Một số vấn đề góp ý dự thảo Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
- Thứ hai - 25/11/2019 10:24
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Công
tác
hòa
giải,
đối
thoại
có
vai
trò
đặc
biệt
quan
trọng,
là
nhu
cầu
và
đòi
hỏi
của
xã
hội
để
giải
quyết
các
tranh
chấp
phát
sinh
trong
đời
sống.
Hòa
giải,
đối
thoại
góp
phần
hàn
gắn
những
mâu
thuẫn,
rạn
nứt,
nâng
cao
ý
thức
pháp
luật
của
người
dân,
ngăn
ngừa
các
tranh
chấp
trong
tương
lai,
tạo
sự
đồng
thuận,
xây
dựng
khối
đoàn
kết
trong
nhân
dân,
góp
phần
bảo
đảm
an
ninh
chính
trị
và
trật
tự
an
toàn
xã
hội.
Hòa
giải
thành,
đối
thoại
thành
còn
giúp
giải
quyết
triệt
để,
hiệu
quả
các
tranh
chấp
mà
Tòa
án
không
phải
mở
phiên
tòa
xét
xử
qua
nhiều
trình
tự
thủ
tục
được
pháp
luật
quy
định,
không
phải
tổ
chức
thi
hành
án…như
vậy
sẽ
tiết
kiệm
được
nhiều
chi
phí,
thời
gian
của
các
bên
liên
quan
và
Nhà
nước,
hạn
chế
tranh
chấp,
khiếu
kiện
kéo
dài,
gây
bức
xúc
trong
dư
luận.
Công
tác
hòa
giải,
đối
thoại
có
vai
trò
đặc
biệt
quan
trọng,
là
nhu
cầu
và
đòi
hỏi
của
xã
hội
để
giải
quyết
các
tranh
chấp
phát
sinh
trong
đời
sống.
Hòa
giải,
đối
thoại
góp
phần
hàn
gắn
những
mâu
thuẫn,
rạn
nứt,
nâng
cao
ý
thức
pháp
luật
của
người
dân,
ngăn
ngừa
các
tranh
chấp
trong
tương
lai,
tạo
sự
đồng
thuận,
xây
dựng
khối
đoàn
kết
trong
nhân
dân,
góp
phần
bảo
đảm
an
ninh
chính
trị
và
trật
tự
an
toàn
xã
hội.
Hòa
giải
thành,
đối
thoại
thành
còn
giúp
giải
quyết
triệt
để,
hiệu
quả
các
tranh
chấp
mà
Tòa
án
không
phải
mở
phiên
tòa
xét
xử
qua
nhiều
trình
tự
thủ
tục
được
pháp
luật
quy
định,
không
phải
tổ
chức
thi
hành
án…
như
vậy
sẽ
tiết
kiệm
được
nhiều
chi
phí,
thời
gian
của
các
bên
liên
quan
và
Nhà
nước,
hạn
chế
tranh
chấp,
khiếu
kiện
kéo
dài,
gây
bức
xúc
trong
dư
luận.
Hiện nay, theo quy định của pháp luật hiện hành đã có quy định về hòa giải, đối thoại gồm hòa giải, đối thoại trong tố tụng như hòa giải trong Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và hòa giải đối thoại ngoài tố tụng như hòa giải theo Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo… thủ tục hòa giải đối thoại ở mỗi phương thức đều có ý nghĩa, tầm quan trọng và mang tính bắt buộc.
Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, mỗi năm Tòa án nhân dân các cấp phải thụ lý giải quyết hàng ngàn các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện từ các lĩnh vực khác nhau, nhiều nhất là các vụ, việc trong lĩnh vực dân sự, hành chính. Do khiếu kiện, tranh chấp ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất ngày càng phức tạp là một áp lực rất lớn đối với ngành Tòa án đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ để giúp giảm tải khối lượng công việc ngày càng nặng nề. Một trong các giải pháp được ngành Tòa án quan tâm đó là đổi mới, tăng cường và nâng cao hiệu quả hòa giải, đối thoại trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng. Từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2019, Tòa án nhân dân tối cao đã triển khai thí điểm tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính, kết quả tỷ lệ hòa giải, đối thoại thành đạt tỷ lệ cao, giải quyết hiệu quả những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, làm giảm tỷ lệ các vụ, việc Tòa án phải thụ lý giải quyết.
Xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cũng như ý nghĩa, tầm quan trọng của hòa giải, đối thoại tại Tòa án, việc ban hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án là cần thiết. Tuy nhiên để các quy định của Luật được đi vào cuộc sống và tránh bị chồng chéo cũng cần được cân nhắc, chỉnh sửa cho phù hợp một số nội dung sau:
- Về kinh phí cho công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án: Khoản 1 Điều 6 dự thảo quy định: “Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án từ ngân sách Nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật”. Việc hòa giải, đối thoại thành sẽ làm giảm đáng kể các vụ, việc Tòa án phải thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng, từ đó cũng làm giảm các khoản chi từ ngân sách nhà nước cho công tác xét xử của Tòa án, công tác Thi hành án của cơ quan Thi hành án, do vậy quy định nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải, đối thoại là phù hợp, tuy nhiên những khoản chi cho hoạt động của tổ hòa giải, đối thoại là rất lớn, để đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả và hạn chế các khoản chi phát sinh thêm từ ngân sách nên quy định về việc thu hút đầu tư từ nguồn xã hội hóa, từ lệ phí hòa giải, đối thoại của các bên tranh chấp vì họ là những người được hưởng lợi từ công tác này, luật nên quy định mức thu lệ phí phù hợp để thúc đẩy các bên tranh chấp tham gia hòa giải, đối thoại.
- Quy định về tiêu chuẩn chung của Hòa giải viên: Điểm b khoản 2 Điều 9 dự thảo quy định: “Luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác” là quá cao vì tại điểm b, d khoản 1 dự thảo đã quy định “Có kinh nghiệm, kỹ năng hòa giải, đối thoại; có chứng chỉ bồi dưỡng, nghiệp vụ hòa giải, đối thoại của Tòa án”, như vậy khi đã đáp ứng những yêu cầu về tiêu chuẩn nêu trên thì họ cũng đã có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn, hơn nữa đối với Luật sư là những người được đào tạo bài bản, am hiểu pháp luật, có nhiều kinh nghiệm trong công tác hòa giải, tư vấn pháp luật ... nếu quy định tiêu chuẩn phải có 10 năm kinh nghiệm là không phù hợp và trên thực tế có rất ít người đủ điều kiện tham gia, do vậy tính khả thi không cao, nên cân nhắc giảm số năm kinh nghiệm công tác xuống 5 năm thì phù hợp hơn.
- Quy định về Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Hòa giải viên: Khoản 5 Điều 10 dự thảo quy định: “Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Hòa giải viên, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định bổ nhiệm Hòa giải viên”. Việc quy định Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định bổ nhiệm Hòa giải viên là không cần thiết vì thực tế số lượng Hòa giải viên được bổ nhiệm rất lớn và không thuộc biên chế của Tòa án, nên để Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh căn cứ nhu cầu bổ nhiệm Hòa giải viên, lựa chọn người đủ tiêu chuẩn để quyết định bổ nhiệm Hòa giải viên và chịu trách nhiệm về quyết định bổ nhiệm trước Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Luật cũng cần có quy định rõ Hòa giải viên được thực hiện nhiệm vụ tại Tòa án đã bổ nhiệm hay có thể tham gia hòa giải, đối thoại ở các Tòa án khác.
- Khoản 7 Điều 10 dự thảo quy định về “Nhiệm kỳ của Hòa giải viên là 03 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm”, khoản 8 quy định về những trường hợp không bổ nhiệm lại Hòa giải viên. Khoản 1 Điều 3 quy định nguyên tắc hòa giải, đối thoại là tự nguyện, bình đẳng trong thực hiện quyền và nghĩa vụ; điểm c khoản 1 Điều 9 quy định Hòa giải viên tự nguyện thực hiện nhiệm vụ hòa giải, đối thoại. Do đây là hoạt động mang tính tự nguyện cao nên không cần thiết phải quy định về nhiệm kỳ và bổ nhiệm lại. Trường hợp hòa giải viên đã được bổ nhiệm nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn, hoàn thành nhiệm vụ hoặc theo nguyện vọng sẽ miễn nhiệm.
Khoản 8 Điều 10 dự thảo quy định về trường hợp không được bổ nhiệm lại Hòa giải viên “Không hoàn thành nhiệm vụ; Thuộc 10% Hòa giải viên có 02 năm mà mức độ hoàn thành nhiệm vụ thấp nhất so với các Hòa giải viên khác tại nơi họ làm việc”. Tuy nhiên dự thảo Luật chưa có quy định ai là người theo dõi, đánh giá, xếp loại Hòa giải viên; việc lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ của Hòa giải viên tại nơi họ làm việc để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và không xét để bổ nhiệm lại Hòa giải viên là không phù hợp, không đảm bảo công bằng, vì thực tế khối lượng công việc ở mỗi địa phương là khác nhau, có thể ở địa phương này nhiều việc mức độ hoàn thành nhiệm vụ của hòa giải viên là thấp hơn so với các hòa giải viên khác, nhưng so với các địa phương khác với mức độ hoàn thành nhiệm vụ của họ lại là cao. Do vậy cần phải có quy định các tiêu chí cụ thể để đánh giá, xếp loại Hòa giải viên cũng như chủ thể thực hiện việc theo dõi, đánh giá, xếp loại Hòa giải viên.
- Quy định về Quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên: Điều 12 dự thảo cần bổ sung nội dung quy định về quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của Hòa giải viên trong trường hợp không nhất trí việc bổ nhiệm, miễn nhiệm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Bổ sung về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các trường hợp trên.
- Quy định về trình tự nhận, phân công, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại Tòa án; thành phần phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại: Khoản 3 Điều 15 dự thảo quy định “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Chánh án Tòa án phân công thẩm phán làm công tác hòa giải, đối thoại xem xét đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tham gia phiên họp...”; Khoản 4 Điều 15 dự thảo quy định “trong thờii hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, thẩm phán làm công tác hòa giải, đối thoại xem xét đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, phân công hòa giải viên để tiến hành hòa giải, đối thoại...”; Điểm d Khoản 1 Điều 21 dự thảo quy định “Thẩm phán làm công tác hòa giải, đối thoại tham gia phiên họp để xác nhận sự kiện các bên tự nguyện hòa giải, đối thoại và chữ ký của các bên trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại”. Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 1 dự thảo nêu rõ phạm vi điều chỉnh “hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện ...” như vậy đây là hoạt động ngoài tố tụng và trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia hòa giải, đối thoại nên không nhất thiết phải quy định có một thẩm phán tham gia và tham gia ngay từ giai đoạn xem xét, phân loại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, hơn nữa nếu theo điểm b khoản 1 Điều 27 dự thảo quy định “Thẩm phán đã tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại không được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự, tố tụng hành chính” thì với số lượng thẩm phán hiện nay sẽ không đảm bảo để thực hiện quy định này. Mặt khác, việc tổ chức hòa giải, đối thoại theo quy định của luật này một phần nhằm làm giảm tải áp lực công việc cho thẩm phán, nếu quy định như trên cũng không làm giảm được bao nhiêu so với tình trạng hiện nay. Do vậy nên quy định việc hòa giải, đối thoại ngoài tố tụng, chỉ khi hòa giải thành, đối thoại thành sẽ được đưa đến Tòa án để ra quyết định công nhận hòa giải thành, đối thoại thành theo tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.
Trên đây là một số ý kiến đóng góp đối với dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
Hiện nay, theo quy định của pháp luật hiện hành đã có quy định về hòa giải, đối thoại gồm hòa giải, đối thoại trong tố tụng như hòa giải trong Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và hòa giải đối thoại ngoài tố tụng như hòa giải theo Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo… thủ tục hòa giải đối thoại ở mỗi phương thức đều có ý nghĩa, tầm quan trọng và mang tính bắt buộc.
Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, mỗi năm Tòa án nhân dân các cấp phải thụ lý giải quyết hàng ngàn các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện từ các lĩnh vực khác nhau, nhiều nhất là các vụ, việc trong lĩnh vực dân sự, hành chính. Do khiếu kiện, tranh chấp ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất ngày càng phức tạp là một áp lực rất lớn đối với ngành Tòa án đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ để giúp giảm tải khối lượng công việc ngày càng nặng nề. Một trong các giải pháp được ngành Tòa án quan tâm đó là đổi mới, tăng cường và nâng cao hiệu quả hòa giải, đối thoại trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng. Từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2019, Tòa án nhân dân tối cao đã triển khai thí điểm tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính, kết quả tỷ lệ hòa giải, đối thoại thành đạt tỷ lệ cao, giải quyết hiệu quả những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, làm giảm tỷ lệ các vụ, việc Tòa án phải thụ lý giải quyết.
Xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cũng như ý nghĩa, tầm quan trọng của hòa giải, đối thoại tại Tòa án, việc ban hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án là cần thiết. Tuy nhiên để các quy định của Luật được đi vào cuộc sống và tránh bị chồng chéo cũng cần được cân nhắc, chỉnh sửa cho phù hợp một số nội dung sau:
- Về kinh phí cho công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án: Khoản 1 Điều 6 dự thảo quy định: “Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án từ ngân sách Nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật”. Việc hòa giải, đối thoại thành sẽ làm giảm đáng kể các vụ, việc Tòa án phải thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng, từ đó cũng làm giảm các khoản chi từ ngân sách nhà nước cho công tác xét xử của Tòa án, công tác Thi hành án của cơ quan Thi hành án, do vậy quy định nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải, đối thoại là phù hợp, tuy nhiên những khoản chi cho hoạt động của tổ hòa giải, đối thoại là rất lớn, để đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả và hạn chế các khoản chi phát sinh thêm từ ngân sách nên quy định về việc thu hút đầu tư từ nguồn xã hội hóa, từ lệ phí hòa giải, đối thoại của các bên tranh chấp vì họ là những người được hưởng lợi từ công tác này, luật nên quy định mức thu lệ phí phù hợp để thúc đẩy các bên tranh chấp tham gia hòa giải, đối thoại.
- Quy định về tiêu chuẩn chung của Hòa giải viên: Điểm b khoản 2 Điều 9 dự thảo quy định: “Luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác” là quá cao vì tại điểm b, d khoản 1 dự thảo đã quy định “Có kinh nghiệm, kỹ năng hòa giải, đối thoại; có chứng chỉ bồi dưỡng, nghiệp vụ hòa giải, đối thoại của Tòa án”, như vậy khi đã đáp ứng những yêu cầu về tiêu chuẩn nêu trên thì họ cũng đã có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn, hơn nữa đối với Luật sư là những người được đào tạo bài bản, am hiểu pháp luật, có nhiều kinh nghiệm trong công tác hòa giải, tư vấn pháp luật ... nếu quy định tiêu chuẩn phải có 10 năm kinh nghiệm là không phù hợp và trên thực tế có rất ít người đủ điều kiện tham gia, do vậy tính khả thi không cao, nên cân nhắc giảm số năm kinh nghiệm công tác xuống 5 năm thì phù hợp hơn.
- Quy định về Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Hòa giải viên: Khoản 5 Điều 10 dự thảo quy định: “Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Hòa giải viên, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định bổ nhiệm Hòa giải viên”. Việc quy định Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định bổ nhiệm Hòa giải viên là không cần thiết vì thực tế số lượng Hòa giải viên được bổ nhiệm rất lớn và không thuộc biên chế của Tòa án, nên để Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh căn cứ nhu cầu bổ nhiệm Hòa giải viên, lựa chọn người đủ tiêu chuẩn để quyết định bổ nhiệm Hòa giải viên và chịu trách nhiệm về quyết định bổ nhiệm trước Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Luật cũng cần có quy định rõ Hòa giải viên được thực hiện nhiệm vụ tại Tòa án đã bổ nhiệm hay có thể tham gia hòa giải, đối thoại ở các Tòa án khác.
- Khoản 7 Điều 10 dự thảo quy định về “Nhiệm kỳ của Hòa giải viên là 03 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm”, khoản 8 quy định về những trường hợp không bổ nhiệm lại Hòa giải viên. Khoản 1 Điều 3 quy định nguyên tắc hòa giải, đối thoại là tự nguyện, bình đẳng trong thực hiện quyền và nghĩa vụ; điểm c khoản 1 Điều 9 quy định Hòa giải viên tự nguyện thực hiện nhiệm vụ hòa giải, đối thoại. Do đây là hoạt động mang tính tự nguyện cao nên không cần thiết phải quy định về nhiệm kỳ và bổ nhiệm lại. Trường hợp hòa giải viên đã được bổ nhiệm nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn, hoàn thành nhiệm vụ hoặc theo nguyện vọng sẽ miễn nhiệm.
Khoản 8 Điều 10 dự thảo quy định về trường hợp không được bổ nhiệm lại Hòa giải viên “Không hoàn thành nhiệm vụ; Thuộc 10% Hòa giải viên có 02 năm mà mức độ hoàn thành nhiệm vụ thấp nhất so với các Hòa giải viên khác tại nơi họ làm việc”. Tuy nhiên dự thảo Luật chưa có quy định ai là người theo dõi, đánh giá, xếp loại Hòa giải viên; việc lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ của Hòa giải viên tại nơi họ làm việc để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và không xét để bổ nhiệm lại Hòa giải viên là không phù hợp, không đảm bảo công bằng, vì thực tế khối lượng công việc ở mỗi địa phương là khác nhau, có thể ở địa phương này nhiều việc mức độ hoàn thành nhiệm vụ của hòa giải viên là thấp hơn so với các hòa giải viên khác, nhưng so với các địa phương khác với mức độ hoàn thành nhiệm vụ của họ lại là cao. Do vậy cần phải có quy định các tiêu chí cụ thể để đánh giá, xếp loại Hòa giải viên cũng như chủ thể thực hiện việc theo dõi, đánh giá, xếp loại Hòa giải viên.
- Quy định về Quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên: Điều 12 dự thảo cần bổ sung nội dung quy định về quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của Hòa giải viên trong trường hợp không nhất trí việc bổ nhiệm, miễn nhiệm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Bổ sung về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các trường hợp trên.
- Quy định về trình tự nhận, phân công, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại Tòa án; thành phần phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại: Khoản 3 Điều 15 dự thảo quy định “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Chánh án Tòa án phân công thẩm phán làm công tác hòa giải, đối thoại xem xét đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tham gia phiên họp...”; Khoản 4 Điều 15 dự thảo quy định “trong thờii hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, thẩm phán làm công tác hòa giải, đối thoại xem xét đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, phân công hòa giải viên để tiến hành hòa giải, đối thoại...”; Điểm d Khoản 1 Điều 21 dự thảo quy định “Thẩm phán làm công tác hòa giải, đối thoại tham gia phiên họp để xác nhận sự kiện các bên tự nguyện hòa giải, đối thoại và chữ ký của các bên trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại”. Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 1 dự thảo nêu rõ phạm vi điều chỉnh “hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện ...” như vậy đây là hoạt động ngoài tố tụng và trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia hòa giải, đối thoại nên không nhất thiết phải quy định có một thẩm phán tham gia và tham gia ngay từ giai đoạn xem xét, phân loại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, hơn nữa nếu theo điểm b khoản 1 Điều 27 dự thảo quy định “Thẩm phán đã tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại không được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự, tố tụng hành chính” thì với số lượng thẩm phán hiện nay sẽ không đảm bảo để thực hiện quy định này. Mặt khác, việc tổ chức hòa giải, đối thoại theo quy định của luật này một phần nhằm làm giảm tải áp lực công việc cho thẩm phán, nếu quy định như trên cũng không làm giảm được bao nhiêu so với tình trạng hiện nay. Do vậy nên quy định việc hòa giải, đối thoại ngoài tố tụng, chỉ khi hòa giải thành, đối thoại thành sẽ được đưa đến Tòa án để ra quyết định công nhận hòa giải thành, đối thoại thành theo tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.
Trên đây là một số ý kiến đóng góp đối với dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
Trần
Thị
Bích
Hạnh
-
Trưởng
Phòng
12
VKSND
tỉnh