Công
tác
hòa
giải,
đối
thoại
có
vai
trò
đặc
biệt
quan
trọng,
là
nhu
cầu
và
đòi
hỏi
của
xã
hội
để
giải
quyết
các
tranh
chấp
phát
sinh
trong
đời
sống.
Hòa
giải,
đối
thoại
góp
phần
hàn
gắn
những
mâu
thuẫn,
rạn
nứt,
nâng
cao
ý
thức
pháp
luật
của
người
dân,
ngăn
ngừa
các
tranh
chấp
trong
tương
lai,
tạo
sự
đồng
thuận,
xây
dựng
khối
đoàn
kết
trong
nhân
dân,
góp
phần
bảo
đảm
an
ninh
chính
trị
và
trật
tự
an
toàn
xã
hội.
Hòa
giải
thành,
đối
thoại
thành
còn
giúp
giải
quyết
triệt
để,
hiệu
quả
các
tranh
chấp
mà
Tòa
án
không
phải
mở
phiên
tòa
xét
xử
qua
nhiều
trình
tự
thủ
tục
được
pháp
luật
quy
định,
không
phải
tổ
chức
thi
hành
án…
như
vậy
sẽ
tiết
kiệm
được
nhiều
chi
phí,
thời
gian
của
các
bên
liên
quan
và
Nhà
nước,
hạn
chế
tranh
chấp,
khiếu
kiện
kéo
dài,
gây
bức
xúc
trong
dư
luận.
Hiện
nay,
theo
quy
định
của
pháp
luật
hiện
hành
đã
có
quy
định
về
hòa
giải,
đối
thoại
gồm
hòa
giải,
đối
thoại
trong
tố
tụng
như
hòa
giải
trong
Luật
Tố
tụng
dân
sự,
Luật
Tố
tụng
hành
chính
và
hòa
giải
đối
thoại
ngoài
tố
tụng
như
hòa
giải
theo
Luật
Hòa
giải
ở
cơ
sở,
Luật
Lao
động,
Luật
Đất
đai,
Luật
Khiếu
nại,
Luật
Tố
cáo…
thủ
tục
hòa
giải
đối
thoại
ở
mỗi
phương
thức
đều
có
ý
nghĩa,
tầm
quan
trọng
và
mang
tính
bắt
buộc.
Tuy
nhiên
trong
bối
cảnh
hiện
nay,
mỗi
năm
Tòa
án
nhân
dân
các
cấp
phải
thụ
lý
giải
quyết
hàng
ngàn
các
vụ
việc
tranh
chấp,
khiếu
kiện
từ
các
lĩnh
vực
khác
nhau,
nhiều
nhất
là
các
vụ,
việc
trong
lĩnh
vực
dân
sự,
hành
chính.
Do
khiếu
kiện,
tranh
chấp
ngày
càng
gia
tăng
về
số
lượng
và
tính
chất
ngày
càng
phức
tạp
là
một
áp
lực
rất
lớn
đối
với
ngành
Tòa
án
đòi
hỏi
phải
có
những
giải
pháp
căn
cơ
để
giúp
giảm
tải
khối
lượng
công
việc
ngày
càng
nặng
nề.
Một
trong
các
giải
pháp
được
ngành
Tòa
án
quan
tâm
đó
là
đổi
mới,
tăng
cường
và
nâng
cao
hiệu
quả
hòa
giải,
đối
thoại
trước
khi
Tòa
án
thụ
lý
đơn
khởi
kiện,
đơn
yêu
cầu
để
giải
quyết
theo
quy
định
của
pháp
luật
tố
tụng.
Từ
tháng
3/2018
đến
tháng
9/2019,
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
đã
triển
khai
thí
điểm
tại
một
số
tỉnh,
thành
phố
trực
thuộc
Trung
ương
về
đổi
mới,
tăng
cường
hòa
giải,
đối
thoại
trong
giải
quyết
các
tranh
chấp
dân
sự,
khiếu
kiện
hành
chính,
kết
quả
tỷ
lệ
hòa
giải,
đối
thoại
thành
đạt
tỷ
lệ
cao,
giải
quyết
hiệu
quả
những
mâu
thuẫn,
tranh
chấp
phát
sinh
trong
đời
sống
xã
hội,
làm
giảm
tỷ
lệ
các
vụ,
việc
Tòa
án
phải
thụ
lý
giải
quyết.
Xuất
phát
từ
nhu
cầu,
đòi
hỏi
của
thực
tiễn
cũng
như
ý
nghĩa,
tầm
quan
trọng
của
hòa
giải,
đối
thoại
tại
Tòa
án,
việc
ban
hành
Luật
Hòa
giải,
đối
thoại
tại
Tòa
án
là
cần
thiết.
Tuy
nhiên
để
các
quy
định
của
Luật
được
đi
vào
cuộc
sống
và
tránh
bị
chồng
chéo
cũng
cần
được
cân
nhắc,
chỉnh
sửa
cho
phù
hợp
một
số
nội
dung
sau:
-
Về
kinh
phí
cho
công
tác
hòa
giải,
đối
thoại
tại
Tòa
án:
Khoản
1
Điều
6
dự
thảo
quy
định:
“Nhà
nước
bảo
đảm
kinh
phí
cho
công
tác
hòa
giải,
đối
thoại
tại
Tòa
án
từ
ngân
sách
Nhà
nước
và
các
nguồn
kinh
phí
hợp
pháp
khác
theo
quy
định
của
pháp
luật”.
Việc
hòa
giải,
đối
thoại
thành
sẽ
làm
giảm
đáng
kể
các
vụ,
việc
Tòa
án
phải
thụ
lý
giải
quyết
theo
thủ
tục
tố
tụng,
từ
đó
cũng
làm
giảm
các
khoản
chi
từ
ngân
sách
nhà
nước
cho
công
tác
xét
xử
của
Tòa
án,
công
tác
Thi
hành
án
của
cơ
quan
Thi
hành
án,
do
vậy
quy
định
nhà
nước
bảo
đảm
kinh
phí
cho
công
tác
hòa
giải,
đối
thoại
là
phù
hợp,
tuy
nhiên
những
khoản
chi
cho
hoạt
động
của
tổ
hòa
giải,
đối
thoại
là
rất
lớn,
để
đảm
bảo
cho
hoạt
động
có
hiệu
quả
và
hạn
chế
các
khoản
chi
phát
sinh
thêm
từ
ngân
sách
nên
quy
định
về
việc
thu
hút
đầu
tư
từ
nguồn
xã
hội
hóa,
từ
lệ
phí
hòa
giải,
đối
thoại
của
các
bên
tranh
chấp
vì
họ
là
những
người
được
hưởng
lợi
từ
công
tác
này,
luật
nên
quy
định
mức
thu
lệ
phí
phù
hợp
để
thúc
đẩy
các
bên
tranh
chấp
tham
gia
hòa
giải,
đối
thoại.
-
Quy
định
về
tiêu
chuẩn
chung
của
Hòa
giải
viên:
Điểm
b
khoản
2
Điều
9
dự
thảo
quy
định:
“Luật
sư,
chuyên
gia,
nhà
chuyên
môn
khác
có
ít
nhất
10
năm
kinh
nghiệm
trong
lĩnh
vực
công
tác”
là
quá
cao
vì
tại
điểm
b,
d
khoản
1
dự
thảo
đã
quy
định
“Có
kinh
nghiệm,
kỹ
năng
hòa
giải,
đối
thoại;
có
chứng
chỉ
bồi
dưỡng,
nghiệp
vụ
hòa
giải,
đối
thoại
của
Tòa
án”,
như
vậy
khi
đã
đáp
ứng
những
yêu
cầu
về
tiêu
chuẩn
nêu
trên
thì
họ
cũng
đã
có
nhiều
kinh
nghiệm
trong
thực
tiễn,
hơn
nữa
đối
với
Luật
sư
là
những
người
được
đào
tạo
bài
bản,
am
hiểu
pháp
luật,
có
nhiều
kinh
nghiệm
trong
công
tác
hòa
giải,
tư
vấn
pháp
luật
...
nếu
quy
định
tiêu
chuẩn
phải
có
10
năm
kinh
nghiệm
là
không
phù
hợp
và
trên
thực
tế
có
rất
ít
người
đủ
điều
kiện
tham
gia,
do
vậy
tính
khả
thi
không
cao,
nên
cân
nhắc
giảm
số
năm
kinh
nghiệm
công
tác
xuống
5
năm
thì
phù
hợp
hơn.
-
Quy
định
về
Bổ
nhiệm,
bổ
nhiệm
lại
Hòa
giải
viên:
Khoản
5
Điều
10
dự
thảo
quy
định:
“Trong
thời
hạn
20
ngày,
kể
từ
ngày
nhận
đủ
hồ
sơ
đề
nghị
bổ
nhiệm,
bổ
nhiệm
lại
Hòa
giải
viên,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
xem
xét,
quyết
định
bổ
nhiệm
Hòa
giải
viên”.
Việc
quy
định
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
quyết
định
bổ
nhiệm
Hòa
giải
viên
là
không
cần
thiết
vì
thực
tế
số
lượng
Hòa
giải
viên
được
bổ
nhiệm
rất
lớn
và
không
thuộc
biên
chế
của
Tòa
án,
nên
để
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
tỉnh
căn
cứ
nhu
cầu
bổ
nhiệm
Hòa
giải
viên,
lựa
chọn
người
đủ
tiêu
chuẩn
để
quyết
định
bổ
nhiệm
Hòa
giải
viên
và
chịu
trách
nhiệm
về
quyết
định
bổ
nhiệm
trước
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao.
Luật
cũng
cần
có
quy
định
rõ
Hòa
giải
viên
được
thực
hiện
nhiệm
vụ
tại
Tòa
án
đã
bổ
nhiệm
hay
có
thể
tham
gia
hòa
giải,
đối
thoại
ở
các
Tòa
án
khác.
-
Khoản
7
Điều
10
dự
thảo
quy
định
về
“Nhiệm
kỳ
của
Hòa
giải
viên
là
03
năm,
kể
từ
ngày
được
bổ
nhiệm”,
khoản
8
quy
định
về
những
trường
hợp
không
bổ
nhiệm
lại
Hòa
giải
viên.
Khoản
1
Điều
3
quy
định
nguyên
tắc
hòa
giải,
đối
thoại
là
tự
nguyện,
bình
đẳng
trong
thực
hiện
quyền
và
nghĩa
vụ;
điểm
c
khoản
1
Điều
9
quy
định
Hòa
giải
viên
tự
nguyện
thực
hiện
nhiệm
vụ
hòa
giải,
đối
thoại.
Do
đây
là
hoạt
động
mang
tính
tự
nguyện
cao
nên
không
cần
thiết
phải
quy
định
về
nhiệm
kỳ
và
bổ
nhiệm
lại.
Trường
hợp
hòa
giải
viên
đã
được
bổ
nhiệm
nhưng
không
đáp
ứng
tiêu
chuẩn,
hoàn
thành
nhiệm
vụ
hoặc
theo
nguyện
vọng
sẽ
miễn
nhiệm.
Khoản
8
Điều
10
dự
thảo
quy
định
về
trường
hợp
không
được
bổ
nhiệm
lại
Hòa
giải
viên
“Không
hoàn
thành
nhiệm
vụ;
Thuộc
10%
Hòa
giải
viên
có
02
năm
mà
mức
độ
hoàn
thành
nhiệm
vụ
thấp
nhất
so
với
các
Hòa
giải
viên
khác
tại
nơi
họ
làm
việc”.
Tuy
nhiên
dự
thảo
Luật
chưa
có
quy
định
ai
là
người
theo
dõi,
đánh
giá,
xếp
loại
Hòa
giải
viên;
việc
lấy
kết
quả
thực
hiện
nhiệm
vụ
của
Hòa
giải
viên
tại
nơi
họ
làm
việc
để
đánh
giá
mức
độ
hoàn
thành
nhiệm
vụ
và
không
xét
để
bổ
nhiệm
lại
Hòa
giải
viên
là
không
phù
hợp,
không
đảm
bảo
công
bằng,
vì
thực
tế
khối
lượng
công
việc
ở
mỗi
địa
phương
là
khác
nhau,
có
thể
ở
địa
phương
này
nhiều
việc
mức
độ
hoàn
thành
nhiệm
vụ
của
hòa
giải
viên
là
thấp
hơn
so
với
các
hòa
giải
viên
khác,
nhưng
so
với
các
địa
phương
khác
với
mức
độ
hoàn
thành
nhiệm
vụ
của
họ
lại
là
cao.
Do
vậy
cần
phải
có
quy
định
các
tiêu
chí
cụ
thể
để
đánh
giá,
xếp
loại
Hòa
giải
viên
cũng
như
chủ
thể
thực
hiện
việc
theo
dõi,
đánh
giá,
xếp
loại
Hòa
giải
viên.
-
Quy
định
về
Quyền,
nghĩa
vụ
của
Hòa
giải
viên:
Điều
12
dự
thảo
cần
bổ
sung
nội
dung
quy
định
về
quyền
khiếu
nại,
tố
cáo,
khởi
kiện
của
Hòa
giải
viên
trong
trường
hợp
không
nhất
trí
việc
bổ
nhiệm,
miễn
nhiệm
của
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao.
Bổ
sung
về
trình
tự,
thủ
tục
giải
quyết
khiếu
nại,
tố
cáo
đối
với
các
trường
hợp
trên.
-
Quy
định
về
trình
tự
nhận,
phân
công,
xử
lý
đơn
khởi
kiện,
đơn
yêu
cầu
tại
Tòa
án;
thành
phần
phiên
họp
ghi
nhận
kết
quả
hòa
giải,
đối
thoại:
Khoản
3
Điều
15
dự
thảo
quy
định
“Trong
thời
hạn
03
ngày
làm
việc,
kể
từ
ngày
nhận
được
đơn
khởi
kiện,
đơn
yêu
cầu
Chánh
án
Tòa
án
phân
công
thẩm
phán
làm
công
tác
hòa
giải,
đối
thoại
xem
xét
đơn
khởi
kiện,
đơn
yêu
cầu
và
tham
gia
phiên
họp...”;
Khoản
4
Điều
15
dự
thảo
quy
định
“trong
thờii
hạn
05
ngày
làm
việc,
kể
từ
ngày
được
phân
công,
thẩm
phán
làm
công
tác
hòa
giải,
đối
thoại
xem
xét
đơn
khởi
kiện,
đơn
yêu
cầu,
phân
công
hòa
giải
viên
để
tiến
hành
hòa
giải,
đối
thoại...”;
Điểm
d
Khoản
1
Điều
21
dự
thảo
quy
định
“Thẩm
phán
làm
công
tác
hòa
giải,
đối
thoại
tham
gia
phiên
họp
để
xác
nhận
sự
kiện
các
bên
tự
nguyện
hòa
giải,
đối
thoại
và
chữ
ký
của
các
bên
trong
biên
bản
ghi
nhận
kết
quả
hòa
giải,
đối
thoại”.
Theo
quy
định
tại
đoạn
2
khoản
1
Điều
1
dự
thảo
nêu
rõ
phạm
vi
điều
chỉnh
“hòa
giải,
đối
thoại
theo
quy
định
của
Luật
này
được
thực
hiện
trước
khi
Tòa
án
thụ
lý
đơn
khởi
kiện
...”
như
vậy
đây
là
hoạt
động
ngoài
tố
tụng
và
trên
cơ
sở
tự
nguyện
của
các
bên
tham
gia
hòa
giải,
đối
thoại
nên
không
nhất
thiết
phải
quy
định
có
một
thẩm
phán
tham
gia
và
tham
gia
ngay
từ
giai
đoạn
xem
xét,
phân
loại
đơn
khởi
kiện,
đơn
yêu
cầu,
hơn
nữa
nếu
theo
điểm
b
khoản
1
Điều
27
dự
thảo
quy
định
“Thẩm
phán
đã
tham
gia
phiên
họp
ghi
nhận
kết
quả
hòa
giải,
đối
thoại
không
được
tham
gia
giải
quyết
vụ
việc
đó
theo
thủ
tục
tố
tụng
dân
sự,
tố
tụng
hành
chính”
thì
với
số
lượng
thẩm
phán
hiện
nay
sẽ
không
đảm
bảo
để
thực
hiện
quy
định
này.
Mặt
khác,
việc
tổ
chức
hòa
giải,
đối
thoại
theo
quy
định
của
luật
này
một
phần
nhằm
làm
giảm
tải
áp
lực
công
việc
cho
thẩm
phán,
nếu
quy
định
như
trên
cũng
không
làm
giảm
được
bao
nhiêu
so
với
tình
trạng
hiện
nay.
Do
vậy
nên
quy
định
việc
hòa
giải,
đối
thoại
ngoài
tố
tụng,
chỉ
khi
hòa
giải
thành,
đối
thoại
thành
sẽ
được
đưa
đến
Tòa
án
để
ra
quyết
định
công
nhận
hòa
giải
thành,
đối
thoại
thành
theo
tố
tụng
dân
sự,
tố
tụng
hành
chính.
Trên
đây
là
một
số
ý
kiến
đóng
góp
đối
với
dự
thảo
Luật
Hòa
giải,
đối
thoại
tại
Tòa
án
Trần
Thị
Bích
Hạnh
-
Trưởng
Phòng
12
VKSND
tỉnh