Một số vướng mắc trong áp dụng pháp luật về thời hiệu thi hành bản án hình sự và kiến nghị hoàn thiện
- Thứ hai - 07/09/2026 14:22
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Thời hiệu thi hành bản án hình sự là một chế định quan trọng của pháp luật hình sự, nhằm xác định giới hạn thời gian Nhà nước thực hiện quyền buộc người bị kết án chấp hành hình phạt. Bộ luật Hình sự hiện hành đã quy định tương đối cụ thể về thời hạn, điều kiện để người bị kết án được hưởng thời hiệu thi hành bản án. Tuy nhiên, thực tiễn kiểm sát thi hành án hình sự cho thấy vẫn còn một số vướng mắc về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và hình thức giải quyết, dẫn đến cách hiểu, áp dụng chưa thống nhất giữa các cơ quan tư pháp.
1. Một số vướng mắc trong thực tiễn
Theo quy định tại Điều 60 BLHS năm 2025, người bị kết án có thể được hưởng thời hiệu thi hành bản án khi đáp ứng các điều kiện luật định. Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng các quy định về thời hiệu thi hành bản án.
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể Tòa án cấp nào có thẩm quyền xem xét, quyết định việc người bị kết án được hưởng thời hiệu thi hành bản án. Công văn số 163/TANDTC-PC ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Tòa án đã ra bản án có thẩm quyền thông báo cho người bị kết án hưởng thời hiệu thi hành bản án”. Quy định này đã định hướng việc xác định thẩm quyền, nhưng trong thực tiễn vẫn phát sinh khó khăn, nhất là đối với những bản án đã được xét xử từ nhiều năm trước, có cả xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và trong bối cảnh tổ chức hệ thống Tòa án có sự thay đổi.
Bên cạnh đó, chưa có quy định thống nhất về hình thức văn bản của Tòa án khi xác định người bị kết án được hưởng thời hiệu: Tòa án phải ra quyết định hay chỉ thông báo cho người bị kết án biết. Trong khi Công văn số 163/TANDTC-PC sử dụng thuật ngữ “thông báo”, Điều 15 Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 14/QĐ-VKSTC ngày 15/7/2026 của Viện trưởng VKSND tối cao lại quy định Viện kiểm sát kiểm sát việc Chánh án Tòa án có thẩm quyền quyết định cho người bị kết án được hưởng thời hiệu thi hành bản án.
Một vấn đề khác là pháp luật chưa quy định đầy đủ trình tự, thủ tục và cơ chế phối hợp giữa Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan Công an trong việc xác định, giải quyết trường hợp người bị kết án được hưởng thời hiệu. Trong khi đó, Điều 15 Quyết định số 14/QĐ-VKSTC quy định Viện kiểm sát phối hợp với Công an, Tòa án có thẩm quyền để xác định điều kiện hưởng thời hiệu; Viện kiểm sát phải có ý kiến bằng văn bản nêu rõ quan điểm và thực hiện theo Mẫu số 76/TH.
Như vậy, việc Viện kiểm sát phải ban hành văn bản nêu quan điểm hiện được quy định trong quy chế nghiệp vụ của ngành Kiểm sát, nhưng chưa được quy định trong một văn bản pháp luật có tính chất liên ngành. Do đó, chưa có cơ sở pháp lý thống nhất để xác định trình tự phối hợp, trách nhiệm của từng cơ quan, cũng như việc xử lý trong trường hợp quan điểm giữa các cơ quan tư pháp không thống nhất.
Thực tiễn trước đây, Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày 26/12/1986 của TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ đã hướng dẫn tương đối cụ thể về việc phối hợp xác định các trường hợp hưởng thời hiệu và việc Tòa án thông báo cho người bị kết án. Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản liên ngành mới quy định đầy đủ, toàn diện về trình tự, thủ tục này thay thế cơ chế hướng dẫn trước đây. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong thực tiễn áp dụng.
2. Vướng mắc qua một trường hợp cụ thể
Qua công tác kiểm sát, phát hiện trường hợp người bị kết án H bị Tòa án xét xử phúc thẩm năm 2008 về tội “Cướp tài sản”, hình phạt 48 tháng tù. Sau khi bản án có hiệu lực, người bị kết án không nhận được bản án và quyết định thi hành án; trong thời gian dài sinh sống tại địa phương, không có thông tin về việc thực hiện hành vi phạm tội mới hoặc bị truy nã.
Sau khi rà soát, Viện kiểm sát xác định có căn cứ xem xét việc người bị kết án được hưởng thời hiệu thi hành bản án và ban hành văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân khu vực trả lại hồ sơ với lý do không thuộc thẩm quyền.
Vụ việc cho thấy, khoảng trống pháp lý không chỉ nằm ở việc xác định Tòa án cấp nào có thẩm quyền, mà còn nằm ở toàn bộ quy trình từ khi phát hiện người bị kết án có đủ điều kiện hưởng thời hiệu, việc xác minh của các cơ quan, ý kiến của Viện kiểm sát, thẩm quyền và hình thức văn bản của Tòa án cho đến việc thông báo kết quả cho người bị kết án.
Trước vướng mắc trên, vụ nghiệp vụ cho ý kiến: Trường hợp người bị kết án đủ điều kiện hưởng thời hiệu thì trước hết liên ngành tư pháp cấp tỉnh phối hợp giải quyết; nếu thống nhất quan điểm cho hưởng thời hiệu thì Tòa án tỉnh ra quyết định hoặc thông báo cho người được hưởng thời hiệu biết. Trường hợp các ngành không thống nhất thì báo cáo cơ quan cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo.
3. Một số đề xuất, kiến nghị
Từ thực tiễn nêu trên, để bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất, cần nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn mới về trình tự, thủ tục cho hưởng thời hiệu thi hành bản án hình sự, trong đó quy định rõ:
Một là, xác định cụ thể Tòa án có thẩm quyền trong từng trường hợp, nhất là đối với bản án có xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và các bản án được ban hành trước khi tổ chức hệ thống Tòa án có sự thay đổi.
Hai là, quy định thống nhất hình thức văn bản của Tòa án khi giải quyết việc hưởng thời hiệu, xác định rõ trường hợp nào ban hành quyết định, trường hợp nào thông báo; đồng thời quy định giá trị pháp lý và việc tổ chức thực hiện sau khi văn bản được ban hành.
Ba là, quy định cụ thể trình tự phối hợp giữa Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan Công an, từ việc rà soát, xác minh điều kiện hưởng thời hiệu đến việc giải quyết và thông báo cho người bị kết án.
Bốn là, quy định rõ vai trò, trách nhiệm và hình thức tham gia của Viện kiểm sát, trong đó xác định việc Viện kiểm sát có văn bản nêu quan điểm về điều kiện hưởng thời hiệu, trách nhiệm của Tòa án trong việc tiếp nhận, xem xét ý kiến của Viện kiểm sát và cơ chế xử lý khi các cơ quan có quan điểm khác nhau.
Việc hoàn thiện các quy định trên không chỉ tháo gỡ khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong những trường hợp cụ thể mà còn bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kết án, nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án hình sự và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong toàn ngành.
Qua thực tiễn cho thấy, việc hoàn thiện cơ chế pháp lý về thời hiệu thi hành bản án hình sự là cần thiết, nhất là trong bối cảnh tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp có nhiều thay đổi. Một quy trình pháp lý rõ ràng, thống nhất sẽ góp phần khắc phục tình trạng mỗi cơ quan vận dụng một cách khác nhau, đồng thời nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan Công an trong công tác thi hành án hình sự.
Nguyễn
Thu
Nguyệt
-
P8