Đây
là
vụ
án
xảy
ra
vào
năm
2015
nên
các
quan
điểm
đưa
ra
căn
cứ
vào
các
quy
định
của
pháp
luật
tại
thời
điểm
xảy
ra
tội
phạm
để
áp
dụng
như:
Bộ
luật
hình
sự
năm
1999
(BLHS);
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
năm
2003
(BLTTHS),
Luật
Trợ
giúp
pháp
lý
năm
2006
(Luật
TGPL)…Nếu
chiếu
theo
các
quy
định
pháp
luật
hiện
hành
có
thể
có
nội
dung
chưa
phù
hợp
do
thay
đổi
luật
nhưng
không
ảnh
hưởng
đến
việc
xác
định
tội
danh
đối
với
Đ.Đ.H.
Tác
giả
rất
mong
nhận
được
các
ý
kiến
tham
gia
đóng
góp.
Tóm
tắt
diễn
biến
hành
vi
phạm
tội
Đ.Đ.H
là
Trợ
giúp
viên
pháp
lý
-
Trưởng
Chi
nhánh
Trợ
giúp
pháp
lý
số
2
thuộc
Trung
tâm
Trợ
giúp
pháp
lý
nhà
nước
tỉnh
Y.
Trong
quá
trình
công
tác,
H
được
Giám
đốc
Trung
tâm
phân
công
trợ
giúp
pháp
lý
trong
giai
đoạn
xét
xử
phúc
thẩm
(đã
được
Tòa
án
nhân
dân
tỉnh
Y
cấp
Giấy
chứng
nhận
bào
chữa
theo
quy
định
của
BLTTHS)
cho
bị
cáo
H.V.T
phạm
tội
Vi
phạm
các
quy
định
về
khai
thác
và
bảo
vệ
rừng,
bị
Tòa
án
nhân
dân
huyện
X,
tỉnh
Y
xử
phạt
24
tháng
tù,
ngoài
ra
bản
án
còn
tuyên
truy
thu
số
tiền
thu
lợi
bất
chính
và
án
phí
theo
quy
định.
Trong
quá
trình
thực
hiện
trợ
giúp
pháp
lý
cho
T,
H
đã
nhiều
lần
bảo
T
chuẩn
bị
50.000.000
đồng
để
“chạy”
cho
T
được
hưởng
án
treo,
T
đồng
ý.
Ngày
21/3/2015,
H
điện
thoại
cho
T
thông
báo
ngày
24/3/2015,
Tòa
án
nhân
dân
tỉnh
Y
mở
phiên
tòa
để
xét
xử.
Sáng
22/3/2015,
T
đến
trụ
sở
Chi
nhánh
gặp
H
nhưng
do
T
chưa
chuẩn
bị
đủ
tiền
nên
H
soạn
thảo
đơn
đề
nghị
hoãn
phiên
tòa
đưa
cho
T
ký
và
nộp
đơn
đến
Tòa
án.
Tòa
án
nhân
dân
tỉnh
Y
căn
cứ
đơn
đề
nghị
đã
ra
quyết
định
hoãn
phiên
tòa.
Ngày
04/4/2015,
T
chuẩn
bị
được
30.000.000
đồng
đến
gặp
H
để
đưa
tiền
nhưng
do
không
đủ
50.000.000
đồng
nên
H
không
nhận.
Đến
ngày
08/4/2015,
T
đến
nhà
H
xin
giảm
xuống
45.000.000
đồng,
H
đồng
ý.
Khoảng
11
giờ
30
phút
ngày
09/4/2015,
tại
quán
cà
phê
AQ,
thuộc
thành
phố
Y
sau
khi
T
giao
cho
H
44.500.000
đồng
thì
bị
Tổ
công
tác
của
Công
an
tỉnh
Y
bắt
quả
tang.
Tại
Cơ
quan
điều
tra,
H
khai:
Trong
quá
trình
trợ
giúp
pháp
lý
nhận
thấy
T
có
đủ
điều
kiện
được
hưởng
án
treo
nên
H
bảo
T
đưa
tiền
để
lo
án
treo
cho
T,
mục
đích
dùng
9.000.000
đồng
nộp
tiền
thu
lợi
bất
chính
và
tiền
án
phí
theo
bản
án
sơ
thẩm,
số
còn
lại
nếu
xét
xử
T
được
án
treo
thì
sẽ
chiếm
đoạt,
nếu
không
xử
được
án
treo
sẽ
trả
lại
cho
T.
Quá
trình
giải
quyết
vụ
án,
đã
có
hai
quan
điểm
khác
nhau
trong
việc
xác
định
tội
danh
đối
với
hành
vi
của
Đ.Đ.H,
cụ
thể:
Quan
điểm
thứ
nhất:
Hành
vi
của
Đ.Đ.H
phạm
tội
Lừa
đảo
chiếm
đoạt
tài
sản.
H
là
Trợ
giúp
viên
pháp
lý
được
phân
công
trợ
giúp
pháp
lý
cho
H.V.T
ở
giai
đoạn
xét
xử
phúc
thẩm,
tham
gia
tố
tụng
với
tư
cách
người
đại
diện
hợp
pháp
của
bị
cáo
theo
quy
định
tại
điểm
b,
khoản
3,
Điều
21
Luật
TTGPL;
thực
hiện
quyền
và
nghĩa
vụ
của
Người
bào
chữa
theo
quy
định
tại
Điều
56,
58
BLTTHS.
H
không
phải
là
người
có
chức
vụ,
quyền
hạn;
không
có
thẩm
quyền
trong
việc
xem
xét
lại
mức
án
mà
T
đã
bị
xử
phạt
ở
cấp
sơ
thẩm.
Việc
H
nhiều
lần
bảo
T
chuẩn
bị
50.000.000
đồng
đưa
cho
H
để
“chạy”
cho
hưởng
án
treo
đây
là
thủ
đoạn
gian
dối
của
H
để
làm
cho
T
tin
tưởng,
giao
tiền
và
trên
thực
tế
H
đã
chiếm
đoạt
của
T
44.500.000
đồng.
Do
vậy,
hành
vi
của
H
cấu
thành
tội
“Lừa
đảo
chiếm
đoạt
tài
sản”
quy
định
tại
khoản
1,
Điều
139
BLHS.
Quan
điểm
thứ
hai:
Hành
vi
của
Đ.Đ.H
phạm
tội
Lạm
dụng
chức
vụ,
quyền
hạn
chiếm
đoạt
tài
sản.
Để
xác
định
hành
vi
của
H
phạm
tội
này
chủ
yếu
xem
xét
về
chủ
thể
của
tội
phạm
trên
cơ
sở
các
quy
định
của
pháp
luật.
Theo
đoạn
2
Điều
277
BLHS
quy
định:“Người
có
chức
vụ
là
người
do
bổ
nhiệm,
do
bầu
cử,
do
hợp
đồng
hoặc
do
một
hình
thức
khác,
có
hưởng
lương
hoặc
không
hưởng
lương,
được
giao
thực
hiện
một
công
vụ
nhất
định
và
có
quyền
hạn
nhất
định
trong
khi
thực
hiện
công
vụ”.
Khoản
3
Điều
1
Luật
Phòng,
chống
tham
nhũng
quy
định:
“Người
có
chức
vụ,
quyền
hạn
bao
gồm:
a)
Cán
bộ,
công
chức,
viên
chức…”
Khoản
2
Điều
21
Luật
TGPL
quy
định:“Trợ
giúp
viên
pháp
lý
là
viên
chức
nhà
nước,
làm
việc
tại
Trung
tâm
trợ
giúp
pháp
lý
nhà
nước...”.
Trong
quá
trình
thực
hiện
nhiệm
vụ
trợ
giúp
pháp
lý
trong
giai
đoạn
xét
xử
phúc
thẩm
theo
sự
phân
công,
Đ.Đ.H
tham
gia
tố
tụng
để
bào
chữa
cho
người
được
trợ
giúp
pháp
lý
là
bị
cáo
theo
quy
định
tại
khoản
1,
Điều
29
Luật
TGPL
và
thực
hiện
các
quyền
của
Người
bào
chữa
theo
quy
định
tại
khoản
2,
Điều
58
BLTTHS.
Đối
chiếu
các
quy
định
pháp
luật
nêu
trên
nhận
thấy
Đ.Đ.H
đã
thỏa
mãn
đầy
đủ
các
yếu
tố
để
xác
định
H
là
chủ
thể
đặc
biệt
(chương
tội
phạm
về
chức
vụ).
Về
hành
vi
khách
quan,
trong
quá
trình
thực
hiện
trợ
giúp
pháp
lý
H
đã
nhiều
lần
bảo
T
(là
đối
tượng
được
Trợ
giúp
pháp
lý)
đưa
50.000.000
đồng
để
“chạy”
cho
T
được
hưởng
án
treo,
việc
H
nhận
44.500.000
đồng
để
“chạy”
cho
T
được
hưởng
án
treo
đã
vượt
quá
phạm
vi
nhiệm
vụ,
quyền
hạn
của
trợ
giúp
viên
pháp
lý,
vi
phạm
quy
định
tại
điểm
b
khoản
1
Điều
9
Luật
TGPL
“nghiêm
cấm
người
trợ
giúp
pháp
lý
nhận,
đòi
hỏi
bất
kỳ
một
khoản
tiền,
lợi
ích
nào
khác
từ
người
được
trợ
giúp
pháp
lý”.
Ngoài
ra
H
còn
là
Trưởng
Chi
nhánh
TGPL
số
2
thuộc
Trung
tâm
TGPL
nhà
nước
tỉnh
Y,
H
nắm
rõ
các
quy
định
của
pháp
luật
về
chức
trách
nhiệm
vụ,
quyền
hạn
của
Trợ
giúp
viên
pháp
lý
nhưng
H
đã
lợi
dụng
nhiệm
vụ,
quyền
hạn
của
Trợ
giúp
viên
pháp
lý
để
chiếm
đoạt
tài
sản
của
T.
Mặc
dù,
qua
lời
khai
của
H
thể
hiện
có
yếu
tố
gian
dối
ở
mục
đích
sử
dụng
số
tiền
chiếm
đoạt,
tuy
nhiên,
đây
chỉ
là
phương
pháp
thủ
đoạn
của
H
nhằm
chiếm
đoạt
tài
sản
của
T.
Hành
vi
của
H
không
chỉ
xâm
phạm
quyền
sở
hữu
tài
sản
hợp
pháp
của
công
dân
mà
còn
xâm
phạm
hoạt
động
đúng
đắn
của
Trung
tâm
TGPL
tỉnh
Y
trong
hoạt
động
trợ
giúp
pháp
lý,
làm
ảnh
hưởng
xấu
đến
trật
tự
pháp
luật.
Như
vậy,
hành
vi
của
H
phạm
tội
Lạm
dụng
chức
vụ,
quyền
hạn
chiếm
đoạt
tài
sản,
quy
định
tại
khoản
1
Điều
280
BLHS
.
Về
ý
kiến
Đ.Đ.H
không
có
thẩm
quyền
trong
việc
xem
xét
lại
mức
án
mà
T
đã
bị
xử
phạt
theo
quan
điểm
H
phạm
tội
Lừa
đảo
chiếm
đoạt
tài
sản,
theo
ý
kiến
cá
nhân
là
không
thuyết
phục.
Nếu
trường
hợp
H
có
thẩm
quyền
trong
việc
xem
xét
mức
án
thì
H
phải
phạm
tội
Nhận
hội
lộ
theo
Điều
279
BLHS.
Do
vụ
án
có
nhiều
quan
điểm
khác
nhau
trong
xác
định
tội
danh
đối
với
Đ.Đ.H,
tác
giả
rất
mong
nhận
được
sự
trao
đổi
của
các
đồng
nghiệp.
Phạm
Hương
Thảo
-
VKSND
Thành
phố
Tuyên
Quang