Vướng mắc trong giải quyết vụ án Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 BLHS
- Thứ năm - 23/04/2026 11:20
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Trong những năm gần đây, các vụ án về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 BLHS phát sinh ngày càng nhiều với phương thức, thủ đoạn, phức tạp khác nhau. Ngày 20/12/2021, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thống nhất cách áp dụng pháp luật, giải quyết các vụ án phát sinh. Ngày 29/10/2024, Phòng 7- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã có bài viết đề cập đến nội dung xác định tiền gốc cho vay ban đầu trong giải quyết các vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về nội dung này nên thực tế còn tồn tại nhiều quan điểm trong quá trình giải quyết, mặt khác thực tiễn còn phát sinh một số vướng mắc sau cần liên ngành Trung Ương hướng dẫn một cách cụ thể:
1. Còn nhiều quan điểm về cách xác định " Khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay" để tịch thu xung công quỹ nhà nước.
- Thực tế đang có ba luồng quan điểm về việc xác định " Khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay".
Thứ nhất: Xác định khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay là tổng tất cả phần tiền gốc trong các lần người phạm tội cho vay, đủ điều kiện xác định lần vay đó là cho vay nặng lãi.
Thứ hai: Là khoản tiền dùng để cho vay lớn nhất trong tất cả các lần cho vay vì trong thực tế nhiều trường hợp người phạm tội chỉ có một khoản tiền gốc cố định ban đầu sau đó cho vay để phát sinh lãi, rồi lại lấy lãi đưa vào vốn, bổ sung thêm vốn xoay vòng cho vay để tiếp tục kiếm lời mà việc chứng minh tách rời được đâu là số tiền gốc ban đầu và đâu là vốn được bổ sung và đâu là lãi được đưa vào sử dụng làm vốn là không thể thực hiện được trong thực tế, do vậy để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, thì chọn khoản tiền cho vay lớn nhất trong các lần cho vay để xác định làm vốn - khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay.
Thứ ba: Phải xác định được người phạm tội chỉ dùng một khoản tiền ban đầu cố định để làm vốn cho vay và sau khi thu hồi được vốn và phát sinh lãi thì tiếp tục sử dụng vốn đó (hoặc bổ sung thêm vốn) và lãi đó để quay vòng cho vay thu lãi tiếp thì khoản tiền dùng để cho vay là khoản tiền vốn ban đầu người cho vay có để tịch thu xung công quỹ nhà nước.
Theo nhận định của tác giả thì cả ba quan điểm trên đều có những điểm chưa đảm bảo như sau: Với quan điểm thứ nhất đảm bảo được việc xác định được ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội đã sử dụng số tiền mình có được để tiếp tục dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội như vậy về nguyên tắc phải bị tịch thu hết. Tuy nhiên nó rất bất lợi cho bị cáo vì thực tiễn nhiều vụ việc phát sinh người thực hiện hành vi phạm tội chỉ có một khoản tiền vốn ban đầu hoặc có bổ sung nhưng vẫn nhỏ hơn rất nhiều so với tổng số tiền cho vay cộng lại. Việc cho vay diễn ra trong thời gian dài, do vậy việc cộng tổng số tiền cho vay theo các khoản vay phát sinh trên sổ sách để tịch thu xung công quỹ nhà nước là bất lợi đối với người phạm tội, có những con số không thể thi hành án trong thực tế. Mà theo quy định thì số tiền lãi trong giới hạn quy định dưới 20% đã bị tịch thu xung quỹ và số tiền thu lời bất chính thì phải trả lại cho người vay.
Với quan điểm thứ hai, thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định các khoản tiền liên quan đến tội phạm, tuy nhiên, cách xác định này mang tính chất tương đối, không chỉ ra cho người giải quyết vụ án được một cách rõ ràng về bản chất của dòng tiền.
Với quan điểm thứ ba thì rất khó xác định được trong thực tiễn, bởi thực tiễn phát sinh tội phạm rất phức tạp, dòng tiền luôn vận động và chuyển đổi từ vai trò này sang vai trò khác tuỳ vào từng thời điểm và ý thức chủ quan của con người. Rất ít hoặc không có những vụ việc mà có thể xác định một cụ thể như vậy, dẫn đến nhiều khó khăn vướng mắc trong quá trình điều tra.
Tuy nhiên tác giả đồng tình hơn với quan điểm giải quyết thứ hai vì: sát với thực tiễn diễn ra đối với các vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, tránh được bất lợi cho người phạm tội.
2. Vấn đề về xác định thời hạn cho vay theo thoả thuận hay thời gian vay thực tế diễn ra để xác định là thời gian vay trong cách tính xác định số tiền thu lời bất chính để xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với những trường hợp thời gian vay thực tế bằng hoặc lớn hơn thời hạn vay đã thoả thuận và đã thu lãi theo thực tế thì dùng thời gian vay thực tế đó để tính xác định khoản tiền thu lời bất chính. Thì cách xác định thu lời bất chính theo quy định tại Nghị Quyết số 01/2021/NQ- HĐTP
Tuy nhiên, thực tế có trường hợp cụ thể, khi phát sinh khoản vay hai bên thoả thuận thời hạn cho vay và thu tiễn lãi, trừ vào tiền gốc vay ngay thời điểm giao nhận tiền gốc. Số tiền lãi đó là cho thời hạn vay theo thoả thuận. Nhưng sau đó, do không có nhu cầu sử dụng hết thời hạn đã thoả thuận, người vay trả tiền gốc cho người cho vay trước thời hạn, nhưng không yêu cầu trả lại tiền lãi còn thừa (hoặc bên cho vay không trả lại số tiền lãi còn thừa). Trong trường hợp này, thì sử dụng thời gian vay là số ngày theo thời hạn đã thoả thuận hay số ngày vay thực tế diễn ra để xác định khoản tiền thu lời bất chính. Hiện tại đang có hai quan điểm về vấn đề này như sau:
Thứ nhất: Sử dụng thời gian cho vay là thời hạn theo thoả thuận để xác định khoản tiền thu lời bất chính vì số lãi người cho vay đã thu là cho thời hạn đã thoả thuận. Việc người vay tiền tự nguyện trả tiền trước hạn và không yêu cầu trả lại lãi còn thừa là quyền của người vay. Để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo cần xác định thời hạn theo thoả thuận là thời gian để tính khoản tiền thu lời bất chính.
Thứ hai: Sử dụng thời gian thực tế diễn ra việc cho vay để tính khoản thu lời bất chính để xác định một cách khách quan nhất hoạt động cho vay và xác định chính xác khoản tiền thu lời bất chính.
Theo quy định Khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 01/2021 thì:
"2. Trường hợp cho vay lãi nặng chưa hết thời hạn vay theo thỏa thuận mà bị phát hiện thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự tính đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện và ngăn chặn.
Trường hợp bên vay đã trả tiền lãi trước hạn và các khoản thu trái pháp luật khác thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay thực tế đã trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự."
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều quan điểm trong cách hiểu hai từ "thực tế" trong quy định trên, vì số tiền lãi này thì thực tế người cho vay đã thu của người vay, còn thời gian vay thì xác định là thời gian theo thực tế hay theo thoả thuận trước. Tác giả đồng tình với quan điểm xác định thời gian vay theo thực tế để tính số tiền thu lợi bất chính mới giải quyết được triệt để hành vi sai phạm của người phạm tội.
Tác giả xin được tiếp tục nêu ra đây quan điểm, xin ý kiến của độc giả và đề xuất liên ngành cơ quan tố tụng cấp trên có những hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất khi xử lý đối với tội phạm này./.
Tác
giả:
Vũ
Thị
Thanh
Nga
Phạm Thị Quý
Phạm Thị Quý