Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ » Nghiên cứu - Trao đổi

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 2020

   Một số khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật đối với tội Cố ý gây thương tích và kiến nghị, đề xuất


Thứ tư - 01/11/2023 20:17
 
Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018. Thực tiễn áp dụng BLHS thấy rằng còn có nhiều vướng mắc cần trao đổi và xin ý kiến chỉ đạo trong một số tội danh cụ thể. Trong đó có tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại điều 134 BLHS, cụ thể:

 
* Một số vướng mắc:
 
- Điều 134 BLHS chỉ có quy định việc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên được quy định tại điểm b khoản 2, điểm c khoản 3, điểm c khoản 4, điểm b khoản 5,  mà chưa có quy định tại khoản 1 Điều 134. Như vậy trong trường hợp 01 người gây thương tích cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này lớn hơn 11% mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên chưa có quy định trong trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này đều dưới 11% và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS.
 
Ví dụ: Nguyễn Văn A dùng tay chân đánh gây thương tích cho Trần Văn B với tỷ lệ tổn thương cơ thể của B là 11% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS (trong trường hợp B có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự).
 
Tuy nhiên nếu Nguyễn Văn C dùng tay chân đánh gây thương tích cho 05 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của 05 người đều là 10% (tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 05 người là 50%) thì lại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích.
 
Qua ví dụ trên có thể thấy hành vi của Nguyễn Văn C nguy hiểm hơn Nguyễn Văn A nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Như vậy chưa bảo đảm việc phân hóa trách nhiệm hình sự chính xác, hợp lý.
 
- Một người gây thương tích cho 02 người thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS, trong đó có 01 người thương tích dưới 11%, 01 người trên 11%. Trường hợp này tác giả Trần Đức Hiệp - P7 đã có bài viết trao đổi đăng trên trang thông tin điện tử Viện kiểm sát tỉnh Tuyên Quang ngày 16/10/2023. Tôi đồng tình với quan điểm việc áp dụng điểm c, khoản 2, điều 134 BLHS “Phạm tội 02 lần trở lên” trong trường hợp này là chưa phù hợp; bởi hành vi phạm tội được thực hiện liên tiếp, trong cùng một thời điểm nên không thoả mãn yếu tố cấu thành “Phạm tội 02 lần trở lên” mà chỉ là một lần phạm tội. Việc thương tích của người dưới 11%, mặc dù đã cấu thành tội phạm theo khoản 1, nhưng trường hợp này người gây thương tích đã bị xử lý theo khoản 2, nên thương tích của người dưới 11% chỉ xem xét để quyết định mức hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội, không coi đó là tình tiết tăng nặng hoặc định khung là phạm tội hai lần trở lên được. Do vậy trường hợp người bị tổn hại dưới 11% sức khỏe rút yêu cầu khởi tố vụ án thì đình chỉ hành vi gây thương tích đối với người này.
 
- Về quy định “Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm” tại điểm b khoản 1 Điều 134 BLHS. Việc pháp điển hóa tình tiết này là rất cần thiết trong thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác bằng a-xít, hóa chất. Vì trong thực tiễn, khi các đối tượng sử dụng a-xít, hóa chất tấn công nạn nhân, tuy nạn nhân không chết nhưng làm cho nạn nhân tàn phế, tổn thương khủng khiếp về tinh thần, làm cho dư luận phẫn uất. Tuy nhiên, hiện chưa có quy định cụ thể thế nào là a- xít nguy hiểm, hóa chất nào là nguy hiểm, nếu không thu được a-xít hoặc hóa chất để giám định thì xử lý như thế nào…
 
* Một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật đối với tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự:
 
- Nên bổ sung thêm quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS theo hướng “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của các nạn nhân từ 11% đến 30%” để phân hóa rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phù hợp với khoản 2, 3, 4, 5 của điều luật.
 
- Bỏ quy định về chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 Điều 134 BLHS và bỏ Điều 134 ở khoản 2, Điều 14 BLHS. Chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích được hiểu là tìm kiếm, sửa soạn các công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để nhằm gây thương tích cho người khác, theo quy định tại khoản 6 Điều 134 BLHS “Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.
 
Tội phạm cố ý gây thương tích là hành vi cố ý gây ra cho người khác bị thương tích. Thực tiễn áp dụng pháp luật thì tỷ lệ % tổn thương cơ thể của người bị hại được thể hiện trong kết luận giám định của cơ quan chuyên môn là căn cứ quan trọng nhất để xác định trách nhiệm hình sự và xác định khung hình phạt đối với người phạm tội. Nạn nhân phải bị thương tích ở mức đáng kể thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự còn nếu thương tích không đáng kể thì chưa phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tại khoản 1 Điều 134 BLHS cũng quy định rõ người nào cố ý gây thương tích cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k thì người đó mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự; còn nếu một người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho người khác làm tổn thương cơ thể dưới 11% sức khoẻ nhưng không thuộc quy định tại các điểm từ a đến k thì hành vi của người đó không cấu thành tội phạm và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
 
Như vậy, hành vi chuẩn bị phạm tội mới là chuẩn bị các điều kiện cần thiết chứ chưa gây ra thương tích trên thực tế. Nếu so sánh hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội cố ý gây thương tích trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và trường hợp không cấu thành tội phạm thì rõ ràng trường hợp không cấu thành tội phạm hậu quả cho xã hội là thực tế và nguy hiểm hơn trường hợp chuẩn bị phạm tội. Do vậy, việc bỏ truy cứu trách nhiệm đối với các trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích là phù hợp, vừa đảm bảo tính công bằng trong áp dụng pháp luật, vừa khuyến khích các trường hợp đang trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội từ bỏ hành vi phạm tội của bản thân và phù hợp với khoản 1 của Điều 134 “Người nào cố ý gây thương tích cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k…” vì đây là tội phạm cấu thành vật chất. Nếu hành vi chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích mà đã cấu thành một tội độc lập khác thì người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm độc lập đó.
 
- Cần có hướng dẫn cụ thể trong việc áp dụng tình tiết “Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm” tại điểm b khoản 1 Điều 134 BLHS.
 
Trên đây là một số vướng mắc và đề xuất, kiến nghị trong việc giải quyết vụ án cố ý gây thương tích, rất mong được bạn đọc thảo luận. Đề nghị Liên ngành Tư pháp Trung ương Hướng dẫn cụ thể, để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.    
  
          Phạm Việt Hùng - Viện KSND huyện Sơn Dương
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết





 

Scroll to top