Kiểm tra viên VKSND thành phố Tuyên Quang báo cáo chuyên đề: “Kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự sơ thẩm”.
- Thứ sáu - 09/02/2018 15:40
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Năm 2018, toàn ngành kiểm sát đã xác định nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, vụ án hành chính, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, công tác kiểm sát bản án, quyết định dân sự là hoạt động quan trọng hàng đầu của quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, có mối quan hệ chặt chẽ và là tiền đề, cơ sở cho công tác kháng nghị, kiến nghị; đảm bảo việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.
Xuất
phát
từ
tầm
quan
trọng
đó,
căn
cứ
vào
tình
hình
thực
tế
của
đơn
vị,
bám
sát
kế
hoạch
của
ngành,
tôi
chọn
chuyên
đề
“Kỹ
năng
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chấp
dân
sự
sơ
thẩm”
làm
chuyên
đề
nghiên
cứu.
1. Kỹ năng kiểm sát các bản án, quyết định giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự sơ thẩm của Tòa án để thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 21 BLTTDS
Trước hết, khi nhận được bản án, quyết định giải quyết các tranh chấp dân sự của Tòa án; Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công phải vào sổ theo đúng cột mục và lập phiếu kiểm sát (theo mẫu quy định của ngành) đối với mỗi bản án, quyết định; đối chiếu với các quy định của pháp luật để kiểm sát các nội dung sau:
- Kiểm sát về thời hạn Tòa án gửi bản án, quyết định cho Viện kiểm sát có đúng theo quy định tại các Điều luật tương ứng trong BLTTDS không?
- Kiểm sát về hình thức của bản án, quyết định của Tòa án có đúng theo mẫu của Hội đồng thẩm phán TANDTC (ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/ 2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao); đồng thời đối chiếu họ tên, địa chỉ của đương sự trong bản án, quyết định có đúng với họ tên, địa chỉ của đương sự trong Thông báo thụ lý hoặc Thông báo đưa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan của Tòa án đã gửi cho Viện kiểm sát không? nếu có sự khác nhau về họ tên, địa chỉ của đương sự thì phải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ của Tòa án xem sự khác nhau đó.
- Kiểm sát về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 BLTTDS bằng cách đối chiếu số, ngày, tháng, năm thụ lý với ngày Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Kiểm sát về thành phần, tư cách tham gia tố tụng đã đúng quy định của BLTTDS chưa, đặc biệt là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 73 BLTTDS. Thực tiễn còn có vụ án xác định sai tư cách tham gia tố tụng của đương sự, vi phạm phổ biến là nhầm lẫn giữa xác định tư cách tham gia tố tụng giữa bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không đưa người liên quan vào tham gia tố tụng…. Dạng vi phạm này thường gặp ở các vụ án tranh chấp di sản thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất,…
- Về nội dung: Khi kiểm sát đối với các bản án, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự, cần phải kiểm sát về căn cứ đình chỉ, tạm đình chỉ có đúng theo quy định tại các Điều 214, 217 BLTTDS; hậu quả của việc đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án có đúng với quy định tại các Điều 215, 218 BLTTDS; cần đối chiếu với biên bản hòa giải thành mà Tòa án căn cứ vào đó để ra Quyết định công nhận có đúng với nội dung thỏa thuận của các đương sự không, sự thỏa thuận của các đương sự có vi phạm điều cấm của pháp luật và có trái đạo đức xã hội không; kiểm sát việc xử lý tiền tạm ứng án phí, lệ phí của Tòa án có đúng theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội (đối với các vụ án tranh chấp dân sự thụ lý trước ngày 01/01/2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án (áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho đương sự) đối chiếu với số ngày tháng biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án có đúng không…
Trường hợp KSV không tham gia phiên tòa thì phải nghiên cứu kỹ lời trình bày của các đương sự và phần nhận định trong bản án, xem Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng, giải quyết vụ án có vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập không? áp dụng pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung hay văn bản Nghị quyết nào để giải quyết và có còn hiệu lực thi hành không, viện dẫn các điều luật đã chính xác, đã đầy đủ và tính án phí đúng chưa … Chỉ khi nào xác định được đúng đối tượng tranh chấp thì Tòa án mới xác định đúng quan hệ pháp luật; nếu Tòa án xác định không đúng đối tượng tranh chấp sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng. Cần lưu ý xem yêu cầu cuối cùng của nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và tài liệu chứng cứ để chứng minh tại phiên tòa theo quy định tại Điều 243 BLTTDS có được bản án phản ánh đầy đủ hay không? đây là cơ sở để HĐXX chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hay bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cần xem xét việc các đương sự xuất trình các tài liệu có liên quan để chứng minh cho lời khai của mình và xem xét việc Tòa án chấp nhận các tài liệu đó có giá trị chứng minh hay không.
Đặc biệt, cần lưu ý kiểm sát phần nhận định của bản án để xem xét tính có căn cứ và tính hợp pháp trong những phân tích của Tòa án; nhận định của Tòa án có dựa trên những nội dung được phản ánh hay không. Qua đó, phát hiện ra các vi phạm của Tòa án như: Nội dung và nhận định mâu thuẫn nhau, nhận định không phản ánh hết nội dung hoặc phản ánh sai nội dung, hoặc nhận định mang tính chủ quan của Hội đồng xét xử…
Về phần quyết định của bản án vì đây là nội dung cơ bản để xác định bản án có vi phạm không, mức độ vi phạm như thế nào. Tại điểm c, khoản 2 Điều 266 BLTTDS quy định: Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của HĐXX về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ trong quyết định đó. Đối với bản án mà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, ngoài các nội dung trên cần phải xem phần quyết định của bản án có đúng với quyết định trong bản án Tòa án đã tuyên tại phiên tòa không…
Quá trình kiểm sát, nếu phát hiện có vi phạm của Tòa án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm tập hợp vi phạm để kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục, rút kinh nghiệm hoặc báo cáo Viện trưởng thực hiện quyền kháng nghị theo quy định. Đồng thời, phải sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm, phiếu kiểm sát bản án, quyết định cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm đúng mẫu quy định, đầy đủ và kịp thời.
2. Thực trạng công tác kiểm sát bản án, quyết định dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang
2.1. Những kết quả đạt được
Từ năm 2014 đến nay thông qua công tác kiểm sát, đã phát hiện được các vi phạm của Tòa án như: Vi phạm về thời hạn gửi bản án, quyết định; thời hạn chuẩn bị xét xử và tính án phí không đúng quy định của BLTTDS; sai số, ngày, tháng, năm, ký hiệu văn bản; sai tên đương sự; áp dụng không đúng căn cứ pháp luật; vi phạm về thời hạn ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; tính lãi suất, án phí không đúng quy định của pháp luật; Bản án không tuyên quyền kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa; Viện kiểm sát đã ban hành 21 kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục, sửa chữa vi phạm và được Tòa án chấp nhận. Đồng thời, đơn vị cũng đã ban hành 04 kháng nghị đối với Bản án, quyết định dân sự của Tòa án và được cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng nghị; báo cáo Viện kiểm sát tỉnh kháng nghị 03 vụ, được chấp nhận.
2.2. Tồn tại, hạn chế, nguyên nhân
1. Kỹ năng kiểm sát các bản án, quyết định giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự sơ thẩm của Tòa án để thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 21 BLTTDS
Trước hết, khi nhận được bản án, quyết định giải quyết các tranh chấp dân sự của Tòa án; Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công phải vào sổ theo đúng cột mục và lập phiếu kiểm sát (theo mẫu quy định của ngành) đối với mỗi bản án, quyết định; đối chiếu với các quy định của pháp luật để kiểm sát các nội dung sau:
- Kiểm sát về thời hạn Tòa án gửi bản án, quyết định cho Viện kiểm sát có đúng theo quy định tại các Điều luật tương ứng trong BLTTDS không?
- Kiểm sát về hình thức của bản án, quyết định của Tòa án có đúng theo mẫu của Hội đồng thẩm phán TANDTC (ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/ 2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao); đồng thời đối chiếu họ tên, địa chỉ của đương sự trong bản án, quyết định có đúng với họ tên, địa chỉ của đương sự trong Thông báo thụ lý hoặc Thông báo đưa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan của Tòa án đã gửi cho Viện kiểm sát không? nếu có sự khác nhau về họ tên, địa chỉ của đương sự thì phải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ của Tòa án xem sự khác nhau đó.
- Kiểm sát về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 BLTTDS bằng cách đối chiếu số, ngày, tháng, năm thụ lý với ngày Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Kiểm sát về thành phần, tư cách tham gia tố tụng đã đúng quy định của BLTTDS chưa, đặc biệt là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 73 BLTTDS. Thực tiễn còn có vụ án xác định sai tư cách tham gia tố tụng của đương sự, vi phạm phổ biến là nhầm lẫn giữa xác định tư cách tham gia tố tụng giữa bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không đưa người liên quan vào tham gia tố tụng…. Dạng vi phạm này thường gặp ở các vụ án tranh chấp di sản thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất,…
- Về nội dung: Khi kiểm sát đối với các bản án, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự, cần phải kiểm sát về căn cứ đình chỉ, tạm đình chỉ có đúng theo quy định tại các Điều 214, 217 BLTTDS; hậu quả của việc đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án có đúng với quy định tại các Điều 215, 218 BLTTDS; cần đối chiếu với biên bản hòa giải thành mà Tòa án căn cứ vào đó để ra Quyết định công nhận có đúng với nội dung thỏa thuận của các đương sự không, sự thỏa thuận của các đương sự có vi phạm điều cấm của pháp luật và có trái đạo đức xã hội không; kiểm sát việc xử lý tiền tạm ứng án phí, lệ phí của Tòa án có đúng theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội (đối với các vụ án tranh chấp dân sự thụ lý trước ngày 01/01/2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án (áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho đương sự) đối chiếu với số ngày tháng biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án có đúng không…
Trường hợp KSV không tham gia phiên tòa thì phải nghiên cứu kỹ lời trình bày của các đương sự và phần nhận định trong bản án, xem Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng, giải quyết vụ án có vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập không? áp dụng pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung hay văn bản Nghị quyết nào để giải quyết và có còn hiệu lực thi hành không, viện dẫn các điều luật đã chính xác, đã đầy đủ và tính án phí đúng chưa … Chỉ khi nào xác định được đúng đối tượng tranh chấp thì Tòa án mới xác định đúng quan hệ pháp luật; nếu Tòa án xác định không đúng đối tượng tranh chấp sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng. Cần lưu ý xem yêu cầu cuối cùng của nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và tài liệu chứng cứ để chứng minh tại phiên tòa theo quy định tại Điều 243 BLTTDS có được bản án phản ánh đầy đủ hay không? đây là cơ sở để HĐXX chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hay bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cần xem xét việc các đương sự xuất trình các tài liệu có liên quan để chứng minh cho lời khai của mình và xem xét việc Tòa án chấp nhận các tài liệu đó có giá trị chứng minh hay không.
Đặc biệt, cần lưu ý kiểm sát phần nhận định của bản án để xem xét tính có căn cứ và tính hợp pháp trong những phân tích của Tòa án; nhận định của Tòa án có dựa trên những nội dung được phản ánh hay không. Qua đó, phát hiện ra các vi phạm của Tòa án như: Nội dung và nhận định mâu thuẫn nhau, nhận định không phản ánh hết nội dung hoặc phản ánh sai nội dung, hoặc nhận định mang tính chủ quan của Hội đồng xét xử…
Về phần quyết định của bản án vì đây là nội dung cơ bản để xác định bản án có vi phạm không, mức độ vi phạm như thế nào. Tại điểm c, khoản 2 Điều 266 BLTTDS quy định: Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của HĐXX về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ trong quyết định đó. Đối với bản án mà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, ngoài các nội dung trên cần phải xem phần quyết định của bản án có đúng với quyết định trong bản án Tòa án đã tuyên tại phiên tòa không…
Quá trình kiểm sát, nếu phát hiện có vi phạm của Tòa án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm tập hợp vi phạm để kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục, rút kinh nghiệm hoặc báo cáo Viện trưởng thực hiện quyền kháng nghị theo quy định. Đồng thời, phải sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm, phiếu kiểm sát bản án, quyết định cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm đúng mẫu quy định, đầy đủ và kịp thời.
2. Thực trạng công tác kiểm sát bản án, quyết định dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang
2.1. Những kết quả đạt được
Từ năm 2014 đến nay thông qua công tác kiểm sát, đã phát hiện được các vi phạm của Tòa án như: Vi phạm về thời hạn gửi bản án, quyết định; thời hạn chuẩn bị xét xử và tính án phí không đúng quy định của BLTTDS; sai số, ngày, tháng, năm, ký hiệu văn bản; sai tên đương sự; áp dụng không đúng căn cứ pháp luật; vi phạm về thời hạn ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; tính lãi suất, án phí không đúng quy định của pháp luật; Bản án không tuyên quyền kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa; Viện kiểm sát đã ban hành 21 kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục, sửa chữa vi phạm và được Tòa án chấp nhận. Đồng thời, đơn vị cũng đã ban hành 04 kháng nghị đối với Bản án, quyết định dân sự của Tòa án và được cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng nghị; báo cáo Viện kiểm sát tỉnh kháng nghị 03 vụ, được chấp nhận.
2.2. Tồn tại, hạn chế, nguyên nhân
Bên
cạnh
những
kết
quả
đạt
được,
thời
gian
qua
việc
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
Bản
án,
Quyết
định
dân
sự
tại
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
thành
phố
Tuyên
Quang
còn
những
tồn
tại
hạn
chế
sau:
Bị cấp phúc thẩm hủy án dân sự sơ thẩm 03 vụ. Đơn vị đã tiến hành kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của Lãnh đạo phụ trách và Kiểm sát viên được phân công kiểm sát giải quyết các vụ án trên.
2.3. Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án tranh chấp dân sự của Tòa án
Bị cấp phúc thẩm hủy án dân sự sơ thẩm 03 vụ. Đơn vị đã tiến hành kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của Lãnh đạo phụ trách và Kiểm sát viên được phân công kiểm sát giải quyết các vụ án trên.
2.3. Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án tranh chấp dân sự của Tòa án
Thực
tiễn
công
tác
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
dân
sự
thời
gian
qua
cho
thấy
công
tác
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
của
Tòa
án
còn
không
ít
những
khó
khăn
như:
Đối
với
những
vụ
việc
Viện
kiểm
sát
không
tham
gia
phiên
tòa,
thực
tế
còn
có
trường
hợp
việc
yêu
cầu
chuyển
hồ
sơ
vụ
án
cho
Viện
kiểm
sát
chưa
được
Tòa
án
thực
hiện
nghiêm;
việc
chuyển
hồ
sơ
chậm
của
Tòa
án
làm
ảnh
hưởng
đến
thời
hạn
kháng
nghị
của
Viện
kiểm
sát,
dẫn
đến
số
lượng
kháng
nghị
còn
hạn
chế
so
với
án
bị
hủy,
sửa
cơ
bản.
Đồng
thời,
hiện
nay
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
và
các
văn
bản
hướng
dẫn
thi
hành
không
quy
định
Tòa
án
phải
gửi
cho
Viện
kiểm
sát
biên
bản
hòa
giải
thành
nên
công
tác
kiểm
sát
Quyết
định
công
nhận
sự
thỏa
thuận
của
các
đương
sự
còn
gặp
nhiều
khó
khăn.
Ngoài ra, tại Điều 268 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 không quy định rõ thời gian Tòa án chỉnh sửa, bổ sung bản án, có trường hợp Toà án thông báo sửa chữa, bổ sung bản án khi bản án đã ban hành vài năm, hoặc khi Viện kiểm sát có kháng nghị thì Toà án lại thông báo sửa chữa, bổ sung bản án. Bên cạnh đó, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể các trường hợp nào được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự để ban hành kháng nghị dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.
3. Giải pháp thực hiện tốt công tác Kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án tranh chấp dân sự trong thời gian tới
Một là, Tiếp tục thực hiện chủ trương Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã đề ra “tự đào tạo, đào tạo tại chỗ”, “cầm tay chỉ việc” đối với đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên, đặc biệt là các đồng chí Kiểm sát viên, Kiểm tra viên mới bổ nhiệm, cán bộ trẻ mới vào ngành.
Hai là, Lãnh đạo Viện cần chú trọng quán triệt và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác kiểm sát bản án, quyết định dân sự của Tòa án; cán bộ, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, nắm đầy đủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và của ngành về công tác kiểm sát bản án, quyết định dân sự của Tòa án, coi đây là một trong những khâu công tác kiểm sát cơ bản của đơn vị mình.
Ba là, quá trình kiểm sát bản án, quyết định, cần tổng hợp các dạng vi phạm phổ biến của Tòa án, thiếu sót của Viện kiểm sát trong quá trình kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự nói chung, kiểm sát Bản án nói riêng nhằm tổng hợp các kinh nghiệm cho mỗi cán bộ, kiểm sát viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên trẻ.
Ngoài ra, tại Điều 268 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 không quy định rõ thời gian Tòa án chỉnh sửa, bổ sung bản án, có trường hợp Toà án thông báo sửa chữa, bổ sung bản án khi bản án đã ban hành vài năm, hoặc khi Viện kiểm sát có kháng nghị thì Toà án lại thông báo sửa chữa, bổ sung bản án. Bên cạnh đó, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể các trường hợp nào được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự để ban hành kháng nghị dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.
3. Giải pháp thực hiện tốt công tác Kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án tranh chấp dân sự trong thời gian tới
Một là, Tiếp tục thực hiện chủ trương Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã đề ra “tự đào tạo, đào tạo tại chỗ”, “cầm tay chỉ việc” đối với đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên, đặc biệt là các đồng chí Kiểm sát viên, Kiểm tra viên mới bổ nhiệm, cán bộ trẻ mới vào ngành.
Hai là, Lãnh đạo Viện cần chú trọng quán triệt và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác kiểm sát bản án, quyết định dân sự của Tòa án; cán bộ, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, nắm đầy đủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và của ngành về công tác kiểm sát bản án, quyết định dân sự của Tòa án, coi đây là một trong những khâu công tác kiểm sát cơ bản của đơn vị mình.
Ba là, quá trình kiểm sát bản án, quyết định, cần tổng hợp các dạng vi phạm phổ biến của Tòa án, thiếu sót của Viện kiểm sát trong quá trình kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự nói chung, kiểm sát Bản án nói riêng nhằm tổng hợp các kinh nghiệm cho mỗi cán bộ, kiểm sát viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên trẻ.
Bốn là, cần tổ chức họp liên ngành Kiểm sát - Tòa án xây dựng Quy chế phối hợp, đặc biệt chú trọng các nội dung như: Khi gửi Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi kèm theo biên bản hòa giải thành; thời hạn sửa chữa, bổ sung bản án và thực hiện nghiêm việc chuyển hồ sơ giải quyết vụ án tranh chấp dân sự theo yêu cầu của Viện kiểm sát.
Năm là, thành lập “Tổ giúp việc nâng cao chất lượng công tác kiểm sát bản án, quyết định dân sự”. Trong đó, lực lượng nòng cốt là Kiểm sát viên bộ phận dân sự + các đồng chí Kiểm sát viên có năng lực ở các khâu công tác khác làm thành viên. Khi kiểm sát mỗi bản án, quyết định dân sự; đồng thời sao gửi bản án, quyết định cho các đồng chí thành viên cùng nghiên cứu cho ý kiến. Trên cơ sở ý kiến của toàn bộ các đồng chí trong tổ giúp việc, Lãnh đạo phụ trách tổng hợp, quyết định.
Trên đây là một số kỹ năng của bản thân tôi trong quá trình thực hiện công tác kiểm sát Bản án, quyết định giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự sơ thẩm; tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng chí.
Nguyễn
Thị
Như
Ngọc