Yêu
cầu
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
và
rút
yêu
cầu
khởi
tố
là
một
trong
các
quyền
của
người
bị
hại
được
quy
định
tại
Điều
105
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
(BLTTHS).
Theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
105:
“Những
vụ
án
về
các
tội
phạm
được
quy
định
tại
khoản
1
các
Điều
104,
105,
106,
108,
109,
111,
113,
121,
122,
131
và
171
của
Bộ
luật
hình
sự
chỉ
được
khởi
tố
khi
có
yêu
cầu
của
người
bị
hại
hoặc
của
người
đại
diện
hợp
pháp
của
người
bị
hại
là
người
chưa
thành
niên,
người
có
nhược
điểm
về
tâm
thần
hoặc
thể
chất”.
Khoản
2
Điều
luật
cũng
quy
định:
“Trường
hợp
người
đã
yêu
cầu
khởi
tố
rút
yêu
cầu
trước
ngày
mở
phiên
tòa
sơ
thẩm
thì
vụ
án
phải
được
đình
chỉ...”.
Trong
thực
tế
quy
định
này
đã
được
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
áp
dụng
và
thực
hiên
nghiêm
chỉnh
vừa
bảo
đảm
được
lợi
ích
của
nhà
nước,
quyền
lợi
của
người
bị
hại,
góp
phần
ổn
định
trật
tự
xã
hội
và
tạo
sự
đoàn
kết,
gắn
bó
trong
cộng
đồng
dân
cư.
Tuy
nhiên
trong
quá
trình
áp
dụng
pháp
luật
cũng
có
1
số
những
nhận
thức
quan
điểm
khác
nhau
dẫn
đến
quyết
định
giải
quyết
khác
nhau,
liên
quan
đến
quyền
rút
yêu
cầu
khởi
tố
của
người
bị
hại,
trong
bài
viết
này
tôi
xin
đề
cập
đến
vấn
đề
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
tại
phiên
toà
trong
một
số
vụ
án
được
khởi
tố
theo
yêu
cầu
của
người
bị
hại:
Người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
và
việc
giải
quyết
tại
phiên
toà
sơ
thẩm:
Theo
quy
định
tại
khoản
2
Điều
105
BLTTHS
thì
trong
những
vụ
án
khởi
tố
theo
yêu
cầu
của
người
bị
hại,
Toà
án
ra
quyết
định
đình
chỉ
vụ
án
khi
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
trước
ngày
mở
phiên
toà
sơ
thẩm.
Trường
hợp
tại
phiên
toà
sơ
thẩm
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
thì
Hội
đồng
xét
xử
vẫn
tiến
hành
xét
xử
theo
thủ
tục
chung.
Tuy
nhiên
trong
thực
tiễn
xét
xử
khi
xảy
ra
trường
hợp
này
vẫn
làm
cho
Hội
đồng
xét
xử
lúng
túng
về
đường
lối
giải
quyết
vì
có
nhiều
quan
điểm
khác
nhau:
-
Quan
điểm
thứ
nhất:
Tại
phiên
toà
nếu
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
thì
Hội
đồng
xét
xử
vẫn
tiến
hành
xét
hỏi
về
nội
dung
vụ
án,
đến
phần
nghị
án
Hội
đồng
xét
xử
sẽ
thảo
luận
và
ra
quyết
định
đình
chỉ
vụ
án
theo
khoản
2
Điều
199
BLTTHS.
Quyết
định
này
được
chủ
toạ
công
bố
ở
phần
tuyên
án.
-
Quan
điểm
thứ
hai:
Tại
phiên
toà
nếu
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
thì
Hội
đồng
xét
xử
vẫn
tiến
hành
xét
hỏi
về
nội
dung
vụ
án,
đến
phần
nghị
án
Hội
đồng
xét
xử
thảo
luận
và
ra
quyết
định
Miễn
trách
nhiệm
hình
sự
theo
quy
định
tại
Điều
25
Bộ
luật
hình
sự
(BLHS)
hoặc
miễn
hình
phạt
cho
bị
cáo
theo
quy
định
tại
Điều
54
BLHS.
-
Quan
điểm
thứ
ba:
Tại
phiên
toà
sơ
thẩm
nếu
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
thì
Hội
đồng
xét
xử
vẫn
tiến
hành
xét
xử
bình
thường
và
xem
xét
việc
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
là
tình
tiết
giảm
nhẹ
cho
bị
cáo
(như
trường
hợp
người
bị
hại
xin
giảm
nhẹ
hình
phạt
cho
bị
cáo)
được
áp
dụng
theo
quy
định
tại
khoản
2
Điều
46
BLHS.
Ngoài
3
quan
điểm
như
trên,
trong
thực
tiễn
có
những
địa
phương
khi
xảy
ra
trường
hợp
này,
Hội
đồng
xét
xử
xử
lý
tình
huống
bằng
cách
tìm
1
lý
do
nào
đó
để
hoãn
phiên
toà,
sau
đó
người
bị
hại
gửi
đơn
đề
nghị
được
rút
yêu
cầu
khởi
tố
và
Toà
án
ra
quyết
định
đình
chỉ
vụ
án.
Người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
và
việc
giải
quyết
tại
phiên
toà
phúc
thẩm:
Vấn
đề
người
bị
hại
có
đề
nghị
rút
yêu
cầu
khởi
tố
tại
phiên
toà
phúc
thẩm
không
có
điều
luật
nào
quy
định
về
việc
giải
quyết
vụ
án
như
thế
nào,
như
vậy
nếu
có
trường
hợp
này
xảy
ra
thì
vụ
án
vẫn
được
tiến
hành
xét
xử
theo
thủ
tục
chung.
Tuy
nhiên
trong
thực
tiễn
xét
xử
vẫn
còn
có
nhiều
quan
điểm
khác
nhau
nên
đường
lối
giải
quyết
chưa
có
sự
thống
nhất.
-
Quan
điểm
thứ
nhất:
Tại
phiên
toà
phúc
thẩm
người
bị
hại
có
đề
nghị
rút
yêu
cầu
khởi
tố
thì
Hội
đồng
xét
xử
sau
khi
nghị
án
sẽ
ra
bản
án
huỷ
bản
án
sơ
thẩm,
tuyên
bố
bị
cáo
không
có
tội
và
đình
chỉ
vụ
án,
theo
quy
định
tại
Điều
251
BLTTHS.
-
Quan
điểm
thứ
hai:
Tại
phiên
toà
phúc
thẩm
người
bị
hại
có
đề
nghị
rút
yêu
cầu
khởi
tố
thì
Hội
đồng
xét
xử
coi
là
một
tình
tiết
giảm
nhẹ
đối
với
bị
cáo.
Tuỳ
từng
trường
hợp
cụ
thể
Hội
đồng
xét
xử
có
thể
quyết
định
miễn
trách
nhiệm
hình
sự,
miễn
hình
phạt
cho
bị
cáo
theo
quy
định
tại
Điều
25,
Điều
54
BLHS
hoặc
áp
dụng
hình
phạt
nhẹ
hơn
cho
bị
cáo
theo
quy
định
tại
điểm
đ
khoản
1
Điều
249
BLTTHS.
Từ
những
nhận
thức,
quan
điểm
khác
nhau
do
vậy
đường
lối
giải
quyết
các
vụ
án
có
cùng
tính
chất,
mức
độ,
hậu
quả,
các
tình
tiết
giảm
nhẹ
trách
nhiệm
hình
sự
nhưng
Hội
đồng
xét
xử
lại
ra
quyết
định
áp
dụng
với
mỗi
bị
cáo
có
sự
khác
nhau.
Ở
cùng
một
địa
phương,
trong
cùng
1
thời
điểm,
có
vụ
án
khi
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
tại
phiên
toà
thì
Hội
đồng
xét
xử
ra
quyết
định
đình
chỉ
vụ
án,
có
vụ
cho
miễn
hình
phạt,
có
vụ
vẫn
tiến
hành
xét
xử
và
chỉ
xem
xét
giảm
nhẹ
hình
phạt
cho
bị
cáo.
Ở
cấp
phúc
thẩm
có
vụ
án
thì
Hội
đồng
xét
xử
tuyên
huỷ
bản
án
sơ
thẩm,
tuyên
bố
bị
cáo
không
phạm
tội
và
đình
chỉ
vụ
án,
có
vụ
án
lại
chuyển
sang
hình
phạt
khác
nhẹ
hơn...
Điều
đó
thể
hiện
việc
áp
dụng
pháp
luật
không
được
thống
nhất,
từ
đó
dẫn
đến
không
đảm
bảo
sự
công
bằng
trong
quá
trình
giải
quyết
giữa
các
vụ
án.
Qua
nghiên
cứu
những
quan
điểm
nêu
trên
và
đối
chiếu
các
quy
định
của
pháp
luật
thấy
rằng
có
những
vấn
đề
vướng
mắc,
không
thống
nhất
như
đã
nêu
trên
là
do
nhận
thức
pháp
luật
của
mỗi
cá
nhân
trong
quá
trình
thực
thi
pháp
luật,
chứ
không
có
sự
mâu
thuẫn
do
quy
định
của
pháp
luật.
Theo
quy
định
tại
khoản
2
Điều
105
BLTTHS
thì
“Trong
trường
hợp
người
đã
yêu
cầu
khởi
tố
rút
yêu
cầu
trước
ngày
mở
phiên
toà
sơ
thẩm
thì
vụ
án
phải
được
đình
chỉ”.
Như
vậy
thì
tại
phiên
toà
sơ
thẩm
và
phúc
thẩm
thì
người
bị
hại
không
có
quyền
rút
yêu
cầu
khởi
tố.
Theo
quan
điểm
của
tôi
nếu
xảy
ra
trường
hợp
này
thì
Hội
đồng
xét
xử
nên
xem
xét
yêu
cầu
của
người
bị
hại
như
một
tình
tiết
giảm
nhẹ
đối
với
bị
cáo
được
áp
dụng
theo
khoản
2
Điều
46
BLHS.
Đối
với
các
quan
điểm
tại
phiên
toà
sơ
thẩm
khi
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
sẽ
đình
chỉ
việc
giải
quyết
vụ
án
theo
quy
định
tại
khoản
2
Điều
199
BLTTHS,
miễn
trách
nhiệm
hình
sự
theo
quy
định
tại
Điều
25
BLHS,
miễn
hình
phạt
cho
bị
cáo
theo
quy
định
tại
Điều
54
BLHS,
hoặc
tuyên
bố
bị
cáo
không
có
tội
và
đình
chỉ
vụ
án,
theo
quy
định
tại
Điều
251
BLTTHS
(tại
phiên
toà
phúc
thẩm)
tôi
thấy
không
có
căn
cứ.
Cụ
thể:
-
Nếu
đình
chỉ
vụ
án
theo
quy
định
tại
khoản
2
Điều
199
BLHS
thì
phải
có
1
trong
các
căn
cứ
quy
định
tại
khoản
2
Điều
105
và
các
điểm
3,
4,
5,
6
và
7
Điều
107
BLTTHS
(quy
định
tại
Điều
180
BLTTHS).
Trong
các
điểm,
khoản
này
này
không
có
quy
định
trường
hợp
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
tại
phiên
toà.
-
Nếu
đình
chỉ
miễn
trách
nhiệm
hình
sự
hoặc
miễn
hình
phạt
theo
quy
định
tại
Điều
25
và
Điều
54
BLHS
cũng
thấy
không
phù
hợp
vì
theo
Điều
25
BLHS
thì
người
phạm
tội
được
miễn
trách
nhiệm
hình
sự
do
chuyển
biến
tình
hình
mà
hành
vi
phạm
tội
hoặc
người
phạm
tội
không
còn
nguy
hiểm
cho
xã
hội
nữa
hoặc
người
phạm
tội
tự
thú,
góp
phần
hiệu
quả
vào
việc
phát
hiện,
điều
tra
tội
phạm,
cố
gắng
hạn
chế
đến
mức
thấp
nhất
hậu
quả
của
tội
phạm.
Theo
Điều
54
BLHS
thì
người
phạm
tội
có
thể
được
miễn
hình
phạt
trong
trường
hợp
có
nhiều
tình
tiết
giảm
nhẹ
quy
định
tại
khoản
1
Điều
46
của
bộ
luật
này,
đáng
được
khoan
hồng
đặc
biệt.
-
Nếu
tại
cấp
phúc
thẩm
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
mà
đình
chỉ
vụ
án
theo
quy
định
tại
Điều
251
BLTTHS
là
không
có
cơ
sở
pháp
lý
vì
theo
quy
định
của
điều
luật
này
phải
có
1
trong
những
căn
cứ
quy
định
tại
Điều
107
của
BLTTHS.
Tóm
lại,
trong
trường
hợp
người
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố
tại
phiên
toà,
Hội
đồng
xét
xử
có
nhiều
quan
điểm
giải
quyết
khác
nhau,
nhưng
các
quan
điểm
giải
quyết
theo
hướng
đình
chỉ
vụ
án
như
trên
là
không
có
căn
cứ
pháp
lý,
có
sự
sai
lầm
nghiêm
trọng
trong
việc
giải
quyết
vụ
án.
Từ
những
vấn
đề
xảy
ra
trong
thực
tiễn
áp
dụng
pháp
luật
nêu
trên,
tôi
thấy
việc
BLTTHS
chỉ
quy
định
cho
người
bị
hại
có
quyền
rút
yêu
cầu
khởi
tố
trước
ngày
mở
phiên
toà
sơ
thẩm
là
chưa
phù
hợp.
Luật
hình
sự
Việt
Nam
mang
bản
chất
nhân
đạo
và
luôn
thể
hiện
sự
khoan
hồng
đối
với
người
phạm
tội,
hình
phạt
trong
luật
hình
sự
không
chỉ
nhằm
trừng
trị
người
phạm
tội
mà
còn
răn
đe,
giáo
dục
họ
trở
thành
người
có
ích
cho
xã
hội,
có
ý
thức
tuân
theo
pháp
luật
và
các
quy
tắc
của
cuộc
sống
xã
hội
chủ
nghĩa,
ngăn
ngừa
họ
phạm
tội
mới,
đồng
thời
luật
hình
sự
cũng
bảo
đảm
quyền
con
người,
quyền
của
những
chủ
thể
bị
tội
phạm
xâm
hại.
Xuất
phát
từ
mục
đích
đó
nên
ngay
trong
nội
dung
quy
định
tại
Điều
105
BLTTHS
thể
hiện
đối
với
một
số
các
tội
phạm
xâm
phạm
sức
khoẻ,
danh
dự,
nhân
phẩm,
xâm
phạm
trật
tự
quản
lý
kinh
tế
có
tính
chất
ít
nghiêm
trọng,
thiệt
hại
do
hành
vi
phạm
tội
gây
ra
không
lớn
thì
người
bị
hại
hoặc
người
đại
diện
hợp
pháp
của
họ
có
quyền
yêu
cầu
khởi
tố
hoặc
không
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
và
họ
có
quyền
rút
yêu
cầu
khởi
tố
nhưng
chỉ
giới
hạn
ở
thời
điểm
trước
ngày
mở
phiên
toà
sơ
thẩm.
Theo
tôi
việc
giới
hạn
này
làm
hạn
chế
người
bị
hại
thực
hiện
quyền
công
dân
của
mình,
thời
điểm
trước
ngày
mở
phiên
toà
hay
tại
phiên
toà
có
thể
dài
hay
ngắn
tuỳ
theo
từng
vụ
án,
nhưng
yêu
cầu
của
người
bị
hại
vào
thời
điểm
nào
cũng
không
làm
thay
đổi
nội
dung
vụ
án
mà
sự
thay
đổi
ở
đây
là
thái
độ
ăn
năn,
hối
cải
của
người
phạm
tội,
sự
bao
dung,
độ
lượng,
tha
thứ
của
người
bị
hại
đối
với
người
phạm
tội...
làm
thay
đổi
quyết
định
của
người
bị
hại
tiếp
tục
yêu
cầu
giải
quyết
hay
quyết
định
rút
yêu
cầu
khởi
tố.
Việc
rút
yêu
cầu
khởi
tố
ở
thời
điểm
nào
cũng
có
lợi
cho
các
bên,
trong
đó
có
cả
lợi
ích
của
Nhà
nước,
khi
người
bị
hại
đã
có
đề
nghị
rút
yêu
cầu
khởi
tố
có
nghĩa
là
họ
thể
hiện
ý
chí
không
mong
muốn
giải
quyết
bằng
biện
pháp
hình
sự
nữa
mà
họ
muốn
tự
thoả
thuận
dân
sự
với
nhau
thì
vụ
án
phải
được
đình
chỉ
(vì
pháp
luật
đã
cho
họ
quyền
đó).
Do
vậy
cần
phải
sửa
đổi
quy
định
tại
khoản
2
Điều
105
BLTTHS
để
bảo
đảm
sự
bình
đẳng,
thống
nhất
trong
quá
trình
thực
thi
pháp
luật,
bảo
đảm
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
mọi
công
dân,
đồng
thời
thể
hiện
sự
tôn
trọng
thoả
thuận
của
công
dân,
tạo
sự
gắn
bó,
đoàn
kết
trong
cộng
đồng
dân
cư.
Đề
xuất
sửa
đổi
khoản
2
Điều
105
BLTTHS
như
sau:
“Trong
trường
hợp
người
đã
yêu
cầu
khởi
tố
rút
yêu
cầu
thì
vụ
án
phải
được
đình
chỉ.”
Trần
Thị
Bích
Hạnh