Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Thứ sáu - 20/03/2026 14:34
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
(Tổ Tuyên truyền) - Để bảo vệ quan điểm truy tố một cách thuyết phục trước những lập luận từ người bào chữa, Kiểm sát viên không chỉ cần nắm vững hồ sơ mà còn phải có kỹ năng xét hỏi, đối đáp linh hoạt. Thực tế cho thấy, vẫn còn tình trạng Kiểm sát viên lúng túng khi đối mặt với chứng cứ mới hoặc quá phụ thuộc vào bản luận tội đã chuẩn bị sẵn. Từ kinh nghiệm thực tiễn công tác kiểm sát xét xử, tác giả bài viết đưa ra 5 nhóm giải pháp trọng tâm từ khâu chuẩn bị đề cương đến kỹ năng hùng biện và phối hợp tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm nhằm giúp các đồng nghiệp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử.
Tranh tụng trong tố tụng hình sự là một quá trình tố tụng nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, trong đó các chủ thể tham gia tố tụng có quyền đưa ra những tài liệu, chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước HĐXX theo các trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. BLTTHS năm 2015 đã quy định “Tranh tụng” thành một nguyên tắc quy định tại Điều 26 và cụ thể nguyên tắc này tại Mục V Chương XXI “Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” được quy định từ Điều 306 đến Điều 325, đây có thể xem là giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng hình sự.

Việc nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên trong những năm qua luôn được lãnh đạo Viện KSND tỉnh Tuyên Quang quan tâm. Việc trang bị các điều kiện vật chất, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho Kiểm sát viên tranh tụng tại phiên tòa luôn được bảo đảm như các Kiểm sát viên cơ bản được sử dụng máy tính xách tay, các phần mềm hỗ trợ tranh tụng, số hóa hồ sơ, trình chiếu tài liệu bằng hình ảnh tại phiên tòa...qua đó giúp cho Kiểm sát viên nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa.
Tuy nhiên, việc tranh tụng tại một số phiên tòa vẫn còn có những hạn chế nhất định như:
- Chất lượng chuẩn bị tranh tụng trước phiên tòa của một số Kiểm sát viên còn hạn chế. Trong một số vụ án, việc nghiên cứu hồ sơ và chuẩn bị nội dung tranh tụng của Kiểm sát viên chưa thật sự sâu sắc, toàn diện. Việc xây dựng đề cương xét hỏi, dự kiến tình huống tranh tụng đôi khi còn mang tính hình thức, chưa phân tích đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án. Một số bản luận tội chủ yếu tập trung tóm tắt diễn biến vụ án, chưa phân tích sâu căn cứ pháp lý và chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, chưa làm rõ mối quan hệ giữa các chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
- Kỹ năng xét hỏi và đối đáp của một số Kiểm sát viên tại phiên tòa còn hạn chế. Trong quá trình tham gia xét xử, một số Kiểm sát viên chưa thể hiện rõ vai trò chủ động trong việc xét hỏi để làm sáng tỏ nội dung vụ án. Các câu hỏi đôi khi còn dàn trải, chưa tập trung vào các vấn đề trọng tâm cần làm rõ. Việc đối đáp với ý kiến bào chữa của luật sư hoặc ý kiến của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong một số trường hợp còn chưa thật sự thuyết phục; lập luận đôi khi chưa chặt chẽ, chưa viện dẫn đầy đủ chứng cứ và căn cứ pháp luật để bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát. Trong các vụ án có luật sư tham gia bào chữa tích cực, một số Kiểm sát viên còn lúng túng trong việc xử lý các tình huống tranh luận phát sinh tại phiên tòa.
- Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử ở một số phiên tòa chưa thật sự phát huy hiệu quả. Ở một số phiên tòa, hoạt động tranh tụng giữa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác chưa diễn ra thật sự sôi nổi, sâu sắc, việc tranh luận đôi khi còn mang tính hình thức. Trong một số trường hợp, Kiểm sát viên chưa chủ động phản biện đầy đủ các quan điểm bào chữa của luật sư, dẫn đến việc làm rõ các tình tiết của vụ án tại phiên tòa chưa đạt hiệu quả cao.
- Công tác rút kinh nghiệm và đào tạo kỹ năng tranh tụng còn hạn chế. Việc tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm, sinh hoạt chuyên đề về kỹ năng tranh tụng ở một số đơn vị còn chưa thường xuyên. Công tác tổng hợp, phổ biến các bài học kinh nghiệm sau phiên tòa chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến việc nâng cao kỹ năng tranh tụng cho đội ngũ Kiểm sát viên còn chậm. Bên cạnh đó, cơ hội để Kiểm sát viên tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng tranh tụng còn hạn chế.
- Về nguyên nhân chủ quan:
Kỹ năng tranh tụng chưa sắc bén do một số Kiểm sát viên còn nặng về đọc bản luận tội đã chuẩn bị sẵn, chưa linh hoạt trong việc đối đáp, phản bác các lập luận mới phát sinh từ phía luật sư hoặc bị cáo tại phiên tòa.
Một số Kiểm sát viên còn có tâm lý chủ quan do quá tin tưởng vào hồ sơ điều tra nên khi ra tòa không dự kiến hết các tình huống thay đổi lời khai hoặc các chứng cứ ngoại phạm mới, dẫn đến lúng túng khi tranh tụng tại phiên tòa.
Trình độ chuyên môn của các Kiểm sát viên không đồng đều, khả năng nghiên cứu hồ sơ, tổng hợp chứng cứ và tư duy pháp lý của một số Kiểm sát viên còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp.
- Về nguyên nhân khách quan
Cơ sở vật chất và trang thiết bị, việc số hóa hồ sơ và ứng dụng công nghệ thông tin tại tòa án còn chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc trình chiếu chứng cứ điện tử để thuyết phục Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng.
Nguyên nhân khác do Kiểm sát viên phải thụ lý cùng lúc quá nhiều vụ án, dẫn đến việc thiếu thời gian để nghiên cứu sâu từng chi tiết nhỏ hoặc chuẩn bị kỹ các phương án tranh luận, đề cương xét hỏi, dự kiến các nội dung phát sinh tại phiên tòa.
Trước thực trạng trên, để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự, nhất là các vụ án lớn, phức tạp, đông bị can, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:
- Một là, chuẩn bị đề cương xét hỏi, đề cương kiểm sát xét xử, dự kiến những tình huống phát sinh tại phiên tòa. Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, nắm chắc nội dung của vụ án, các chứng cứ buộc tội, gỡ tội. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, KSV phải nghiên cứu đầy đủ các lời khai, bản cung của bị can, của những NTGTT khác, biên bản đối chất, nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án. Từ đó hệ thống các chứng cứ buộc tội, gồm có lời khai nhận tội của bị can, lời khai người làm chứng về các tình tiết liên quan đến hành vi của bị can, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng, giám định chuyên môn… Đây là các căn cứ để KSV tiến hành tranh luận, đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những NTGTT khác tại phiên tòa; hệ thống các chứng cứ gỡ tội, gồm lời khai bị can, người làm chứng và các tài liệu khác khẳng định bị can không phạm tội hoặc phạm tội nhẹ hơn. Thực tiễn hiện nay, người bào chữa, thậm chí cả HĐXX khi đánh giá chứng cứ, tài liệu đã thu thập, kiểm tra tại phiên tòa có mâu thuẫn, như lời khai của bị can không phù hợp với hiện trường, không phù hợp với diễn biến vụ án thì kết luận theo nguyên tắc suy đoán vô tội. Do vậy, KSV phải phân tích, đánh giá tổng hợp chứng cứ, giải quyết các mâu thuẫn một cách khách quan, khoa học để chứng minh sự thật vụ án, tranh tụng với người bào chữa, bị cáo và thuyết phục HĐXX bảo vệ chân lý.
Xây dựng đề cương kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa một cách có trình tự, logic theo đúng quy định BLTTHS. Khi thực hiện nhiệm vụ, KSV cần đánh dấu những hoạt động nào HĐXX và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa chấp hành đúng pháp luật, những hoạt động nào vi phạm hoặc còn thiếu sót để kịp thời đề nghị HĐXX khắc phục, bổ sung. Nhiệm vụ kiểm sát hoạt động xét xử tại phiên tòa đã được quy định cụ thể trong BLTTHS và khi xét xử các vụ án hình sự đều phải tuân theo, nếu KSV làm tốt công tác chuẩn bị đề cương thực hiện nhiệm vụ này, sẽ giúp Kiểm sát viên tập trung thực hiện tốt công tác THQCT.
Kiểm sát viên phải dự kiến trước những vấn đề mà bị cáo, người bào chữa và những NTGTT khác đưa ra trong phiên toà. Thường đó là những vấn đề về đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, thiệt hại do tội phạm gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân bị cáo, những điểm mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án, vai trò của bị cáo trong đồng phạm… chuẩn bị lý lẽ để bác bỏ những quan điểm sai trái, không đúng của bị cáo, người bào chữa trên cơ sở viện dẫn chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, đường lối, chính sách pháp luật.
- Hai là, Kiểm sát viên phải thường xuyên nghiên cứu, nắm vững các quy định của BLHS, BLTTHS năm 2015, các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành, đặc biệt các yếu tố cấu thành tội phạm, các khái niệm về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS… Chuẩn bị các văn bản pháp luật có liên quan, nên lưu trữ thành hệ thống trong máy vi tính, để chủ động tranh tụng tại phiên tòa. Qua theo dõi một số phiên tòa, người bào chữa thường cắt xén hoặc thêm bớt nội dung văn bản quy phạm pháp luật theo hướng có lợi cho bài bào chữa, nên KSV phải sử dụng chính xác nội dung, tinh thần của văn bản đó để bác bỏ quan điểm của người bào chữa.
Ba là: tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải tập trung chú ý theo dõi, lắng nghe và ghi chép đầy đủ ý kiến cơ bản, ý chính của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng, hệ thống các nội dung chính cần đối đáp lại; từ đó phải kịp thời bổ sung những căn cứ pháp lý, những tài liệu, chứng cứ cần phân tích, đánh giá, sử dụng để tranh luận, đối đáp không trùng lắp, đầy đủ, ngắn gọn và chặt chẽ mang tính thuyết phục để bảo vệ quan điểm của VKS.
Theo quy định tại Điều 322 BLTTHS năm 2015, thì người bào chữa và người tham gia tố tụng có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu của mình để đối đáp với KSV. Trường hợp chứng cứ, tài liệu này người bào chữa đưa ra trong quá trình truy tố, chuẩn bị xét xử, thì KSV phải được nhận, sẽ có thời gian xem xét, đánh giá, nhận định và có quan điểm của mình; nhưng nếu tại phiên tòa người bào chữa và người tham gia tố tụng đưa ra chứng cứ, tài liệu mới phát sinh, thì Kiểm sát viên phải kiểm tra nguồn gốc, tính hợp pháp của tài liệu đó để có lập luận, đối đáp. Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Trường hợp tài liệu, chứng cứ mới phát sinh làm thay đổi sự thật vụ án và không thể kiểm tra để đánh giá về tính khách quan, việc thu thập có tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, thì KSV đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại Điều 251 BLTTHS năm 2015; còn những chứng cứ, tài liệu mới không làm thay đổi sự thật vụ án, việc thu thập trái quy định của pháp luật, thì đề nghị HĐXX không chấp nhận.
Bốn là: Kiểm sát viên phải tự rèn luyện kỹ năng tranh luận, đối đáp thông qua việc tự đào tạo, rèn luyện kỹ năng hùng biện mang tính thuyết phục, rèn luyện tác phong tự tin, trình bày mạch lạc, lưu loát, thái độ bình tĩnh, đúng mực, tôn trọng người đối đáp, tranh luận, ứng xử có văn hóa tại phiên tòa. Thực tiễn, khi nghe KSV báo cáo án, Lãnh đạo Viện, Phòng nghiệp vụ và một số KSV có kinh nghiệm nên đặt ra các câu hỏi phản biện, những tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa như bị cáo không nhận tội, người làm chứng khai khác với quá trình điều tra, truy tố hoặc các tình tiết làm thay đổi bản chất vụ án để KSV nêu ra ý kiến bảo vệ quan điểm của mình. Đặc biệt, cần rèn luyện khả năng phản ứng linh hoạt trước các tình huống, vấn đề mới phát sinh tại phiên tòa, bằng cách VKS địa phương nên dành một thời gian nhất định để các KSV có trình độ, tham gia kiểm sát xét xử nhiều vụ án hình sự trong đơn vị trao đổi kỹ năng, kinh nghiệm về hoạt động đối đáp tranh luận cho các đồng nghiệp, đồng thời đây cũng là thời gian để hướng dẫn, kèm cho các Kiểm sát viên mới để họ ngày càng vững vàng trong công tác THQCT, KSXX sơ thẩm vụ án hình sự, đặc biệt là trong kỹ năng tranh luận.
Năm là: tăng cường phối hợp tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm giữa VKS và Tòa án, thông qua việc tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm, khi xem xét đánh giá chứng cứ, giúp cho Kiểm sát viên nâng cao kỹ năng tranh tụng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
Tác
giả:
Ấu
Bá
Lãng
-
Phó
trưởng
phòng
1,
VKSND
tỉnh
Tuyên
Quang