Hệ
thống
các
chỉ
tiêu
cơ
bản
được
xây
dựng
nhằm
nâng
cao
chất
lượng
thực
hiện
chức
năng,
nhiệm
vụ
của
ngành
Kiểm
sát
nhân
dân;
đặc
biệt
trong
tiến
trình
cải
cách
tư
pháp
hiện
nay
vị
thế
của
ngành
Kiểm
sát
nhân
dân
cần
phải
nâng
cao
chất
lượng
công
tác
đáp
ứng
yêu
cầu
cải
cách
hoạt
động
tư
pháp,
hội
nhập
quốc
tế;
đồng
thời
phục
vụ
công
tác
quản
lý,
chỉ
đạo,
điều
hành
của
Lãnh
đạo
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
các
cấp;
thông
qua
kết
quả
thực
hiện
các
chỉ
tiêu,
giúp
Lãnh
đạo
Viện
đánh
giá
đúng,
đầy
đủ
kết
quả
thực
hiện,
mức
độ
hoàn
thành
từng
khâu
công
tác
kiểm
sát
của
các
đơn
vị,
các
Phòng,
bộ
phận
mình
trực
tiếp
quản
lý
để
chỉ
đạo
thực
hiện
các
biện
pháp
nâng
cao
hiệu
quả,
chất
lượng
công
tác.
Hệ
thống
chỉ
tiêu
cơ
bản
đánh
giá
kết
quả
công
tác
nghiệp
vụ
của
ngành
Kiểm
sát
nhân
dân
được
xây
dựng
phù
hợp
với
quy
định
về
việc
thực
hiện
chức
năng,
nhiệm
vụ
của
ngành
Kiểm
sát
nói
chung
và
từng
khâu
công
tác
kiểm
sát
nói
riêng
theo
Luật
tổ
chức
Viện
kiểm
sát
nhân
dân,
Quy
chế
nghiệp
vụ,
các
quy
định
của
pháp
luật;
đánh
giá
chính
xác
được
tình
hình,
thực
trạng,
kết
quả
thực
hiện
nhiệm
vụ,
đảm
bảo
tính
thực
tiễn
và
tính
khả
thi
cao
ở
cả
3
cấp
kiểm
sát;
đáp
ứng
được
yêu
cầu
công
tác
thống
kê,
báo
cáo,
kiểm
tra,
thanh
tra,
đánh
giá
mức
độ
hoàn
thành
nhiệm
vụ
giữa
các
đơn
vị
trong
ngành.
Tuy
nhiên
trong
quá
trình
tổ
chức
thực
hiện
Hệ
thống
chỉ
tiêu
cơ
bản
đánh
giá
kết
quả
công
tác
nghiệp
vụ
trong
ngành
kiểm
sát
nhân
dân
ban
hành
kèm
theo
Quyết
định
số
297/QĐ-VKSTC
ngày
13/6/2012
và
được
bổ
sung
tại
Quyết
định
số
62/QĐ-VKSTC
ngày
22/02/2013
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao;
còn
có
một
số
chỉ
tiêu
nghiệp
vụ
chưa
phù
hợp,
khó
thực
hiện
trong
thực
tế
các
khâu
công
tác
kiểm
sát,
cụ
thể:
1.
Hệ
thống
chỉ
tiêu
chưa
đầy
đủ
-
Hệ
thống
chỉ
tiêu
cơ
bản
chưa
quy
định
chỉ
tiêu
phối
hợp
với
Tòa
án
tổ
chức
phiên
tòa
rút
kinh
nghiệm
đối
với
việc
giải
quyết
các
vụ
án
dân
sự.
Cần
được
bổ
sung
cho
phù
hợp.
2.
Những
chỉ
tiêu
chưa
phù
hợp
(cao,
thấp...)
Mục
I.
Chỉ
tiêu
công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
-
Chỉ
tiêu
về
tỷ
lệ
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
đạt
từ
90%
trở
lên
trên
tổng
số
thụ
lý;
tỷ
lệ
này
áp
dụng
đối
với
Viện
kiểm
sát
tối
cao
và
Viện
kiểm
sát
cấp
tỉnh
là
cao,
vì
những
tin
báo
thuộc
thẩm
quyền
giải
quyết
của
Tối
cao
và
cấp
tỉnh
thường
phức
tạp,
liên
quan
đến
nhiều
đối
tượng,
ở
nhiều
địa
phương
khác
nhau,
thời
gian
điều
tra
xác
minh
để
phân
loại
xử
lý
bị
kéo
dài,
do
vậy
tỷ
lệ
giải
quyết
của
VKSND
tối
cao
và
cấp
tỉnh
khó
đạt
được
theo
quy
định.
Nên
giảm
tỷ
lệ
giải
quyết
từ
90%
xuống
70%
trở
lên/tổng
số
thụ
lý
đối
với
Viện
kiểm
sát
tối
cao
và
Viện
kiểm
sát
cấp
tỉnh.
Mục
IV.
Chỉ
tiêu
công
tác
thực
hành
quyền
công
tố
và
kiểm
sát
xét
xử
các
vụ
án
hình
sự
-
Chỉ
tiêu
về
số
lượng
kháng
nghị
phúc
thẩm
ngang
cấp
đối
với
án
hình
sự
từ
15%
trở
lên/số
án
bị
sửa,
hủy;
là
cao,
chưa
phù
hợp.
Vì
có
những
Bản
án
không
có
vi
phạm
hoặc
vi
phạm
nhỏ
chưa
đến
mức
phải
kháng
nghị
và
chỉ
tiêu
này
cần
loại
trừ
trường
hợp
án
bị
sửa,
hủy
do
phát
sinh
tình
tiết
mới
làm
thay
đổi
nội
dung
vụ
án,
nên
giảm
tỷ
lệ
từ
15%
xuống
10%
trở
lên/số
án
bị
sửa,
hủy.
3.
Những
chỉ
tiêu
khó
xác
định
về
tỷ
lệ
Mục
III.
Các
chỉ
tiêu
công
tác
thực
hành
quyền
công
tố
và
kiểm
sát
điều
tra
các
vụ
án
hình
sự
-
Chỉ
tiêu
về
tỷ
lệ
án
trả
hồ
sơ
để
điều
tra
bổ
sung,
theo
Hướng
dẫn
số
17/HD
ngày
13/6/2012
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao,
hướng
dẫn
thực
hiện
Hệ
thống
chỉ
tiêu
cơ
bản
và
Thông
tư
liên
tịch
số
01/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC
ngày
27/8/2010
về
việc
trả
hồ
sơ
để
điều
tra
bổ
sung,
thì
phương
pháp
tính
án
trả
hồ
sơ
để
điều
tra
bổ
sung
giữa
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
cụ
thể:
Tỷ
lệ
này
được
tính
bằng
số
vụ
án
hình
sự
do
Viện
kiểm
sát
đã
quyết
định
trả
hồ
sơ
cho
Cơ
quan
điều
tra
để
điều
tra
bổ
sung
có
căn
cứ
trên
tổng
số
vụ
Cơ
quan
điều
tra
đã
có
kết
luận
điều
tra
chuyển
hồ
sơ
đến
Viện
kiểm
sát
đề
nghị
truy
tố
(bao
gồm
cả
số
vụ
kết
thúc
điều
tra
cũ
chưa
giải
quyết
và
số
vụ
kết
thúc
điều
tra
mới)
cộng
với
số
vụ
án
hình
sự
do
Toà
án
đã
quyết
định
trả
hồ
sơ
cho
Viện
kiểm
sát
để
yêu
cầu
điều
tra
bổ
sung
có
căn
cứ
trên
tổng
số
vụ
Viện
kiểm
sát
đã
truy
tố
và
chuyển
hồ
sơ
đến
Toà
án
để
xét
xử
(bao
gồm
cả
số
vụ
truy
tố
cũ
chưa
giải
quyết
và
số
vụ
truy
tố
mới).
Hiện
nay
có
nhiều
quan
điểm
khác
nhau
về
cách
tính;
có
đơn
vị
tính
số
vụ
án
do
Viện
kiểm
sát
thụ
lý
cộng
với
số
vụ
Tòa
án
thụ
lý
(bao
gồm
cả
cũ
và
mới)
như
vậy
tỷ
lệ
án
trả
hồ
sơ
để
điều
tra
bổ
sung
sẽ
cao
không
đúng
với
thực
tế;
có
đơn
vị
tính
tỷ
lệ
án
trả
hồ
sơ
để
điều
tra
bổ
sung
của
Tòa
án
riêng,
VKS
riêng;
có
đơn
vị
lại
tính
tỷ
lệ
án
trả
hồ
sơ
để
điều
tra
bổ
sung
của
Tòa
án
riêng,
VKS
riêng
sau
đó
cộng
dồn
để
chia
ra
lấy
tỷ
lệ
trung
bình
giữa
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng.
Vì
vậy
cần
phải
hướng
dẫn
cụ
thể,
thống
nhất
về
cách
tính
tỷ
lệ.
-
Chỉ
tiêu
về
ban
hành
01
kiến
nghị
trở
lên/năm
(được
tiếp
thu)
đối
với
cơ
quan,
tổ
chức
hữu
quan
trong
công
tác
phòng
ngừa
vi
phạm
pháp
luật
và
tội
phạm,
là
chưa
phù
hợp,
khó
thực
hiện.
Vì
có
những
đơn
vị
trong
năm
không
có
hoặc
không
phát
hiện
được
người
của
cơ
quan,
tổ
chức
có
hành
vi
vi
phạm
pháp
luật
để
thực
hiện
việc
kiến
nghị
và
khó
có
thể
dự
báo
trước
các
lĩnh
vực
mà
tội
phạm
nhằm
hướng
tới
để
thực
hiện
việc
kiến
nghị
phòng
ngừa.
Nên
quy
định
thực
hiện
kiến
nghị
100%
đối
với
các
vi
phạm
khi
được
phát
hiện.
Mục
VI.
Các
chỉ
tiêu
công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ,
việc
dân
sự
-
Chỉ
tiêu
về
số
lượng
kháng
nghị
ngang
cấp
của
Viện
kiểm
sát
cấp
sơ
thẩm
từ
10%
trở
lên/số
án
sửa,
hủy
đối
với
án
dân
sự,
hành
chính...;
chỉ
tiêu
này
chỉ
cần
xác
định
trên
số
án
hủy.
Vì
số
án
sửa
có
thể
sửa
theo
sự
thỏa
thuận
của
đương
sự
hoặc
có
sửa
nhỏ
chưa
đến
mức
phải
kháng
nghị.
-
Chỉ
tiêu
về
chất
lượng
kháng
nghị
của
Viện
kiểm
sát
bị
rút
từ
10%
trở
lên/tổng
số
kháng
nghị
của
Viện
kiểm
sát
đối
với
án
dân
sự,
hành
chính...;
chỉ
tiêu
này
phải
được
trừ
số
vụ
Viện
kiểm
sát
kháng
nghị
mà
tại
phiên
tòa
phúc
thẩm
nguyên
đơn
rút
đơn
khởi
kiện
được
bị
đơn
đồng
ý,
có
nghĩa
là
không
có
lỗi
của
Viện
kiểm
sát
trong
việc
kháng
nghị.
Mục
X.
Các
chỉ
tiêu
công
tác
giải
quyết
khiếu
nại,
tố
cáo
và
kiểm
sát
việc
giải
quyết
khiếu
nại,
tố
cáo
trong
hoạt
động
tư
pháp
-
Chỉ
tiêu
về
kiểm
sát
trực
tiếp
01
đơn
vị/năm
trong
việc
giải
quyết
khiếu
nại,
tố
cáo
trong
hoạt
động
tư
pháp
của
các
cơ
quan
tư
pháp,
chỉ
tiêu
này
khó
thực
hiện.
Vì
có
đơn
vị
qua
công
tác
rà
soát
tại
các
cơ
quan
tư
pháp
không
phát
sinh
thụ
lý
giải
quyết
đơn
khiếu
nại,
tố
cáo
về
tư
pháp.
Vì
vậy
nên
quy
định
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
trực
tiếp
khi
các
cơ
quan
tư
pháp
có
thụ
lý
đơn
khiếu
nại,
tố
cáo
về
hoạt
động
tư
pháp.
4.
Những
chỉ
tiêu
chưa
phản
ánh
đúng
chất
lượng
công
tác
nghiệp
vụ
-
Chỉ
tiêu
về
ban
hành
01
kiến
nghị
trở
lên/năm
(được
tiếp
thu)
áp
dụng
cho
cả
3
cấp
kiểm
sát
đối
với:
Vi
phạm
trong
việc
bắt,
tạm
giữ,
tạm
giam
và
thực
hiện
chế
độ
giam,
giữ.
Vi
phạm
của
Cơ
quan
điều
tra
trong
hoạt
động
điều
tra.
Vi
phạm
trong
hoạt
động
xét
xử
án
hình
sự.
Vi
phạm
của
Tòa
án
trong
công
tác
giải
quyết
các
vụ
án
dân
sự,
hành
chính.
Vi
phạm
trong
hoạt
động
thi
hành
án
hình
sự.
Vi
phạm
trong
hoạt
động
thi
hành
án
dân
sự;
là
chưa
phù
hợp,
chưa
phản
ánh
đúng
chất
lượng
công
tác
nghiệp
vụ.
Vì
có
đơn
vị
không
có
vi
phạm
hoặc
những
vi
phạm
được
phát
hiện
là
những
vi
phạm
nhỏ,
không
mang
tính
phổ
biến
trong
các
hoạt
động
tố
tụng
của
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
thì
không
thực
hiện
được
việc
ban
hành
kiến
nghị;
nếu
để
đảm
bảo
chỉ
tiêu
theo
Hệ
thống
chỉ
tiêu
cơ
bản
quy
định,
mà
ban
hành
kiến
nghị
đối
với
cả
những
vi
phạm
nhỏ,
không
mang
tính
phổ
biến
là
không
đúng
quy
định,
vì
theo
Hướng
dẫn
số
17/HD-VKSTC
ngày
13/6/2012
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
hướng
dẫn
thực
hiện
các
chỉ
tiêu
cơ
bản
đánh
giá
kết
quả
công
tác
nghiệp
vụ
trong
ngành
kiểm
sát
nhân
dân,
ban
hành
kèm
theo
Quyết
định
số
297/QĐ-VKSTC
ngày
13/6/2012
hướng
dẫn
Kiến
nghị
trong
các
khâu
công
tác
kiểm
sát
nêu
trên
được
hiểu
là
những
văn
bản
kiến
nghị
đối
với
những
vi
phạm
mang
tính
phổ
biến
trong
các
hoạt
động
tố
tụng.
-
Chỉ
tiêu
về
số
lượng
ban
hành
thông
báo
rút
kinh
nghiệm
nghiệp
vụ
trong
tất
cả
các
khâu
công
tác
kiểm
sát,
là
chưa
phản
ánh
đúng
chất
lượng
công
tác
nghiệp
vụ.
Vì
có
những
vi
phạm
không
mang
tính
phổ
biến,
hơn
nữa
trong
01
năm
01
đơn
vị
không
ban
hành
từ
đủ
04
thông
báo
rút
kinh
nghiệm
nghiệp
vụ
trở
lên
đối
với
từng
khâu
công
tác
kiểm
sát
(theo
quy
định
từ
04
thông
báo
trở
lên)
thì
không
có
nghĩa
là
đơn
vị
đó
làm
chưa
tốt,
không
hoàn
thành
chỉ
tiêu.
không
nên
quy
định
về
số
lượng
phải
ban
hành
thông
báo
rút
kinh
nghiệm.
Do
đó
không
nên
quy
định
về
số
lượng
phải
ban
hành
thông
báo
rút
kinh
nghiệm.
Ví
dụ:
Năm
2013
(sau
khi
Hệ
thống
chỉ
tiêu
cơ
bản
có
hiệu
lực
thi
hành
được
05
tháng)
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tỉnh
Tuyên
Quang,
đã
xây
dựng
Kế
hoạch
và
tổ
chức
thực
hiện
lĩnh
vực
đột
phá
trong
công
tác
chỉ
đạo,
điều
hành
và
tiếp
tục
thực
hiện
trong
năm
2014;
trong
đó
có
nội
dung
yêu
cầu
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
huyện,
thành
phố
phải
cung
cấp
các
báo
cáo,
đề
xuất
giải
quyết
từng
công
việc,
các
quyết
định
tố
tụng
(nhất
là
Quyết
định
truy
tố)
trong
ngày
qua
thư
điện
tử
nội
bộ
của
ngành
để
các
Phòng
nghiệp
vụ
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tỉnh
thực
hiện
công
tác
kiểm
tra,
hướng
dẫn
nghiệp
vụ,
đã
kịp
thời
phát
hiện
những
vi
phạm,
thiếu
sót
và
yêu
cầu
khắc
phục.
Qua
đó
đã
hạn
chế
đến
mức
thấp
nhất
việc
để
xảy
ra
vi
phạm,
thiếu
sót
hoặc
vi
phạm
được
phát
hiện
không
mang
tính
phổ
biến,
không
cần
thiết
phải
ban
hành
thông
báo
rút
kinh
nghiệm
mà
vẫn
đảm
bảo
được
chất
lượng,
hiệu
quả
các
khâu
công
tác
kiểm
sát.
Do
vậy
việc
quy
định
về
số
lượng
ban
hành
thông
báo
rút
kinh
nghiệm
là
chưa
phản
ánh
đúng
chất
lượng
công
tác
nghiệp
vụ./.
Ngô
Xuân
Tho
VKSND
tỉnh
Tuyên
Quang