BÀN VỀ XÁC ĐỊNH MỨC PHẠT CỌC KHI BÊN NHẬN ĐẶT CỌC VI PHẠM THỎA THUẬN TRONG HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC
- Thứ tư - 21/10/2026 17:52
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Khoản
2
Điều
328
Bộ
luật
Dân
sự
năm
2015
(viết
tắt
là
BLDS)
quy
định:
“Trường
hợp
hợp
đồng
được
giao
kết,
thực
hiện
thì
tài
sản
đặt
cọc
được
trả
lại
cho
bên
đặt
cọc
hoặc
được
trừ
để
thực
hiện
nghĩa
vụ
trả
tiền;
nếu
bên
đặt
cọc
từ
chối
việc
giao
kết,
thực
hiện
hợp
đồng
thì
tài
sản
đặt
cọc
thuộc
về
bên
nhận
đặt
cọc;
nếu
bên
nhận
đặt
cọc
từ
chối
việc
giao
kết,
thực
hiện
hợp
đồng
thì
phải
trả
cho
bên
đặt
cọc
tài
sản
đặt
cọc
và
một
khoản
tiền
tương
đương
giá
trị
tài
sản
đặt
cọc,
trừ
trường
hợp
có
thỏa
thuận
khác”.
Trong
thực
tiễn
kiểm
sát
giải
quyết
tranh
chấp
hợp
đồng
đặt
cọc
chuyển
nhượng
quyền
sử
dụng
đất,
việc
xác
định
mức
phạt
cọc
khi
các
bên
có
thỏa
thuận
cao
hơn
mức
mặc
định
tại
khoản
2
Điều
328
BLDS
còn
có
cách
hiểu
khác
nhau.
Từ
một
tình
huống
cụ
thể,
tác
giả
trao
đổi
nhằm
góp
phần
thống
nhất
nhận
thức,
áp
dụng
pháp
luật.
Theo
đơn
khởi
kiện
ngày
10/6/2024,
nguyên
đơn
ông
H,
bà
P
trình
bày:
Ngày
22/10/2021,
ông
H,
bà
P
và
ông
T,
bà
T1
ký
hợp
đồng
đặt
cọc
chuyển
nhượng
02
thửa
đất
với
giá
700.000.000
đồng.
Ông
H,
bà
P
đã
giao
280.000.000
đồng
tiền
đặt
cọc.
Các
bên
thỏa
thuận
ông
T,
bà
T1
phải
hoàn
tất
thủ
tục
chuyển
nhượng
trong
thời
hạn
120
ngày;
nếu
không
thực
hiện
việc
giao
kết
hợp
đồng
chuyển
nhượng
quyền
sử
dụng
đất
thì
phải
hoàn
trả
tiền
đặt
cọc
và
trả
tiền
phạt
cọc
bằng
hai
lần
số
tiền
đặt
cọc.
Do
ông
T,
bà
T1
không
thực
hiện
việc
chuyển
nhượng
theo
thỏa
thuận,
ông
H,
bà
P
khởi
kiện
yêu
cầu
hoàn
trả
280.000.000
đồng
tiền
đặt
cọc
và
trả
560.000.000
đồng
tiền
phạt
cọc,
tổng
cộng
840.000.000
đồng.
Bị
đơn
ông
T,
bà
T1
thừa
nhận
chữ
ký,
chữ
viết
của
mình
trên
hợp
đồng
nhưng
không
thừa
nhận
việc
nhận
tiền
và
cho
rằng
không
giao
kết
hợp
đồng
đặt
cọc.
Theo
kết
luận
giám
định
của
Cơ
quan
Cảnh
sát
điều
tra,
chữ
ký,
chữ
viết
mang
tên
ông
T,
bà
T1
trên
hợp
đồng
là
do
chính
những
người
này
ký,
viết.
Đối
với
việc
xác
định
mức
phạt
cọc,
có
hai
quan
điểm:
Quan
điểm
thứ
nhất:
Việc
giao
kết
hợp
đồng
chuyển
nhượng
không
thực
hiện
được
do
lỗi
của
bị
đơn
nên
bị
đơn
phải
hoàn
trả
tiền
đặt
cọc
và
chịu
phạt
cọc.
Tuy
nhiên,
thỏa
thuận
phạt
cọc
bằng
hai
lần
số
tiền
đặt
cọc
là
trái
pháp
luật,
chỉ
chấp
nhận
mức
phạt
cọc
280.000.000
đồng
theo
khoản
2
Điều
328
BLDS.
Tổng
số
tiền
bị
đơn
phải
trả
là
560.000.000
đồng.
Quan
điểm
thứ
hai:
Chấp
nhận
yêu
cầu
khởi
kiện,
buộc
bị
đơn
hoàn
trả
280.000.000
đồng
tiền
đặt
cọc
và
trả
560.000.000
đồng
tiền
phạt
cọc,
tổng
cộng
840.000.000
đồng.
Bởi
lẽ,
các
bên
được
quyền
thỏa
thuận
khác
về
hậu
quả
của
việc
vi
phạm
đặt
cọc
theo
nội
dung
“…
trừ
trường
hợp
có
thỏa
thuận
khác”
của
khoản
2
Điều
328
BLDS;
thỏa
thuận
hợp
pháp
phải
được
tôn
trọng
và
thực
hiện.
Quan
điểm
của
tác
giả:
Tác
giả
thống
nhất
với
quan
điểm
thứ
hai,
với
điều
kiện
có
đủ
căn
cứ
xác
định
hợp
đồng
đặt
cọc
được
giao
kết
hợp
pháp,
bên
đặt
cọc
đã
giao
tiền,
bên
nhận
đặt
cọc
phải
chịu
trách
nhiệm
về
việc
không
thực
hiện
nghĩa
vụ
và
thỏa
thuận
phạt
cọc
có
hiệu
lực.
Thứ
nhất,
về
căn
cứ
xác
định
mức
phạt
cọc.
Khoản
2
Điều
328
BLDS
quy
định
mức
phạt
cọc
mặc
định
bằng
giá
trị
tài
sản
đặt
cọc
khi
bên
nhận
đặt
cọc
từ
chối
giao
kết,
thực
hiện
hợp
đồng,
đồng
thời
ghi
nhận
ngoại
lệ
“trừ
trường
hợp
có
thỏa
thuận
khác”.
Quy
định
này
thừa
nhận
quyền
thỏa
thuận
của
các
bên,
không
bắt
buộc
mức
phạt
cọc
trong
mọi
trường
hợp
phải
bằng
đúng
giá
trị
tài
sản
đặt
cọc.
Theo
khoản
2
Điều
3
BLDS,
cam
kết,
thỏa
thuận
được
xác
lập
tự
do,
tự
nguyện,
không
vi
phạm
điều
cấm
của
luật,
không
trái
đạo
đức
xã
hội
thì
có
hiệu
lực
thực
hiện
đối
với
các
bên.
Vì
vậy,
không
thể
chỉ
căn
cứ
vào
việc
mức
phạt
cọc
cao
hơn
mức
mặc
định
tại
khoản
2
Điều
328
BLDS
để
kết
luận
thỏa
thuận
trái
pháp
luật;
cần
xem
xét
hiệu
lực
và
nội
dung
cụ
thể
của
thỏa
thuận.
Thứ
hai,
về
điều
kiện
có
hiệu
lực
của
hợp
đồng
đặt
cọc
và
thỏa
thuận
phạt
cọc.
Điều
117
BLDS
quy
định
các
điều
kiện
có
hiệu
lực
của
giao
dịch
dân
sự,
gồm
điều
kiện
về
chủ
thể,
sự
tự
nguyện,
mục
đích
và
nội
dung;
hình
thức
phải
tuân
thủ
quy
định
của
pháp
luật
trong
trường
hợp
luật
có
yêu
cầu.
Trong
vụ
án,
kết
luận
giám
định
chữ
ký,
chữ
viết
là
căn
cứ
quan
trọng
để
xem
xét
việc
xác
lập
hợp
đồng,
nhưng
không
đương
nhiên
chứng
minh
việc
giao
nhận
280.000.000
đồng.
Tòa
án
cần
đánh
giá
kết
luận
giám
định
cùng
hợp
đồng
và
các
tài
liệu,
chứng
cứ
khác
để
làm
rõ
việc
giao
nhận
tiền,
ý
chí
của
các
bên
và
nội
dung
thỏa
thuận
thực
tế.
Đối
với
điều
khoản
phạt
cọc,
việc
thỏa
thuận
bên
nhận
đặt
cọc
phải
hoàn
trả
tiền
đặt
cọc
và
trả
thêm
khoản
tiền
bằng
hai
lần
số
tiền
đặt
cọc
không
đương
nhiên
vi
phạm
điều
cấm
của
luật
hoặc
trái
đạo
đức
xã
hội.
Nếu
giao
dịch
đáp
ứng
các
điều
kiện
có
hiệu
lực,
thỏa
thuận
rõ
ràng
và
điều
kiện
phát
sinh
trách
nhiệm
phạt
cọc
được
đáp
ứng
thì
cần
tôn
trọng,
áp
dụng
đúng
cam
kết
của
các
bên
Thứ
ba,
về
hậu
quả
pháp
lý
khi
bên
nhận
đặt
cọc
vi
phạm
thỏa
thuận.
Trong
vụ
án
này,
theo
nội
dung
thỏa
thuận
được
nêu,
nghĩa
vụ
của
bị
đơn
gồm
hoàn
trả
280.000.000
đồng
tiền
đặt
cọc
và
trả
560.000.000
đồng
tiền
phạt
cọc,
tổng
cộng
840.000.000
đồng.
Nếu
thỏa
thuận
này
hợp
pháp
và
đủ
điều
kiện
áp
dụng,
việc
chỉ
chấp
nhận
mức
phạt
cọc
mặc
định
280.000.000
đồng
sẽ
không
phù
hợp
với
cam
kết
của
các
bên.
Thực
tiễn
xét
xử
phúc
thẩm
vụ
án
cũng
cho
thấy
hướng
giải
quyết
này
có
cơ
sở.
Tòa
án
cấp
phúc
thẩm
đã
chấp
nhận
kháng
cáo
của
nguyên
đơn
và
kháng
nghị
của
Viện
kiểm
sát,
sửa
bản
án
sơ
thẩm
theo
hướng
buộc
bị
đơn
hoàn
trả
tiền
đặt
cọc
và
chịu
phạt
cọc
theo
thỏa
thuận,
tổng
cộng
840.000.000
đồng.
Kết
quả
này
cho
thấy
cần
xem
xét
nội
dung
thỏa
thuận
hợp
pháp
của
các
bên,
thay
vì
chỉ
áp
dụng
mức
phạt
cọc
mặc
định
trong
mọi
trường
hợp.
Một
số
vấn
đề
cần
lưu
ý
trong
thực
tiễn
kiểm
sát:
Từ
vụ
án
trên,
khi
kiểm
sát
việc
giải
quyết
tranh
chấp
hợp
đồng
đặt
cọc,
cần
chú
ý:
Một
là,
làm
rõ
nội
dung
thỏa
thuận
về
tiền
đặt
cọc
và
phạt
cọc,
phân
biệt
khoản
tiền
phải
hoàn
trả
với
khoản
tiền
phạt
cọc;
trường
hợp
điều
khoản
chưa
rõ,
cần
giải
thích
trên
cơ
sở
hợp
đồng,
ý
chí
của
các
bên
và
quy
định
pháp
luật
có
liên
quan.
Hai
là,
đánh
giá
đầy
đủ
chứng
cứ
về
việc
xác
lập
hợp
đồng
và
giao
nhận
tiền.
Kết
luận
giám
định
chữ
ký,
chữ
viết
không
đương
nhiên
chứng
minh
việc
giao
nhận
tiền;
cần
xem
xét
toàn
diện
chứng
cứ
trong
hồ
sơ.
Ba
là,
xác
định
nguyên
nhân
hợp
đồng
chuyển
nhượng
không
được
giao
kết,
thực
hiện,
hành
vi
vi
phạm
và
trách
nhiệm
của
từng
bên;
không
mặc
nhiên
buộc
bên
nhận
đặt
cọc
chịu
phạt
chỉ
vì
hợp
đồng
không
được
thực
hiện.
Bốn
là,
kiểm
tra
điều
kiện
có
hiệu
lực
của
hợp
đồng
đặt
cọc
và
thỏa
thuận
phạt
cọc
theo
Điều
117
BLDS;
chỉ
đề
xuất
buộc
bên
vi
phạm
thực
hiện
nghĩa
vụ
khi
có
đủ
căn
cứ
pháp
lý
và
chứng
cứ.
Như
vậy,
khoản
2
Điều
328
BLDS
năm
2015
vừa
quy
định
mức
phạt
cọc
mặc
định,
vừa
thừa
nhận
quyền
thỏa
thuận
khác
của
các
bên.
Thỏa
thuận
phạt
cọc
cao
hơn
mức
mặc
định
không
đương
nhiên
vô
hiệu;
việc
áp
dụng
phải
căn
cứ
vào
hiệu
lực,
nội
dung
thỏa
thuận
và
điều
kiện
phát
sinh
trách
nhiệm
của
bên
vi
phạm.
Nhận
thức
và
áp
dụng
thống
nhất
quy
định
này
góp
phần
bảo
vệ
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
của
các
bên
và
hạn
chế
những
cách
hiểu
khác
nhau
trong
thực
tiễn
xét
xử.
Tác
giả
mong
muốn
nhận
được
góp
ý
của
bạn
đọc
và
đồng
nghiệp.
Vương Thị Chiêm - Phòng 9