Áp
giải
và
dẫn
giải
là
một
biện
pháp
cưỡng
chế
để
bảo
đảm
cho
hoạt
động
khởi
tố,
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
được
diễn
ra
theo
đúng
trình
tự,
quy
định
của
pháp
luật.
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
năm
2015
quy
định
về
biện
pháp
cưỡng
chế
(nằm
trong
Chương
VII
-
Biện
pháp
ngăn
chặn,
biện
pháp
cưỡng
chế).
Trong
đó
Điều
126
và
Điều
127
quy
định
cụ
thể
áp
giải
và
dẫn
giải
là
một
trong
4
biện
pháp
cưỡng
chế
và
trong
phạm
vi
thẩm
quyền
của
mình,
cơ
quan,
người
có
thẩm
quyền
tiến
hành
tố
tụng
có
thể
áp
dụng
để
bảo
đảm
cho
hoạt
động
khởi
tố,
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử,
thi
hành
án
được
tuân
thủ
đúng
pháp
luật.
Áp
giải
và
dẫn
giải
được
quy
định
tại
Điều
127
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
năm
2015
“Điều
127.
Áp
giải,
dẫn
giải
1.
Áp
giải
có
thể
áp
dụng
đối
với
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp,
người
bị
buộc
tội.
2.
Dẫn
giải
có
thể
áp
dụng
đối
với:
a)
Người
làm
chứng
trong
trường
hợp
họ
không
có
mặt
theo
giấy
triệu
tập
mà
không
vì
lý
do
bất
khả
kháng
hoặc
không
do
trở
ngại
khách
quan;
b)
Người
bị
hại
trong
trường
hợp
họ
từ
chối
việc
giám
định
theo
quyết
định
trưng
cầu
của
cơ
quan
có
thẩm
quyền
tiến
hành
tố
tụng
mà
không
vì
lý
do
bất
khả
kháng
hoặc
không
do
trở
ngại
khách
quan;
c)
Người
bị
tố
giác,
người
bị
kiến
nghị
khởi
tố
mà
qua
kiểm
tra,
xác
minh
có
đủ
căn
cứ
xác
định
người
đó
liên
quan
đến
hành
vi
phạm
tội
được
khởi
tố
vụ
án,
đã
được
triệu
tập
mà
vẫn
vắng
mặt
không
vì
lý
do
bất
khả
kháng
hoặc
không
do
trở
ngại
khách
quan.
3.
Điều
tra
viên,
cấp
trưởng
của
cơ
quan
được
giao
nhiệm
vụ
tiến
hành
một
số
hoạt
động
điều
tra,
Kiểm
sát
viên,
Thẩm
phán
chủ
tọa
phiên
tòa,
Hội
đồng
xét
xử
có
quyền
ra
quyết
định
áp
giải,
dẫn
giải.
4.
Quyết
định
áp
giải,
quyết
định
dẫn
giải
phải
ghi
rõ
họ
tên,
ngày,
tháng,
năm
sinh,
nơi
cư
trú
của
người
bị
áp
giải,
dẫn
giải;
thời
gian,
địa
điểm
người
bị
áp
giải,
dẫn
giải
phải
có
mặt
và
các
nội
dung
quy
định
tại
khoản
2
Điều
132
của
Bộ
luật
này.
5.
Người
thi
hành
quyết
định
áp
giải,
dẫn
giải
phải
đọc,
giải
thích
quyết
định
và
lập
biên
bản
về
việc
áp
giải,
dẫn
giải
theo
quy
định
tại
Điều
133
của
Bộ
luật
này.
Cơ
quan
Công
an
nhân
dân,
Quân
đội
nhân
dân
có
thẩm
quyền
có
trách
nhiệm
tổ
chức
thi
hành
quyết
định
áp
giải,
dẫn
giải.
6.
Không
được
bắt
đầu
việc
áp
giải,
dẫn
giải
người
vào
ban
đêm;
không
được
áp
giải,
dẫn
giải
người
già
yếu,
người
bị
bệnh
nặng
có
xác
nhận
của
cơ
quan
y
tế.”
Như
vậy,
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
năm
2015
đã
mở
rộng
hơn
về
đối
tượng
bị
áp
dụng
biện
pháp
cưỡng
chế
áp
giải,
dẫn
giải.
Cụ
thể
là:
biện
pháp
áp
giải
không
chỉ
được
áp
dụng
đối
với
bị
can,
bị
cáo
trong
trường
hợp
đã
được
triệu
tập
nhưng
vắng
mặt
không
có
lý
do
chính
đáng
mà
còn
được
áp
dụng
đối
với
người
bị
tạm
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp,
người
bị
buộc
tội
(điều
60,
61,
khoản
1
điều
126
BLTTHS
năm
2015);
biện
pháp
dẫn
giải
không
chỉ
được
áp
dụng
đối
với
người
làm
chứng
mà
còn
có
thể
được
áp
dụng
đối
với
người
bị
hại,
người
bị
tố
giác,
người
bị
kiến
nghị
khởi
tố
(trong
các
trường
hợp
cụ
thể
theo
khoản
2
điều
127
BLTTHS
năm
2015).
Đặc
biệt
việc
quy
định có
thể
dẫn
giải
người
bị
hại
trong
trường
hợp
họ
từ
chối
việc
giám
định
theo
quyết
định
trưng
cầu
của
cơ
quan
có
thẩm
quyền
tiến
hành
tố
tụng
mà
không
vì
lý
do
bất
khả
kháng
hoặc
không
do
trở
ngại
khách
quan,
qua
đó
giúp
cho
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
khắc
phục
được
khó
khăn
khi
giải
quyết
các
vụ
án
xâm
phạm
tính
mạng,
sức
khỏe,
danh
dự
nhân
phẩm
của
người
khác
mà
người
bị
hại
từ
chối
giám
định
sức
khỏe
nhưng
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
không
cưỡng
chế
được,
làm
cho
việc
xử
lý
vụ
án
bị
kéo
dài
hoặc
đi
vào
bế
tắc,
tránh
bỏ
lọt
tội
phạm.
Như
vậy
với
việc
quy
định
về
áp
giải,
dẫn
giải
trong
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
năm
2015
đã
giúp
cho
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
và
người
tiến
hành
tố
tụng
áp
dụng
thuận
tiện
hơn
trong
quá
trình
giải
quyết
các
vụ
án
hình
sự,
hạn
chế
đến
mức
thấp
nhất
việc
bỏ
lọt
tội
phạm.
Thực
tiễn
quá
trình
giải
quyết
các
vụ
án
hình
sự
vẫn
có
trường
hợp
bị
hại
từ
chối
giám
định
do
nhiều
nguyên
nhân
khác
nhau
mà
không
phải
do
bị
hại
tự
nguyện
nhưng
trước
các
cơ
quan
pháp
luật
vẫn
khai
là
tự
nguyện.
Tuy
nhiên
trên
thực
tế
việc
áp
giải,
dẫn
giải
là
vấn
đề
phức
tạp,
nhạy
cảm
và
rất
dễ
bị
phản
ứng,
vì
vậy
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
người
tiến
hành
tố
tụng
cần
phải
xem
xét
rất
thận
trọng,
chỉ
nên
áp
dụng
khi
thật
cần
thiết
để
làm
rõ
các
nội
dung
quan
trọng
của
vụ
án.
Mặt
khác
việc
dẫn
giải
đối
với
“người
bị
hại
trong
trường
hợp
họ
từ
chối
việc
giám
định
theo
quyết
định
trưng
cầu
của
cơ
quan
có
thẩm
quyền
tiến
hành
tố
tụng
mà
không
vì
lý
do
bất
khả
kháng
hoặc
không
do
trở
ngại
khách
quan”
cũng
gặp
khó
khăn
khi
người
bị
hại
đã
chủ
động
không
đi
giám
định
theo
yêu
cầu
của
Cơ
quan
điều
tra
thì
khi
áp
dụng
biện
pháp
dẫn
giải
người
bị
hại
có
thể
không
chấp
hành,
hoặc
bỏ
trốn.
Lúc
này
Cơ
quan
điều
tra
không
còn
biện
pháp
nào
khác
để
áp
dụng,
qua
đó
việc
xác
minh
tố
giác
tin
báo
về
tội
phạm
cũng
như
việc
điều
tra
vụ
án
bị
kéo
dài.
Mặt
khác:
Điều
20 Hiến
pháp
năm
2013
và
Điều
10
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
năm
2015 quy
định:
“Điều
20 Hiến
pháp
năm
2013
1.
Mọi
người
có
quyền
bất
khả
xâm
phạm
về
thân
thể,
được
pháp
luật
bảo
hộ
về
sức
khoẻ,
danh
dự
và
nhân
phẩm;
không
bị
tra
tấn,
bạo
lực,
truy
bức,
nhục
hình
hay
bất
kỳ
hình
thức
đối
xử
nào
khác
xâm
phạm
thân
thể,
sức
khỏe,
xúc
phạm
danh
dự,
nhân
phẩm.
2.
Không
ai
bị
bắt
nếu
không
có
quyết
định
của
Toà
án
nhân
dân,
quyết
định
hoặc
phê
chuẩn
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân,
trừ
trường
hợp
phạm
tội
quả
tang.
Việc
bắt,
giam, giữ
người
do
luật
định.
…”
“Điều
10. Bảo
đảm
quyền
bất
khả
xâm
phạm
về
thân
thể
Mọi
người
có
quyền
bất
khả
xâm
phạm
về
thân
thể.
Không
ai
bị
bắt
nếu
không
có
quyết
định
của
Tòa
án,
quyết
định
hoặc
phê
chuẩn
của
Viện
kiểm
sát,
trừ
trường
hợp
phạm
tội
quả
tang.
Việc
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp,
việc
bắt,
tạm
giữ,
tạm
giam
người
phải
theo
quy
định
của
Bộ
luật
này.
Nghiêm
cấm
tra
tấn,
bức
cung,
dùng
nhục
hình
hay
bất
kỳ
hình
thức
đối
xử
nào
khác
xâm
phạm
thân
thể,
tính
mạng,
sức
khỏe
của
con
người.”
Do
đó:
Trong
trường
hợp
dẫn
giải
được
bị
hại
đến
cơ
quan
có
thẩm
quyền
giám
định
nhưng
bị
hại
không
hợp
tác
(không
cho
giám
định
viên
xem
xét
dấu
vết
trên
thân
thể,
không
cung
cấp
tài
liệu
liên
quan…)
thì
Cơ
quan
có
thẩm
quyền
điều
tra
vụ
án
cũng
gặp
khó
khăn.
Vì
vậy
đề
nghị
liên
ngành
trung
ương
có
hướng
dẫn
cụ
thể
việc
áp
dụng
biện
pháp
áp
giải,
dẫn
giải,
đặc
biệt
là
trường
hợp
dẫn
giải
bị
hại
trong
trường
hợp
họ
từ
chối
việc
giám
định
theo
quyết
định
trưng
cầu
của
cơ
quan
có
thẩm
quyền
tiến
hành
tố
tụng.
Phạm
Việt
Hùng.