MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP – THỰC TIỄN VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
- Thứ năm - 10/09/2026 10:14
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết KNTC trong hoạt động tư pháp là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân. Công tác này góp phần bảo đảm quyền tự do, dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và phòng chống tiêu cực, sai phạm trong hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Những năm gần đây, hệ thống pháp luật về tư pháp và tố tụng không ngừng được hoàn thiện. Đặc biệt, sự ra đời của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự (Luật số 99/2025/QH15), cùng hệ thống các Thông tư quy định chi tiết của VKSND Tối cao (như Thông tư số 02/2025/TT-VKSTC, Thông tư số 03/2025/TT-VKSTC) và các Thông tư liên tịch phối hợp liên ngành đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ, tăng cường thẩm quyền và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong kiểm sát hoạt động tư pháp.
Tuy nhiên, từ thực tiễn công tác giải quyết và kiểm sát giải quyết KNTC trong hoạt động tư pháp tại VKSND hai cấp tỉnh Tuyên Quang cho thấy, quá trình triển khai các quy định mới vẫn phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc cần được nhận diện chính xác để đề ra giải pháp khắc phục kịp thời.
I/ MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC
1. Khó khăn, vướng mắc trong việc xác định đúng thẩm quyền giải quyết đơn
Đơn thư có nội dung đan xen phức tạp: Hoạt động tư pháp mang tính chuỗi và liên tục. Một vụ án, vụ việc có thể trải qua nhiều giai đoạn và chịu sự tác động của nhiều cơ quan (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án), đơn thư công dân gửi cùng lúc tố cáo/khiếu nại hành vi của cán bộ thuộc nhiều cơ quan khác nhau.
Thực tế người dân thường "gửi đơn diện rộng" (gửi nhiều cơ quan). Việc phân loại, chuyển đơn và xác định cơ quan nào thụ lý giải quyết lần đầu, còn gặp nhiều vướng mắc, dễ dẫn đến việc chuyển đơn lòng vòng hoặc trùng lặp giữa các đơn vị.
2. Khó khăn trong phân biệt bản chất pháp lý của đơn thư
Ranh giới giữa KNTC với Kiến nghị, Phản ánh và Đề nghị xem xét, nhiều đơn thư có tiêu đề là "KNTC" nhưng nội dung thực chất lại là kiến nghị xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm; hoặc đề nghị giải thích, đánh giá lại chứng cứ.
Kiểm sát viên không phân định kỹ nội dung đơn sẽ rất dễ có nguy cơ vi phạm thẩm quyền, biến việc giải quyết khiếu nại thành việc "xem xét lại toàn bộ vụ án", vượt quá thẩm quyền của người giải quyết khiếu nại do Bộ luật Tố tụng quy định.
3. Khó khăn trong công tác thu thập, kiểm tra và đánh giá tài liệu, chứng cứ
Để giải quyết đơn KNTC trong hoạt động tư pháp (nhất là khiếu nại lần hai) hoặc thực hiện quyền trực tiếp kiểm sát, Viện kiểm sát phải nghiên cứu hồ sơ gốc. Tuy nhiên, hồ sơ tài liệu lại đang do Cơ quan điều tra hoặc Tòa án lưu giữ để phục vụ quá trình tố tụng. Việc rút hồ sơ, sao chép tài liệu thường mất nhiều thời gian do quy trình phối hợp liên ngành còn bất cập.
Trong một số trường hợp, người khiếu nại/tố cáo không cung cấp đủ chứng cứ, còn người bị tố cáo là người tiến hành tố tụng có chuyên môn pháp lý cao. Việc thu thập chứng cứ để chứng minh có hay không có sai phạm tố tụng đòi hỏi Kiểm sát viên phải có kỹ năng nghiệp vụ rất cao và quy trình xác minh chặt chẽ.
4. Áp lực gia tăng đơn thư và bất cập trong ứng dụng công nghệ thông tin
Số lượng đơn thư trong hoạt động tư pháp có xu hướng tăng qua từng năm. Một số trường hợp người dân bị kích động, lợi dụng quyền KNTC để kéo dài thời gian thi hành án hoặc gây áp lực cho lực lượng chức năng.
Việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, phân loại đơn thư bước đầu đã được triển khai nhưng chưa kết nối liên thông giữa các cơ quan tư pháp trên địa bàn dẫn đến nguy cơ bỏ sót, trùng lặp hoặc chậm phát hiện đơn quá hạn giải quyết.
II/ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
1. Nâng cao trách nhiệm và kỹ năng phân loại, xác minh đơn
Kiểm sát viên được phân công giải quyết KNTC phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật, thực hiện nghiêm nguyên tắc khách quan, toàn diện chủ động kiểm tra, đối chiếu trực tiếp tài liệu tố tụng trong hồ sơ vụ án.
Tăng cường giải thích pháp luật tại khâu tiếp công dân, giải thích rõ cho người khiếu nại/tố cáo hiểu đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, phân biệt rõ giữa khiếu nại hành vi tố tụng với việc đề nghị kháng nghị Giám đốc thẩm/Tái thẩm để hướng dẫn công dân thực hiện đúng quyền.
2. Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác Kiểm sát việc giải quyết KNTC
Chuyển từ "kiểm sát thụ động" sang "kiểm sát chủ động": Viện kiểm sát hai cấp cần chủ động theo dõi, kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, thụ lý và giải quyết KNTC của Cơ quan điều tra, Tòa án và Cơ quan THADS. Khi phát hiện cơ quan tư pháp chậm giải quyết, không thụ lý đúng luật hoặc giải quyết không có căn cứ, cần phải kiên quyết ban hành Kiến nghị hoặc Kháng nghị để khắc phục, phòng ngừa sai phạm.
3. Tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý đơn
Đẩy mạnh ứng dụng phần mềm quản lý đơn thư KNTC trong toàn ngành Kiểm sát Tuyên Quang; hướng tới xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu số giữa VKSND với Công an và Tòa án tỉnh để quản lý chặt chẽ mã định danh đơn thư, thời hạn giải quyết và kết quả xử lý. Sử dụng công nghệ để tự động cảnh báo các đơn thư sắp đến hạn hoặc quá hạn giải quyết, đặc biệt là các vụ việc phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.
4. Hoàn thiện và thực hiện hiệu quả Quy chế phối hợp liên ngành
Tăng cường hiệu lực thực thi của các Thông tư liên tịch quy định về phối hợp giải quyết KNTC trong hoạt động tư pháp. Định kỳ tổ chức các phiên họp giao ban liên ngành để rà soát, thống nhất hướng xử lý đối với các đơn thư phức tạp, kéo dài, có quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
5. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác kiểm sát KNTC
Định kỳ tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu về xử lý đơn thư, kỹ năng giải quyết khiếu nại và kỹ năng trực tiếp kiểm sát cho Kiểm sát viên. Bố trí các Kiểm sát viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm chắc pháp luật tố tụng và có kỹ năng dân vận tốt làm công tác tiếp công dân và giải quyết KNTC.
Tác giả rất mong nhận được sự góp ý và phản hồi của các đồng chí, đồng nghiệp./.
Tạ
Văn
Thiển,
TT-KT