Trao đổi nghiệp vụ trong việc thực hiện quy định của BLTTHS và TTLT số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 28/01/2026, của VKSND Tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng Quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
- Thứ hai - 11/05/2026 11:10
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Trao
đổi
nghiệp
vụ
trong
việc
thực
hiện
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
và Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 28/01/2026, của VKSND Tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng Quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Về việc tính thời hạn tạm giam trong trường hợp bị can đã bị tạm giữ và cách ghi thời hạn trong lệnh tạm giam
và Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 28/01/2026, của VKSND Tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng Quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Về việc tính thời hạn tạm giam trong trường hợp bị can đã bị tạm giữ và cách ghi thời hạn trong lệnh tạm giam
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự…nhằm bảo đảm cho việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ;
Trong thời gian qua, thực hiện chức năng của Ngành Kiểm sát trong công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam, đã được VKSND không ngừng tăng cường, được thực hiện kiểm sát thường xuyên, định kỳ và đột xuất đối với cơ sở giam, giữ; góp phần bảo đảm mọi trường hợp tạm giữ, tạm giam đều có căn cứ pháp luật, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Nhiều vi phạm trong công tác này đã được phát hiện kịp thời và ban hành kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam, trại tạm giam khắc phục.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thời gian qua tác giả thấy một số Điều tra viên và Kiểm sát viên vẫn còn những tồn tại, hạn chế trong nhận thức và thực hiện Quy định của pháp luật đối với các trường hợp Tạm giữ, gia hạn tạm giữ sau đó Khởi tố vụ án, khởi tố bị can và chuyển tạm giam. Tôi xin nêu một trường hợp trong 01 vụ án cụ thể để chúng ta cùng nghiên cứu, trao đổi và thống nhất thực hiện trong thời gian tới như sau:
1. Nội dung vụ án:
Ngày 15/03/2026, Nguyễn Văn A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh Tuyên Quang bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, cùng ngày Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ đối với A trong thời hạn 03 ngày (từ 10 giờ ngày 15/3/2026 đến 10 giờ ngày 18/03/2026). Đến ngày 18/3/2026, Cơ quan điều tra ra quyết định gia hạn thời hạn tạm giữ lần thứ nhất (từ 10 giờ ngày 18/3/2026 đến 10 giờ ngày 21/3/2026) và được Viện kiểm sát phê chuẩn theo quy định.
Đến ngày 19/03/2026, khi có Kết luận giám định về khối lượng và loại chất ma tuý (đủ căn cứ để khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với A về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS), Ngày 20/3/2026, Cơ quan CSĐT ra quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam và chuyển hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định và lệnh trên cho Viện kiểm sát có thẩm quyền theo đúng quy định.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy: Trong Lệnh tạm giam cơ quan điều tra ghi “Tạm giam trong thời hạn 02 tháng 26 ngày (đã trừ 04 ngày tạm giữ), kể từ ngày 20/3/2026 đến hết ngày 12/6/2026 đối với…”. Lệnh tạm giam được đã được Viện kiểm sát phê chuẩn.
2. Nhận thức và thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 28/01/2026, trong việc tính thời hạn tạm giam trong và cách ghi thời hạn trong lệnh tạm giam trong vụ án trên còn tồn tại 02 quan điểm như sau:
2.1. Quan điểm thứ nhất cho rằng: Cách tính và ghi nội dung trong lệnh tạm giam như trên là đúng quy định, không sai đối với quy định về tổng số ngày tạm giữ, tạm giam đối với Nguyễn Văn A, vẫn bảo đảm thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng; ghi lệnh như trên là đúng quy định của Khoản 1 Điều 173 Bộ luật TTHS, không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của Nguyễn Văn A và chính từ từ quan điểm trên có nhiều vụ án tương tự đã được áp dụng thực hiện trong thời gian qua;
2.2. Quan điểm thứ 2 cho rằng: Nhận thức, tính toán và ghi nội dung trong lệnh tạm giam như trong vụ án trên và nhiều vụ án tương tự là không đúng quy định, tuỳ tiện, xâm phạm đến quyền lợi của Nguyễn Văn A vì:
* Tính đến ngày 20/3/2026, Nguyễn Văn A đang bị tạm giữ theo quyết định gia hạn thời hạn tạm giữ lần thứ nhất đến 10 giờ 00 phút ngày 21/3/2026 (Đang trong thời hạn tạm giữ), quyết định trên vẫn đang có hiệu lực pháp luật, do đó việc tính toán và ghi Lệnh tạm giam như trên là không đúng: Thời hạn tạm giam chùm lên thời hạn tạm giữ, làm phát sinh trường hợp cùng 01 thời hạn từ 20/3 đến ngày 21/3/2026 đồng thời cả quyết định gia hạn thời hạn tạm giữ lần thứ nhất và Lệnh tạm giam đều cùng có hiệu lực thi hành và theo quy định tại Khoản 2 Điều 19 Luật thi hành Tạm giữ, tạm giam thì “2. Người bị tạm giữ phải ở trong buồng tạm giữ; người bị tạm giam phải ở trong buồng tạm giam; Như vậy trường hợp trên trong ngày 20 và ngày 21/3/2026 Cơ sở giam giữ sẽ thi hành quyết định gia hạn thời hạn tạm giữ lần thứ nhất hay thi hành Lệnh tạm giam để bố trí giam, giữ đối với A trong buồng tạm giữ hay buồng tạm giam và dù có bố trí A trong buồng Tạm giữ hay trong buồng tạm giam đều vi phạm quy định của Khoản 2 Điều 19 Luật thi hành Tạm giữ, tạm giam;
* Theo quy định tại Điều 17, Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 28/01/2026 của VKSND Tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng Quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định rõ:
Tính thời hạn tạm giam trong trường hợp bị can đã bị tạm giữ và cách ghi thời hạn trong lệnh tạm giam:
- “1. Thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam để điều tra. Nếu việc tạm giam liên tục với việc tạm giữ thì thời hạn tạm giam được tính tiếp từ ngày hết thời hạn tạm giữ”;
- 2. Cách ghi thời hạn trong lệnh tạm giam…trong trường hợp trước đó bị can đã bị tạm giữ được thực hiện như sau: thời hạn tạm giam được tính theo ngày, bắt đầu kể từ ngày cuối cùng của thời hạn tạm giữ và kết thúc vào ngày cuối cùng của thời hạn tạm giam (sau khi đã trừ đi số ngày tạm giữ)”;
2.3. Quan điểm tác giả cho rằng
Đồng tình với quan điểm thứ 2 bởi lẽ: Trong vụ án này thì nội dung trong Lệnh Tạm giam của Cơ quan điều tra phải ghi là “Tạm giam trong thời hạn 02 tháng 24 ngày, kể từ ngày 21/3/2026 đến hết ngày 12/6/2026 đối với bị can Nguyễn Văn A…” mới đúng các quy định như đã viện dẫn ở trên.
Như vậy, với những căn cứ pháp lý, phân tích, nhận định trên: Tác giả cho rằng để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành Kiểm sát kiểm sát theo Chỉ thị công tác của Viện trưởng VKSND Tối cao trong thời gian tiếp theo thì: Mỗi công chức, Kiểm sát viên cần phải bám sát các của định của Luật, các Thông tư liện tịch hướng dẫn thi hành nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, kiên quyết không phê chuẩn các Lệnh, Quyết định của CQĐT trái quy định của pháp luật đồng thời có những phản ánh tích cực đối với Phòng nghiệp vụ của Viện KSND tỉnh để kịp thời có ý kiến chỉ đạo thống nhất trong nhận thức việc áp dụng pháp luật giữa CQĐT Công an tỉnh và Viện KLSND trong thực hiện một số quy định của BLHS theo hướng dẫn của các thông tư liên tịch mới.
Tác giả trân trọng cảm ơn các độc giả và rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý của các đồng nghiệp./.
Phạm
Anh
Tuấn
-
Nguyễn
Hồng
Tư
-
Viện
KSND
Khu
vực
2