiểu
cho
người
phải
thi
hành
án
và
người
mà
họ
có
trách
nhiệm
nuôi
dưỡng;
b)
Hết
thời
hạn
05
năm,
kể
từ
ngày
ra
quyết
định
thi
hành
án
đối
với
các
khoản
thu
nộp
ngân
sách
nhà
nước
có
trị
giá
dưới
2.000.000
đồng
hoặc
hết
thời
hạn
10
năm,
kể
từ
ngày
ra
quyết
định
thi
hành
án
đối
với
các
khoản
thu
nộp
ngân
sách
nhà
nước
có
giá
trị
từ
2.000.000
đồng
đến
dưới
5.000.000
đồng.
2.
Người
phải
thi
hành
án
đã
thi
hành
được
một
phần
khoản
thu
nộp
ngân
sách
nhà
nước
được
xét
miễn
thi
hành
phần
nghĩa
vụ
còn
lại
khi
có
đủ
các
điều
kiện
sau
đây:
a)
Thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
a
khoản
1
Điều
này;
b)
Hết
thời
hạn
05
năm,
kể
từ
ngày
ra
quyết
định
thi
hành
án
mà
phần
nghĩa
vụ
còn
lại
có
trị
giá
dưới
5.000.000
đồng
hoặc
hết
thời
hạn
10
năm,
kể
từ
ngày
ra
quyết
định
thi
hành
án
mà
phần
nghĩa
vụ
còn
lại
có
giá
trị
từ
5.000.000
đồng
đến
dưới
10.000.000
đồng.
3.
Người
phải
thi
hành
án
đã
thi
hành
được
một
phần
khoản
thu
nộp
ngân
sách
nhà
nước
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
a,
khoản
1
Điều
này
thì
được
xét
giảm
một
phần
nghĩa
vụ
thi
hành
án
khi
có
đủ
điều
kiện
sau
đây:
a)
Hết
thời
hạn
05
năm,
kể
từ
ngày
ra
quyết
định
thi
hành
án
mà
phần
nghĩa
vụ
còn
lại
có
trị
giá
trị
từ
10.000.000
đồng
đến
100.000.000
đồng,
mỗi
lần
giảm
không
quá
một
phần
tư
số
tiền
còn
lại
phải
thi
hành
án;
b)
Hết
thời
hạn
10
năm,
kể
từ
ngày
ra
quyết
định
thi
hành
án
mà
phần
nghĩa
vụ
còn
lại
có
giá
trị
từ
trên
100.000.000
đồng
mỗi
lần
giảm
không
quá
một
phần
tư
số
tiền
còn
lại
phải
thi
hành
án
nhưng
tối
đa
không
quá
50.000.000
đồng;
4...”
Theo
quy
định
nêu
trên
đối
với
người
được
xét
miễn
nghĩa
vụ
thi
hành
án
theo
khoản
1,
Điều
61
phải
là
người
không
có
tài
sản
hoặc
có
tài
sản
nhưng
tài
sản
đó
theo
quy
định
của
pháp
luật
không
được
xử
lý
để
thi
hành
án
hoặc
là
không
có
thu
nhập
hoặc
có
thu
nhập
chỉ
đảm
bảo
cuộc
sống
tối
thiểu
cho
người
phải
thi
hành
án
và
người
mà
họ
có
trách
nhiệm
nuôi
dưỡng;
Nhưng
theo
quy
định
tại
Điều
2
của
Thông
tư
liên
tịch
số
12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC
của
Bộ
Tư
pháp,
Bộ
Tài
chính,
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
hướng
dẫn
việc
miễn,
giảm
nghĩa
vụ
thi
hành
án
đối
với
khoản
thu,
nộp
ngân
sách
nhà
nước
quy
định
các
khoản
thuộc
diện
được
xét,
miễn,
giảm
thi
hành
án:
“…bao
gồm
tiền
phạt,
truy
thu
tiền,
tài
sản
thu
lợi
bất
chính,
án
phí,
lệ
phí
Tòa
án,
tịch
thu
sung
quỹ
nhà
nước,
các
khoản
thu
nộp
khác
cho
ngân
sách
nhà
nước
được
xác
định
trong
bản
án,
quyết
định
của
Tòa
án
đã
có
hiệu
lực
pháp
luật;
lãi
chậm
thi
hành
án
đối
với
khoản
được
miễn,
giảm
(nếu
có)...”.
Thực
tiễn
hiện
nay
nhiều
bản
án
tuyên
phần
lãi
suất
chậm
thi
hành
án
đối
với
người
phải
thi
hành
án.
Trong
khi
đó
người
phải
thi
hành
án
thuộc
diện
được
xét
miễn,
giảm
các
khoản
thu,
nộp
ngân
sách
nhà
nước
là
người
không
tài
sản
hoặc
là
người
không
có
thu
nhập
hoặc
có
thu
nhập
chỉ
đảm
bảo
cuộc
sống
tối
thiểu.
Mặt
khác
điều
kiện
về
thời
gian
được
xét
miễn
tối
thiểu
là
05
năm
đối
với
khoản
tiền
dưới
2.000.000
đồng.
Như
vậy
sau
05
năm
khoản
tiền
lãi
chậm
thi
hành
án
của
khoản
tiền
phải
thu
nộp
ngân
sách
không
phải
là
nhỏ.
Nếu
cộng
thêm
khoản
tiền
lãi
này
vào
khoản
phải
thi
hành
án
thì
số
tiền
thường
lớn
hơn
2.000.000
đồng,
với
số
tiền
trên
2.000.000
đồng
thì
điều
kiện
về
thời
gian
để
được
xét
miễn
lại
là
10
năm,
và
sau
10
năm
khoản
tiền
lãi
cộng
vào
sẽ
là
trên
5.000.000
đồng
như
vậy
sẽ
không
đủ
điều
kiện
để
được
xét
miễn
thi
hành
án
mà
chỉ
đủ
điều
kiện
để
xét
giảm
thi
hành
án.
Đối
với
trường
hợp
được
xét
miễn,
giảm
theo
khoản
2,
3
Điều
61
thì
người
được
miễn,
giảm
nghĩa
vụ
thi
hành
án
cũng
phải
là
người
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
a,
khoản
1
Điều
61
nêu
trên
và
phải
thi
hành
được
một
phần
nghĩa
vụ.
Quy
định
này
rất
khó
thực
thi
vì
rất
nhiều
vụ
việc
đủ
điều
kiện
về
thời
gian
nhưng
người
phải
thi
hành
án
không
có
khả
năng
thi
hành
dù
khoản
tiền
rất
nhỏ,
gia
đình
người
phải
thi
hành
án
thuộc
hộ
nghèo
ở
địa
phương
hoặc
người
phải
thi
hành
án
là
người
nước
ngoài,
không
rõ
địa
chỉ…. Mặt
khác,
tại
điểm
a,
khoản
3,
Điều
61
Luật
thi
hành
án
dân
sự
quy
định
về
điều
kiện
tối
thiểu
để
được
xét
giảm
nghĩa
vụ
thi
hành
án
là
hết
thời
hạn
05
năm
kể
từ
ngày
ra
quyết
định
thi
hành
án
mà
phần
nghĩa
vụ
còn
lại
có
giá
trị
từ
10.000.000
đồng
đến
100.000.000
đồng.
Như
vậy
đối
với
trường
hợp
người
phải
thi
hành
đã
đủ
điều
kiện
về
thời
gian
nhưng
số
tiền
còn
phải
thi
hành
án
từ
5.000.000
đồng
đến
dưới
10.000.000
đồng
thì
Luật
thi
hành
án
dân
sự
không
quy
định
được
giảm,
và
cũng
không
có
văn
bản
hướng
dẫn.
Thực
tế
có
những
trường
hợp
đã
đề
nghị
và
được
xét
giảm
đến
dưới
10
triệu
đồng
phải
dừng
lại
không
được
xét
giảm
tiếp
mà
phải
đợi
đủ
thời
gian
10
năm
để
xét
miễn
theo
quy
định
tại
điểm
b,
khoản
2
Điều
61.
Như
đã
nêu
trên
sau
10
năm
số
tiền
lãi
của
khoản
tiền
còn
phải
thi
hành
án
nếu
cộng
vào
thì
số
tiền
phải
thi
hành
án
lại
lớn
hơn
10.000.000
đồng
như
vậy
không
đủ
điều
kiện
để
được
xét
miễn.
Do
đó
việc
xét
miễn
nghĩa
vụ
thi
hành
án
đối
với
khoản
tiền
còn
phải
thi
hành
từ
5.000.000
đồng
đến
dưới
10.000.000
đồng
theo
khoản
2
điều
61
là
rất
khó
có
tính
khả
thi.
5.
Về
cưỡng
chế
đối
với
tài
sản
thuộc
sở
hữu
chung
Điều
74
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
quy
định:
“Xác
định,
phân
chia
xử
lý
tài
sản
chung
để
thi
hành
án:
1.
Trường
hợp
chưa
xác
định
được
phần
quyền
sở
hữa
tài
sản,
phần
quyền
sử
dụng
đất
của
người
phải
thi
hành
án
trong
khối
tài
sản
chung
để
thi
hành
án
thì
Chấp
hành
viên
phải
thông
báo
cho
người
phải
thi
hành
án
và
những
người
có
quyền
sở
hữu
chung
đối
với
tài
sản,
quyền
sử
dụng
đất
biết
để
họ
tự
thỏa
thuận
phân
chia
tài
sản
chung
hoặc
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
theo
thủ
tục
tố
tụng
dân
sự.
Hết
thời
hạn
30
ngày…
các
bên
không
thỏa
thuận
hoặc
thỏa
thuận
không
được
và
không
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
thì
Chấp
hành
viên
thông
báo
cho
người
được
thi
hành
án
có
quyền
yêu
cầu
tòa
án
xác
định
phần
quyền
sở
hữu
tài
sản,
phần
quyền
sử
dụng
đất
của
người
phải
thi
hành
án
trong
khối
tài
sản
chung…
…Người
được
thi
hành
án
không
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
thì
Chấp
hành
viên
yêu
cầu
tòa
án
xác
định
phần
quyền
sở
hữu
tài
sản,
phần
quyền
sử
dụng
đất
của
người
phải
thi
hành
án
trong
khối
tài
sản
chung…”.
Thực
tiễn
cho
thấy
việc
cưỡng
chế
đối
với
tài
sản
thuộc
sở
hữu
chung
của
nhiều
người
(nhất
là
quyền
sử
dụng
đất)
còn
gặp
nhiều
khó
khăn
bởi
Điều
74
chưa
quy
định
cụ
thể
việc
thực
hiện
khởi
kiện
như
thế
nào?
Mà
chỉ
quy
định
có
các
chủ
thể
(người
đồng
sở
hữu
chung;
người
được
thi
hành
án
và
Chấp
hành
viên) được
khởi
kiện
yêu
cầu
Tòa
án
xác
định
phần
sở
hữu
của
người
phải
thi
hành
án
trong
khối
tài
sản
chung
để
bảo
đảm
thi
hành
án.
Khi
cơ
quan
Thi
hành
án
xác
định
người
phải
thi
hành
án
có
tài
sản
là
tài
sản
chung
mà
chây
ỳ
không
tự
nguyện
thi
hành
án
sẽ
áp
dụng
biện
pháp
cưỡng
chế.
Nhưng
để
xác
định
đúng
phần
thuộc
sở
hữu
của
người
phải
thi
hành
án
trong
khối
tài
sản
chung
thì
phải
do
các
đồng
sở
hữu
chung
thỏa
thuận.
Vì
người
phải
thi
hành
án
đã
không
tự
nguyện
nên
việc
tự
thỏa
thuận
không
thể
đạt
được,
mà
người
đồng
sở
hữu
chung
(thường
là
anh
em,
họ
hàng
trong
gia
đình)
cũng
không
thực
hiện
việc
khởi
kiện
yêu
cầu
Tòa
án
xác
định
phần
sở
hữu
của
người
phải
thi
hành
án.
Nếu
các
đồng
sở
hữu
chung
không
khởi
kiện
thì
đến
người
được
thi
hành
án
khởi
kiện.
Thực
tế
có
trường
hợp
người
được
thi
hành
án
không
thực
hiện
quyền
khởi
kiện
thì
Chấp
hành
viên
phải
thực
hiện
quyền
yêu
cầu
Tòa
án
xác
định
phần
sở
hữu
của
người
phải
thi
hành
án
trong
khối
tài
sản
chung
để
bảo
đảm
thi
hành
án.
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
đã
quy
định
đầy
đủ
mọi
trường
hợp
để
có
thể
xác
định
được
phần
sở
hữu
của
người
phải
thi
hành
án
trong
khối
tài
sản
chung
nhưng
chưa
có
văn
bản
nào
hướng
dẫn
thủ
tục
các
đối
tượng
trên
được
khởi
kiện
tại
Tòa
án
như
thế
nào.
Đây
là
một
vướng
mắc
thực
tế
đang
diễn
ra
trong
quá
trình
thực
hiện
Luật
thi
hành
án
dân
sự,
sửa
đổi
bổ
sung
năm
2014.
Do
vậy
có
trường
hợp
xác
định
người
phải
thi
hành
án
có
điều
kiện
để
thi
hành
án
là
tài
sản
chung
với
một
số
đồng
sở
hữu
tài
sản
chung
khác
nhưng
do
chưa
có
hướng
dẫn
quy
định
cụ
thể
tư
cách
tố
tụng
của
các
chủ
thể
khi
có
yêu
cầu
khởi
kiện
chia
tài
sản
chung
(người
được
thi
hành
án,
Chấp
hành
viên)
cũng
như
thủ
tục
Tòa
án
thụ
lý,
giải
quyết
yêu
cầu
chia
tài
sản
chung
trong
trường
hợp
theo
quy
định
điều
74
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
như
thế
nào
nên
không
thể
xác
định
được
kỷ
phần
của
người
phải
thi
hành
án
trong
khối
tài
sản
chung
để
thực
hiện
cưỡng
chế
thi
hành
án
dân
sự.
Trên
đây
là
một
số
khó
khăn, vướng
mắc
trong
nhận
thức
và
áp
dụng
các
quy
định
của
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
(sửa
đổi
bổ
sung năm
2014).
Vì
vậy
đề
nghị
Liên
ngành
Bộ
Tư
pháp,
Tòa
án
nhân
dân
Tối
cao,
Viện
Kiểm
sát
nhân
dân
Tối
cao
cần
có
văn
bản
hướng
dẫn
cụ
thể:
-
Về
mức
thu
của
từng
loại
chi
phí
thông
báo
thi
hành
án
do
người
phải
thi
hành
án,
ngân
sách
nhà
nước
chi
trả
hoặc
người
được
thi
hành
án
phải
chịu;
-
Về
điều
kiện
hoãn
thi
hành
án
trong
trường
hợp
vì
lý
do
chính
đáng
khác
mà
người
phải
thi
hành
án
không
thể
tự
mình
thực
hiện
nghĩa
vụ
theo
bản
án,
quyết
định;
-
Về
điều
kiện,
trình
tự
thủ
tục
trong
việc
xét
giảm
nghĩa
vụ
thi
hành
án
đối
với
người
phải
thi
hành
án
trong
trường
hợp
số
tiền
còn
phải
thi
hành
từ
5.000.000
đồng
đến
dưới
10.000.000
đồng;
-
Về
trường
hợp
xét
miễn,
giảm
nghĩa
vụ
thi
hành
án
chỉ
xem
xét
số
tiền
còn
phải
thu,
nộp
ngân
sách
nhà
nước
là
điều
kiện
để
miễn,
giảm;
không
cộng
số
tiền
lãi
suất
chậm
thi
hành
vào
để
thành
tổng
số
tiền
phải
thi
hành
án
rồi
mới
xem
xét
là
là
điều
kiện,
miễn,
giảm
nghĩa
vụ
thi
hành
án;
-
Về
trình
tự,
thủ
tục
khởi
kiện
yêu
cầu
Tòa
án
xác
định
phần
quyền
sở
hữu
tài
sản,
quyền
sử
dụng
đất
của
người
phải
thi
hành
án
trong
khối
tài
sản
chung
đối
với
các
chủ
thể
là
các
đồng
sở
hữu
chung,
người
được
thi
hành
án
và
Chấp
hành
viên.
Hoàn
thiện
hệ
thống
các
văn
bản
hướng
dẫn
thi
hành
Luật
thi
hành
án
dân
sự
mang
tính
đồng
bộ,
thống
nhất
với
các
Luật
chuyên
ngành
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
để
công
tác
Thi
hành
dân
sự
cũng
như
công
tác
Kiểm
sát
thi
hành
án
dân
sự
đạt
hiệu
quả
cao.
Đào
Thị
Hảo