Theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
107
Hiến
pháp
năm
2013,
Viện
kiểm
sát
có
chức
năng
"Thực
hành
quyền
công
tố,
kiểm
sát
hoạt
động
tư
pháp".
Để
làm
tốt
chức
năng
đó
thì
khâu
công
tác
kiểm
sát
việc
tiếp
nhận,
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
tội
phạm
và
kiến
nghị
khởi
tố
là
một
trong
những
khâu
công
tác
thực
hiện
chức
năng
đặc
biệt
quan
trọng.
Làm
tốt
khâu
công
tác
này
sẽ
hạn
chế
đến
mức
thấp
nhất
việc
làm
oan
người
vô
tội,
bỏ
lọt
tội
phạm
và
người
phạm
tội,
là
sự
khởi
đầu
cho
một
quá
trình
tố
tụng,
là
"đầu
vào"
của
một
vụ
án.
Tuy
nhiên
trong
thực
tiễn
đã
nảy
sinh
một
số
khó
khăn,
vướng
mắc
như
sau:
1.
Phân
định
các
khái
niệm
về
tố
giác,
tin
báo
tội
phạm
và
hành
vi
vi
phạm
hành
chính.
Điều
144
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
quy
định
về
Tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm,
kiến
nghị
khởi
tố:
“1.
Tố
giác
về
tội
phạm
là
việc
cá
nhân
phát
hiện
và
tố
cáo
hành
vi
có
dấu
hiệu
tội
phạm
với
cơ
quan
có
thẩm
quyền.
2.
Tin
báo
về
tội
phạm
là
thông
tin
về
vụ
việc
có
dấu
hiệu
tội
phạm
do
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
thông
báo
với
cơ
quan
có
thẩm
quyền
hoặc
thông
tin
về
tội
phạm
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng.
3.
Kiến
nghị
khởi
tố
là
việc
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền
kiến
nghị
bằng
văn
bản
và
gửi
kèm
theo
chứng
cứ,
tài
liệu
liên
quan
cho
Cơ
quan
điều
tra,
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
xem
xét,
xử
lý
vụ
việc
có
dấu
hiệu
tội
phạm.
4.
Tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
có
thể
bằng
lời
hoặc
bằng
văn
bản.
5.
Người
nào
cố
ý
tố
giác,
báo
tin
về
tội
phạm
sai
sự
thật
thì
tuỳ
tính
chất,
mức
độ
vi
phạm
mà
bị
xử
lý
kỷ
luật,
xử
phạt
vi
phạm
hành
chính
hoặc
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
theo
quy
định
của
luật”.
Theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
2
Luật
Xử
lý
vi
phạm
hành
chính:
“Điều
2.
Giải
thích
từ
ngữ
Trong
Luật
này,
các
từ
ngữ
dưới
đây
được
hiểu
như
sau:
1. Vi
phạm
hành
chính là
hành
vi
có
lỗi
do
cá
nhân,
tổ
chức
thực
hiện,
vi
phạm
quy
định
của
pháp
luật
về
quản
lý
nhà
nước
mà
không
phải
là
tội
phạm
và
theo
quy
định
của
pháp
luật
phải
bị
xử
phạt
vi
phạm
hành
chính.
…”.
Từ
quy
định
trên
đây
có
thế
hiểu,
những
vi
phạm
do
pháp
luật
quy
định
trong
các
lĩnh
vực
quản
lý
nhà
nước
nhưng
chưa
đến
mức
bị
xử
lý
hình
sự
theo
quy
định
của
pháp
luật
hình
sự
thì
được
coi
là
vi
phạm
hành
chính.
Trong
khi
Viện
kiểm
sát
chỉ
thực
hiện
chức
năng
kiểm
sát
việc
tiếp
nhận,
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
và
kiến
nghị
khởi
tố
thì
trong
lĩnh
vực
xử
lý
vi
phạm
hành
chính
Viện
kiểm
sát
không
có
chức
năng
kiểm
sát.
Chính
vì
vậy
mà
trong
thời
gian
qua
có
nhiều
khó
khăn,
vướng
mắc
trong
việc
xác
định
hành
vi
giữa
tố
giác,
tin
báo
tội
phạm
và
thuộc
đối
tượng
kiểm
sát
của
Viện
kiểm
sát
hay
là
hành
vi
vi
phạm
hành
chính
và
Viện
kiểm
sát
không
có
chức
năng
kiểm
sát
đối
với
các
quyết
định
xử
phạt
hành
chính.
Ví
dụ:
Vào
ngày
15/01/2021
qua
tin
báo
của
quần
chúng
nhân
dân,
Cơ
quan
Cảnh
sát
điều
tra
Công
an
huyện
tiến
hành
kiểm
tra
và
lập
biên
bản
vi
phạm
hành
chính
đối
với
Nguyễn
Văn
A,
Trần
Văn
B,
Lù
Đình
L,
Trịnh
Cao
K
về
hành
vi
đánh
bạc,
thu
giữ
trên
chiếu
bạc
số
tiền
4.505.000
đồng.
Tại
thời
điểm
này
chưa
xác
định
được
A,
B,
L,
K
đã
có
tiền
án,
tiền
sự
về
tội
Đánh
bạc,
tội
Tổ
chức
đánh
bạc
hoặc
Gá
bạc.
Quan
điểm
1:
Trong
vụ
việc
này
đó
là
tin
báo
tội
phạm,
cơ
quan
điều
tra
cần
phải
lập
biên
bản
sự
việc,
vào
thụ
lý
tin
báo
về
tội
phạm
và
tiến
hành
điều
tra
xác
minh
nhân
thân,
tiền
án,
tiền
sự
của
các
đối
tượng.
Trên
cơ
sở
các
tài
liệu
thu
thập
được
để
ra
quyết
định
giải
quyết
tin
báo
(Khởi
tố
vụ
án
hoặc
không
khởi
tố
vụ
án)
theo
quy
định
tại
Điều
154
hoặc
theo
Điều
157
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự.
Quan
điểm
2:
Cho
rằng
đó
chỉ
là
hành
vi
vi
phạm
hành
chính,
do
vậy
chỉ
tiến
hành
lập
biên
bản
đối
với
người
có
hành
vi
vi
phạm
hành
chính,
sau
đó
xác
minh
theo
thủ
tục
hành
chính,
làm
rõ
về
nhân
thân
của
các
đối
tượng,
nếu
các
đối
tượng
không
có
tiền
án,
tiền
sự
về
tội
Đánh
bạc,
tội
Tổ
chức
đánh
bạc
hoặc
Gá
bạc
thì
ra
quyết
định
xử
phạt
hành
chính.
Nếu
một
trong
các
đối
tượng
có
tiền
án,
tiền
sự
về
tội
Đánh
bạc,
tội
Tổ
chức
đánh
bạc
hoặc
Gá
bạc
thì
làm
thủ
tục
chuyển
hồ
sơ
vụ
vi
phạm
có
dấu
hiệu
tội
phạm
để
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
theo
quy
định
tại
Điều
62
Luật
Xử
lý
vi
phạm
hành
chính
và
Viện
kiểm
sát
sẽ
kiểm
sát
theo
quy
định.
Tương
tự
như
các
tội
xác
định
tiền
án,
tiền
sự
là
căn
cứ
để
khởi
tố
vụ
án
như:
Tội
Trộm
cắp
tài
sản,
Lừa
đảo
chiếm
đoạt
tài
sản…
Do
đó
sẽ
ảnh
hưởng
đến
việc
kiểm
sát
mọi
nguồn
tin
về
tội
phạm
ngay
từ
khi
thụ
lý
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân.
*
Kiến
nghị,
đề
xuất:
Cần
phải
có
sự
hướng
dẫn
cụ
thể
để
áp
dụng
cho
thống
nhất
tránh
những
quan
điểm
khác
nhau
gây
khó
khăn
trong
công
tác
phối
hợp.
2.
Về
kiểm
sát
việc
thu
thập
các
tài
liệu
trong
quá
trình
điều
tra
được
quy
định
tại
Điều
160
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
quy
định
về
Nhiệm
vụ,
quyền
hạn
của
Viện
kiểm
sát
trong
việc
tiếp
nhận
và
kiểm
sát
việc
giải
quyết
nguồn
tin
về
tội
phạm.
Theo
quy
định
tại
Điều
160
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự:
Khi
được
phân
công
kiểm
sát
việc
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
hoặc
kiến
nghị
khởi
tố,
Kiểm
sát
viên
có
quyền:
Kiểm
sát
việc
kiểm
tra,
xác
minh
nguồn
tin
của
Cơ
quan
điều
tra
theo
quy
định
của
pháp
luật
tố
tụng
hình
sự;
kiểm
sát
việc
lập
hồ
sơ
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
hoặc
kiến
nghị
khởi
tố...
Tuy
nhiên
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
lại
không
quy
định
trong
quá
trình
điều
tra,
xác
minh
Cơ
quan
điều
tra
thu
thập
được
chứng
cứ,
tài
liệu
gì
phải
kịp
thời
trao
đổi
hoặc
chuyển
toàn
bộ
các
chứng
cứ,
tài
liệu
đó
cho
kiểm
sát
viên
để
kiểm
sát
việc
giải
quyết,
dẫn
đến
sau
khi
nhận
được
Hồ
sơ
giải
quyết
tin
báo,
Kiểm
sát
viên
đã
không
"chủ
động"
và
phải
mất
thời
gian
nghiên
cứu
dẫn
đến
khi
có
phát
hiện
ra
những
vi
phạm
trong
quá
trình
điều
tra,
xác
minh
(nếu
có)
cũng
khó
có
thể
khắc
phục
(vật
chứng
không
được
thu
giữ
kịp
thời,
các
dấu
vết
tại
hiện
trường
không
được
phản
ảnh
đầy
đủ...).
*
Kiến
nghị,
đề
xuất:
Bổ
sung
thêm
khoản
5
Điều
88
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
“5.
Trong
thời
hạn
05
ngày
kể
từ
ngày
lập
biên
bản
về
hoạt
động
điều
tra,
thu
thập,
nhận
được
tài
liệu
liên
quan
đến
nguồn
tin
về
tội
phạm
và
vụ
án
mà
Kiểm
sát
viên
không
trực
tiếp
kiểm
sát
theo
quy
định
của
Bộ
luật
này
thì
Cơ
quan
điều
tra,
cơ
quan
được
giao
nhiệm
vụ
tiến
hành
một
số
hoạt
động
điều
tra
có
trách
nhiệm
chuyển
biên
bản,
tài
liệu
này
cho
Viện
kiểm
sát
để
kiểm
sát
việc
lập
hồ
sơ
vụ
án.
Trường
hợp
do
trở
ngại
khách
quan
thì
thời
hạn
này
có
thể
kéo
dài
nhưng
không
quá
15
ngày.
Trong
thời
hạn
03
ngày,
Viện
kiểm
sát
đóng
dấu
bút
lục
và
sao
lưu
biên
bản,
tài
liệu
lưu
hồ
sơ
kiểm
sát
và
bàn
giao
nguyên
trạng
tài
liệu,
biên
bản
đó
cho
Cơ
quan
điều
tra,
cơ
quan
được
giao
nhiệm
vụ
tiến
hành
một
số
hoạt
động
điều
tra.
Việc
giao,
nhận
tài
liệu,
biên
bản
được
lập
biên
bản
theo
quy
định
tại
Điều
133
của
Bộ
luật
này”.
3.
Về
kiểm
sát
tin
báo,
tố
giác
tội
phạm
tại
Công
an
Xã,
Phường,
Thị
trấn:
Theo
quy
định
tại
Điều
1
thông
tư
liên
tịch
Thông
tư
liên
tịch
số
01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày
29/11/2021
“Điều
1.
Sửa
đổi,
bổ
sung khoản
5
Điều
8
Thông
tư
liên
tịch
số
01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày
29
tháng
12
năm
2017
quy
định
việc
phối
hợp
giữa
các
cơ
quan
có
thẩm
quyền
trong
việc
thực
hiện
một
số
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
năm
2015
về
tiếp
nhận,
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm,
kiến
nghị
khởi
tố
như
sau:
…
“5.
Công
an
xã,
phường,
thị
trấn,
Đồn
Công
an,
Trạm
Công
an
khi
tiếp
nhận
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
thì
thực
hiện
như
sau:
…
b)
Đối
với
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
không
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
a
khoản
này
thì
Công
an
xã,
phường,
thị
trấn,
Đồn
Công
an
lập
biên
bản
tiếp
nhận,
lấy
lời
khai
của
người
tố
giác,
báo
tin
về
tội
phạm,
lấy
lời
khai
người
bị
tố
giác,
người
bị
hại,
người
làm
chứng
và
những
người
có
liên
quan;
có
mặt
kiểm
tra,
xác
định
nơi
xảy
ra
vụ
việc,
vẽ
sơ
đồ
nơi
xảy
ra
vụ
việc,
bảo
vệ
hiện
trường;
xác
minh,
làm
rõ
nhân
thân,
lai
lịch
của
người
bị
tố
giác,
bị
hại
và
những
người
có
liên
quan;
xác
minh
sơ
bộ
thông
tin
về
hậu
quả
thiệt
hại;
phát
hiện,
tạm
giữ,
bảo
quản
tài
liệu,
đồ
vật
có
liên
quan
đến
hành
vi
có
dấu
hiệu
tội
phạm
và
chuyển
ngay
tố giác,
tin
báo
về
tội
phạm
kèm
theo
tài
liệu,
đồ
vật
có
liên
quan
cho
Cơ
quan
điều
tra
có
thẩm
quyền.
Thời
hạn
kể từ
khi
tiếp
nhận
đến
khi
chuyển
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
kèm
theo
tài
liệu,
đồ
vật
có
liên
quan
cho
Cơ
quan
điều
tra
có
thẩm
quyền
không
quá
07
ngày.
Trong
quá
trình
xử
lý
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
quy
định
tại
điểm
này
mà
có
căn
cứ
xác
định
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
a
khoản
này
thì
Công
an
xã,
phường,
thị
trấn,
Đồn
Công
an
thực
hiện
theo
quy
định
tại
điểm
a
khoản
này;
…”.
Như
vậy
Công
an
xã,
phường,
thị
trấn
sau
khi
tiếp
nhận
nguồn
tin
về
tội
phạm
thì
thực
hiện
lập
biên
bản
tiếp
nhận,
lấy
lời
khai
của
người
tố
giác,
báo
tin
về
tội
phạm,
lấy
lời
khai
người
bị
tố
giác,
người
bị
hại,
người
làm
chứng
và
những
người
có
liên
quan;
có
mặt
kiểm
tra,
xác
định
nơi
xảy
ra
vụ
việc,
vẽ
sơ
đồ
nơi
xảy
ra
vụ
việc,
bảo
vệ
hiện
trường;
xác
minh,
làm
rõ
nhân
thân,
lai
lịch
của
người
bị
tố
giác,
bị
hại
và
những
người
có
liên
quan;
xác
minh
sơ
bộ
thông
tin
về
hậu
quả
thiệt
hại;
phát
hiện,
tạm
giữ,
bảo
quản
tài
liệu,
đồ
vật
có
liên
quan
đến
hành
vi
có
dấu
hiệu
tội
phạm,
sau
chuyển
đến
Cơ
quan
Cảnh
sát
điều
tra
Công
an
cấp
huyện
trong
thời
hạn
07
ngày.
Tuy
nhiên
chưa
quy
định
việc
Công
an
xã,
phường,
thị
trấn
sau
khi
tiếp
nhận
nguồn
tin
về
tội
phạm
phải
gửi
thông
báo
cho
Viện
kiểm
sát
để
Viện
kiểm
sát
thực
hiện
chức
năng
kiểm
sát
việc
thụ
lý
nguồn
tin
về
tội
phạm.
*
Kiến
nghị,
đề
xuất:
Ngoài
việc
quy
định
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
kiểm
sát
việc
tiếp
nhận,
giải
quyết
của
Cơ
quan
điều
tra,
các
cơ
quan
được
giao
nhiệm
vụ
tiến
hành
một
số
hoạt
động
điều
tra
như
hiện
nay,
cần
quy
định
thêm
viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
kiểm
sát
việc
tiếp
nhận,
giải
quyết
đối
với
các
tố
giác,
tin
báo
tội
phạm
tại
các
đơn
vị
xã,
phường
tạo
cơ
sở
pháp
lý
để
Viện
kiểm
sát
thực
hiện
tốt
chức
năng,
nhiệm
vụ
của
mình.
Trên
đây
là
một
số
khó
khăn,
vướng
mắc
và
kiến
nghị,
đề
xuất
trong
công
tác
kiểm
sát
việc
tiếp
nhận,
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
và
kiến
nghị
khởi
tố.
Rất
mong
sự
tham
gia
ý
kiến,
trao
đổi
của
các
đồng
chí,
đồng
nghiệp.
Phạm
Việt
Hùng
-
VKSND
huyện
Sơn
Dương