Trao đổi nghiệp vụ về việc quyết định nghĩa vụ chịu án phí
- Thứ ba - 14/07/2026 14:59
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự) là thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án kịp thời, đúng pháp luật.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khoá X14 (Nghị quyết 326): quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án; nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án; nghĩa vụ chịu án phí, lệ phí Tòa án; trường hợp không phải nộp, không phải chịu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án; xét miễn, giảm, thời hạn nộp, chế độ thu, nộp, quản lý, xử lý tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án; kiểm sát việc thu, nộp, miễn, giảm và giải quyết khiếu nại về án phí, lệ phí Tòa án.
Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Tòa án tiến hành hòa giải và khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, thì Thẩm phán ra Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, hoặc Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự. Việc ra Quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự góp phần rút ngắn thời gian tố tụng, giảm chi phí xã hội và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, trong một số loại quyết định trên vấn đề xác định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm khi các đương sự thoả thuận thống nhất để một bên tự nguyện chịu toàn bộ nghĩa vụ về án phí, còn tồn tại 02 cách hiểu khác nhau, dẫn đến chưa thống nhất trong áp dụng pháp luật:
* Quan điểm 1: Trong quyết định của Toà án ghi “Ông A phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm …. là…” là chưa đúng bản chất vụ việc, không đúng quy định của pháp luật vì:
- Nếu ghi “phải chịu’ là chưa phản ánh đúng bản chất thoả thuận của các đương sự, việc sử dụng cụm từ "phải chịu" là sự xác định nghĩa vụ bắt buộc, quy kết, mang tính phán quyết của Tòa án và điều này chỉ áp dụng khi Toà án xét xử đối với vụ án, vụ việc và buộc chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện một trách nhiệm pháp lý bắt buộc. Trong khi đó tại Khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm” và tại Khoản 7 Điều 26 Nghị quyết số 326 quy định: “Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án…thì phải chịu 50% mức án phí, kể cả đối với vụ án không có giá ngạch” (mỗi bên phải chịu một nửa).
- Trong tố tụng dân sự nguyên tắc cơ bản là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được ghi nhận tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự đó là “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự đương sự có quyền thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”. Do vậy trong các trường hợp thoả thuận trên thì ông A ngoài trách nhiệm bắt buộc phải chịu phần án phí của bản thân theo quy định ra, ông A còn tự nguyện nhận thực hiện thay phần nghĩa vụ về án phí của đương sự khác trong vụ án…do đó trong quyết định của Toà án nếu sử dụng cụm từ “Phải chịu” thì chỉ đúng với phần nghĩa vụ phải chịu 50% mức án phí của ông A; còn đối với 50% mức án phí của đương sự khác phải chịu nhưng ông A tự nguyện nhận nộp thay là không đúng với nguyên tắc cơ bản trên của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Theo quan điểm trên thì: Đối với vụ án, vụ việc khi hòa giải, các đương sự đã tự thương lượng, tự nguyện thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ án thì Tòa án chỉ ra quyết định công sự thỏa thuận của đương sự mà không đưa ra bất kỳ quyết định mang tính bắt buộc nào, kể cả quyết định về chịu án phí. Do đó để phù hợp thì quyết định phải ghi là “Ông A tự nguyện chịu (hoặc nhận chịu) toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm …. là 150.000đ”
* Quan điểm 2: Nội dung quyết định ghi "Ông A phải chịu toàn bộ án phí dân sự (án phí ly hôn) sơ thẩm 150.000đ" là đúng quy định.
Tác giả đồng tình với quan điểm này và thấy cách ghi "phải chịu" là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326 bởi lẽ sau:
- Tại Khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm” và tại Khoản 7 Điều 26 Nghị quyết số 326 quy định: “Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án…thì phải chịu 50% mức án phí, kể cả đối với vụ án không có giá ngạch”. Quy định trên, đều sử dụng cụm từ “Phải chịu”;
- Cách ghi "Ông A phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm …", trong trường hợp trên là đúng và phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự vì: Án phí dân sự là khoản tiền (tài chính) mà đương sự trong vụ án có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của Tòa án. Tòa án là cơ quan phán quyết nên dù nguồn gốc của nghĩa vụ này xuất phát từ sự "tự nguyện thỏa thuận" giữa các đương sự, nhưng một khi đã đưa vào Quyết định của Tòa án thì nó phải là phán quyết mang tính chất pháp lý để xác định nghĩa vụ bắt buộc, có hiệu lực pháp luật. Do đó, Tòa án phải sử dụng từ ngữ pháp lý mang tính mệnh lệnh đó là "phải chịu" để làm căn cứ cho việc thi hành quyết định sau này (có thể cưỡng chế thực hiện nếu đương sự không tự nguyện nộp);
- Ngoài ra, đến thời điểm hiện tại Bộ luật Tố tụng dân sự , Nghị quyết 326 và các văn bản hướng dẫn thi hành của ngành Toà án không có quy định nào quy định về việc dùng từ ngữ pháp lý “Nhận chịu hay tự nguyện chịu”;
Với những căn cứ pháp lý, phân tích, nhận định trên: nhóm tác giả rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý của các đồng nghiệp./.
Nhóm
tác
giả:
Hủng
Thị
Minh,
Hứa
Như
Quỳnh,
Phạm
Thị
Mai