Bản
án
là
loại
văn
bản
đặc
trưng
riêng
có
và
chỉ
Tòa
án
mới
có
thẩm
quyền
ban
hành
bản
án
theo
trình
tự
tố
tụng
chặt
chẽ
được
quy
định
trong
pháp
luật
tố
tụng.
Bản
án
là
văn
bản
ghi
nhận
phán
quyết
của
Tòa
án
sau
khi
xét
xử
một
vụ
án.
Bản
án
đánh
dấu
sự
kết
thúc
toàn
bộ
quá
trình
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử,
cho
nên
nội
dung
của
bản
án
phản
ánh
những
kết
quả
của
phiên
tòa
và
ý
kiến
phân
tích,
đánh
giá
của
Hội
đồng
xét
xử.
Bản
án
hình
sự
là
văn
bản
ghi
nhận
phán
quyết
của
Tòa
án
sau
khi
xét
xử
một
vụ
án
hình
sự;
là
phán
quyết
của
Hội
đồng
xét
xử,
dựa
trên
kết
quả
tranh
luận
tại
phiên
tòa
sơ
thẩm
(giữa
bên
công
tố
với
bên
bào
chữa
và
những
người
tham
gia
tố
tụng
khác).
Đây
là
một
văn
bản
tố
tụng
quan
trọng
nhưng
chưa
có
hiệu
lực
pháp
luật
ngay
và
có
thể
bị
kháng
cáo
hoặc
kháng
nghị.
Đối
với
việc
xét
xử
sơ
thẩm,
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
năm
2015
có
những
quy
định
mới,
phù
hợp
với
thực
tiễn
áp
dụng
pháp
luật.
Ví
dụ
quy
định
TAND
cấp
tỉnh
và
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
có
quyền
xét
xử
những
vụ
án
hình
sự
thuộc
thẩm
quyền
xét
xử
của
TAND
cấp
huyện
và
Tòa
án
Quân
sự
khu
vực
nhưng
có
nhiều
tình
tiết
phức
tạp
khó
đánh
giá,
thống
nhất
về
tính
chất
vụ
án
hoặc
liên
quan
đến
nhiều
cấp,
nhiều
ngành;
vụ
án
mà
bị
cáo
là
Thẩm
phán,
Kiểm
sát
viên,
Điều
tra
viên,
cán
bộ
lãnh
đạo
chủ
chốt
ở
huyện,
quận,
thị
xã,
thành
phố
thuộc
tỉnh,
thành
phố
trực
thuộc
trung
ương,
người
có
chức
sắc
trong
tôn
giáo
hoặc
có
uy
tín
cao
trong
dân
tộc
ít
người
(điểm
c,
khoản
2
Điều
268).
Bộ
luật
cũng
bổ
sung
quy
định
cho
phép
TAND
cấp
tỉnh
và
Tòa
án
Quân
sự
cấp
quân
khu
được
quyền
xét
xử
những
vụ
án
hình
sự
mà
bị
cáo,
bị
hại,
nguyên
đơn
dân
sự,
bị
đơn
dân
sự,
người
có
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
liên
quan
đến
vụ
án
ở
nước
ngoài
hoặc
tài
sản
có
liên
quan
đến
vụ
án
ở
nước
ngoài;
bổ
sung
02
điều
luật
(Điều
272
và
273)
quy
định
về
thẩm
quyền
xét
xử
sơ
thẩm
của
Tòa
án
Quân
sự
và
cách
phân
định
thẩm
quyền
xét
xử
đối
với
vụ
án
vừa
có
bị
cáo
hoặc
tội
phạm
thuộc
thẩm
quyền
xét
xử
của
Tòa
án
Quân
sự,
vừa
có
bị
cáo
hoặc
tội
phạm
thuộc
thẩm
quyền
xét
xử
của
TAND.
Tuy
nhiên,
trên
thực
tế
việc
thực
hiện
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
năm
2015
về
việc
gửi
bản
án
hình
sự
sơ
thẩm
còn
có
vướng
mắc.
Về
thời
hạn
gửi
bản
án
hình
sự
sơ
thẩm,
theo
quy
định
tại
khoản
1,
Điều
262
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
quy
định:
“Trong
thời
hạn
10
ngày
kể
từ
ngày
tuyên
án,
Tòa
án
cấp
sơ
thẩm
phải
giao
bản
án
cho
bị
cáo,
bị
hại,
Viện
kiểm
sát
cùng
cấp,
người
bào
chữa;
gửi
bản
án
cho
bị
cáo
bị
xét
xử
vắng
mặt
quy
định
tại
điểm
c
khoản
2
Điều
290
của
Bộ
luật
này,
Viện
kiểm
sát
cấp
trên
trực
tiếp,
Cơ
quan
điều
tra
cùng
cấp,
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
có
thẩm
quyền,
Trại
tạm
giam,
Trại
giam
nơi
đang
giam
giữ
bị
cáo;
thông
báo
bằng
văn
bản
cho
chính
quyền
xã,
phường,
thị
trấn
nơi
bị
cáo
cư
trú
hoặc
cơ
quan,
tổ
chức
nơi
bị
cáo
làm
việc,
học
tập;
cấp
bản
sao
bản
án
hoặc
trích
lục
bản
án
về
những
phần
có
liên
quan
cho
đương
sự
hoặc
người
đại
diện
của
họ”.
Như
vậy,
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
chỉ
quy
định
việc
Tòa
án
xét
xử
sơ
thẩm
gửi
bản
án
cho
Cơ
quan
điều
tra
cùng
cấp,
không
quy
định
Tòa
án
xét
xử
sơ
thẩm
gửi
bản
án
cho
Cơ
quan
điều
tra
đã
tiến
hành
điều
tra
vụ
án.
Đối
với
vụ
án
do
Cơ
quan
điều
tra
cấp
trên
cùng
cấp
điều
tra,
kết
thúc
điều
tra
ban
hành
Bản
kết
luận
điều
tra
chuyển
đến
Viện
kiểm
sát
thực
hành
quyền
công
tố,
kiểm
sát
điều
tra
đề
nghị
truy
tố.
Sau
khi
Viện
kiểm
sát
ban
hành
Cáo
trạng
truy
tố
bị
can
đến
Tòa
án
có
thẩm
quyền
xét
xử
sơ
thẩm
và
phân
công
Viện
kiểm
sát
cấp
dưới
thực
hành
quyền
công
tố,
kiểm
sát
xét
xử
hình
sự
đối
với
vụ
án
hoặc
sau
khi
cơ
quan
điều
tra
cấp
trên
kết
thúc
điều
tra
chuyển
đến
Viện
kiểm
sát
cùng
cấp,
sau
đó
Viện
kiểm
sát
cấp
trên
chuyển
hồ
sơ
vụ
án
đến
Viện
kiểm
sát
cấp
dưới
(có
thẩm
quyền)
để
truy
tố
chuyển
Tòa
án
cùng
cấp,
Tòa
án
có
thẩm
quyền
xét
xử
sơ
thẩm,
ra
bản
án.
Vấn
đề
đặt
ra
là
theo
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
thì
sau
khi
ra
bản
án,
Tòa
án
có
thẩm
quyền
xét
xử
sơ
thẩm
gửi
bản
án
cho
Cơ
quan
điều
tra
cùng
cấp,
nhưng
Cơ
quan
điều
tra
cùng
cấp
không
tiến
hành
điều
tra
vụ
án.
Thực
tế
xảy
ra,
sau
khi
Điều
tra
viên
đã
tiến
hành
điều
tra
vụ
án
biết
vụ
án
đã
được
xét
xử
nên
liên
hệ
với
Thẩm
phán,
Thư
ký
phiên
tòa
Tòa
án
xét
xử
sơ
thẩm
đề
nghị
gửi
bản
án
để
Cơ
quan
điều
tra
lưu
hồ
sơ
theo
quy
định
thì
Thẩm
phán,
Thư
ký
trả
lời
luật
không
quy
định
gửi
bản
án
cho
Cơ
quan
điều
tra
cấp
trên,
dẫn
đến
không
có
bản
án
thì
không
lưu
hồ
sơ
được,
vi
phạm
thời
hạn
lưu
hồ
sơ
của
Cơ
quan
điều
tra
và
Viện
kiểm
sát
cũng
không
thực
hiện
được
quyền
kiến
nghị
đối
với
Tòa
án
thông
qua
công
tác
kiểm
sát
việc
gửi
bản
án.
Từ
thực
tiễn
áp
dụng
pháp
luật,
kiến
nghị
sửa
đổi,
bổ
sung
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
về
việc
gửi
bản
án
theo
hướng
“Trong
thời
hạn
10
ngày
kể
từ
ngày
tuyên
án,
Tòa
án
cấp
sơ
thẩm
phải
giao
bản
án
cho
bị
cáo,
bị
hại,
Viện
kiểm
sát
cùng
cấp,
người
bào
chữa;
gửi
bản
án
cho
bị
cáo
bị
xét
xử
vắng
mặt
quy
định
tại
điểm
c
khoản
2
Điều
290
của
Bộ
luật
này,
Viện
kiểm
sát
cấp
trên
trực
tiếp,
Cơ
quan
điều
tra
đã
tiến
hành
điều
tra
vụ
án…”
Ngô
Thị
Vỹ
Phòng
9,
Viện
KSND
tỉnh
Tuyên
Quang