Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 61

   Khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc chưa có điều kiện thi hành án chuyển sổ theo dõi riêng


Thứ hai - 10/06/2024 08:42
 
Trên cơ sở kết quả xác minh điều kiện thi hành án, xác định đương sự không có khả năng thực hiện nghĩa vụ, Cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đồng thời định kỳ tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án theo quy định. Việc chưa có điều kiện thi hành án được chia làm hai loại bao gồm: Việc chưa có điều kiện thi hành và việc chưa có điều kiện thi hành chuyển sổ theo dõi riêng. Nội dung bài viết này tác giả xin đề cập về vấn đề Chưa có điều kiện thi hành án chuyển sổ theo dõi riêng.

 
1. Cơ sở pháp lý
 
Việc chưa có điều kiện thi hành án chuyển sổ theo dõi riêng được quy định tại Khoản 5, 6 Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự. Theo đó khi đáp ứng đủ những điều kiện tại khoản 5 Điều 9 Nghị định 62/2015 thì Cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành án, bao gồm:
 
“ a) Đã hết thời hạn 02 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án hoặc đã hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án;
 
b) Đã xác minh ít nhất hai lần theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự;
 
c) Không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án”.
 
Đối chiếu với khoản 6 Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP: “Trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành”. Nay được sửa đổi bổ sung tại khoản 6 Điều 1 Nghị định 33/2020/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định “Việc thi hành án chưa có điều kiện quy định tại khoản 5 Điều này được thống kê riêng để theo dõi. Khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên tiến hành xác minh và tổ chức thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này”.
 
2. Khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn
 
Thông qua công tác kiểm sát thi hành án dân sự, tác giả nhận thấy còn có một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc chưa có điều kiện thi hành án chuyển sổ theo dõi riêng, cụ thể như sau:
 
Thứ nhất: Chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục cũng như cách thức để thực hiện việc chuyển sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành
 
Đối với những việc thi hành án chưa có điều kiện theo quy định được thống kê riêng để theo dõi (khi đã chuyển sổ theo dõi riêng sẽ không tiến hành xác minh theo định kỳ nữa), chỉ khi nắm bắt được thông tin mới về việc người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành án trở lại thì Chấp hành viên mới tiến hành xác minh và tổ chức thi hành theo quy định. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật lại không có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục cũng như cách thức để thực hiện việc chuyển sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành án. Việc “theo dõi riêng” sẽ được tiến hành như thế nào, Chấp hành viên sẽ phải thực hiện những biện pháp gì để nắm bắt được biến động hay thông tin mới về tài sản của người phải thi hành? Thực tế cho thấy, những việc thi hành án chuyển sổ theo dõi riêng mang tính chất là những việc khó thi hành, nhưng khả năng thi hành án của người phải thi hành án vẫn có khả năng thay đổi, ở các thời điểm khác nhau thì điều kiện thi hành án có thể khác nhau. Hiếm có trường hợp người phải thi hành án khi đã có điều kiện thi hành trở lại mà tự nguyện thi hành án, trái lại luôn có thái độ trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ, nếu Cơ quan thi hành án dân sự thụ động trong công tác quản lý việc chưa có điều kiện theo dõi riêng, trừ những khoản thu nộp ngân sách Nhà nước được giải quyết khi đến hạn đủ điều kiện xét miễn, giảm, hầu hết đều tồn đọng, không thể giải quyết.
 
Đồng thời pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc xác định thế nào là có thông tin mới, thông tin mới này có được từ những nguồn nào? Do cơ quan, tổ chức hay cá nhân cung cấp. Việc cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án cũng có những nhạy cảm, tương tự như tố cáo về hành vi của một người, nên việc cung cấp thông tin từ cơ sở và người dân là rất ít, họ lo sợ trả thù riêng. Bên cạnh đó cũng chưa có quy định về trách nhiệm của Chấp hành viên, cán bộ trực tiếp quản lý hồ sơ đối với việc chưa có điều kiện theo dõi riêng dẫn đến còn vướng mắc trong quá trình thực hiện trên thực tế.
 
Thứ hai, Đang có sự thiếu thống nhất giữa các quy định của pháp luật về việc chưa có điều kiện thi hành án chuyển theo dõi riêng
 
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP đối với những trường hợp chưa có điều kiện thi hành án có đủ điều kiện sẽ “chuyển sang sổ” theo dõi riêng để theo dõi. Theo đó khi đã có đủ các điều kiện thì phải chuyển sang sổ để theo dõi đối với các trường hợp này (phải có mẫu sổ để theo dõi). Tuy nhiên theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Nghị định 33/2020/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 62/2015/NĐ-CP) thì đối với những việc chưa có điều kiện thi hành theo dõi riêng sẽ được “thống kê riêng” để theo dõi.
 
Hiện tại, theo Thông tư 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự thì chỉ có mẫu sổ và biểu mẫu theo dõi việc chưa có điều kiện thi hành án mà không có mẫu sổ và biểu mẫu theo dõi việc chưa có điều kiện thi hành án theo dõi riêng (Điều 30 và Điều 33 Thông tư 04/2023). Dẫn đến khó khăn cho công tác theo dõi việc chưa có điều kiện thi hành án chuyển sang theo dõi riêng.
 
Thứ ba, Chưa có quy định về việc Cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc chuyển việc thi hành án từ chưa có điều kiện thi hành án sang diện theo dõi riêng, gây khó khăn cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, trong một số trường hợp có thể không kịp thời phát hiện vi phạm để ban hành kiến nghị, kháng nghị nếu Cơ quan thi hành án dân sự xác định việc theo dõi riêng chưa đúng theo quy định.
 
3. Một số kiến nghị
 
Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc nêu trên, tác giả xin kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền, liên ngành trung ương một số góp ý sửa đổi, bổ sung như sau:
 
1. Quy định rõ trách nhiệm của Chấp hành viên, cán bộ trực tiếp quản lý hồ sơ về việc chưa có điều kiện theo dõi riêng. Chủ động giữ liên lạc, thường xuyên liên hệ với Ủy ban nhân dân, Công an xã, phường, thị trấn, nơi cư trú, nơi có tài sản của người phải thi hành án, hoặc Ban quản lý Trại giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành án phạt tù, nhằm theo sát thực tế biến động tài sản của người phải thi hành án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên được thi hành án một cách có hiệu quả, tránh trường hợp người phải thi hành án có thái độ trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ, hạn chế tình trạng “treo việc”, tồn đọng kéo dài.
 
2. Quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn trong việc theo dõi, nắm bắt, cung cấp thông tin về biến động tài sản của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự. Định kỳ 01 năm tiến hành rà soát, thông tin về sự biến động tài sản của người phải thi hành cho Cơ quan thi hành án để theo dõi, quản lý đối với những việc chưa có điều kiện thi hành án chuyển theo dõi riêng.
 
3. Cần quy định thống nhất bổ sung mẫu sổ “theo dõi riêng cập nhật hằng năm” thay vì “thống kê riêng để theo dõi” như hiện nay để áp dụng thống nhất cũng như để Viện kiểm sát thực hiện tốt hơn công tác kiểm sát việc vào sổ, chuyển sổ đối với những việc chưa có điều kiện thi hành án chuyển theo dõi riêng của Cơ quan thi hành án.
 
4. Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn cần được bổ sung thêm quy định về những bất cập nêu trên và việc ra thông báo chuyển sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành án, gửi Thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền và thực hiện thông báo cho đương sự hoặc niêm yết công khai tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thực hiện xác minh.
 
Trên đây là ý kiến của tác giả về khó khăn, vướng mắc và một số kiến nghị liên quan đến việc chưa có điều kiện thi hành án, rất mong nhận được sự quan tâm tham gia ý kiến của các bạn đọc.
 
                                               Ma Ngọc Biền – VKSND huyện Lâm Bình
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết





 

Scroll to top