Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ » Nghiên cứu - Trao đổi

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 959

   Bất cập trong việc xử lý hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép pháo nổ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015.


Thứ năm - 04/05/2017 07:55
       
          Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Bộ luật hình sự đã quy định rất cụ thể về nhóm tội phạm này. Tuy nhiên, trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử, chúng tôi thấy rằng còn một số vướng mắc, bất cập khi áp dụng pháp luật liên quan đến các tội “Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm” theo quy định tại Điều 155 BLHS 1999 và tại các Điều 190, Điều 191 BLHS năm 2015.

          * Thứ nhất: Vướng mắc trong việc xác định pháo có phải là mặt hàng cấm hay là mặt hàng kinh doanh có điều kiện?

          Từ trước đến nay, pháo và thuốc lá luôn đi kèm với những tác hại khó lường, ảnh hưởng xấu đến tính mạng, sức khỏe của con người, đến trật tự quản lý kinh tế và trị an xã hội. Do đó, Nhà nước đã quy định cụ thể: “pháo các loại” thuộc Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh tại Nghị định số 59/2006/NĐ - CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 43/2009/NĐ – CP ngày 07/5/2009 và hợp nhất theo Văn bản số 19/VBHN – BCT ngày 09/5/2014). Tại Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BCA-VKNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008 giữa Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo đã quy định hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép pháo có số lượng từ 10kg trở lên hoặc dưới số lượng đó, nhưng đã bị xử phạt hành chính, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

          Tuy nhiên, theo quy định của Luật đầu tư năm 2014 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015) thì “pháo các loại” lại thuộc Danh mục “ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện” (Phụ lục 04 - Luật đầu tư năm 2014). Từ đó dẫn đến một bất cập là: Luật đầu tư năm 2014 và Luật thương mại năm 2005 chồng chéo nhau về đối tượng điều chỉnh.

          Để xác định pháo có phải hàng hóa thuộc diện “hàng cấm” thì cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Bộ chuyên ngành ban hành. Tuy nhiên, từ khi Luật đầu tư có hiệu lực thi hành đến nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này nên việc xác định pháo là mặt hàng cấm hay là mặt hàng kinh doanh có điều kiện để có biện pháp xử lý đối với các hành vi này còn gặp khó khăn và thiếu sự thống nhất trong việc vận dụng.

          * Thú  hai: Vướng mắc trong việc xác định căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

          Theo quy định tại Điều 155 "Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm" Bộ luật hình sự năm 1999 thì "1.  Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán  hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại  các Điều  193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236  và 238 của Bộ luật này, thì  bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm...".

          Để xác định thế nào là hàng hóa "có số lượng lớn", "số lượng rất lớn", "số lượng đặc biệt lớn" thì Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo. Tại điểm 2.3 tiểu mục 2 mục 3 Thông tư này có quy định: "Người nào mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép pháo nổ có số lượng từ 10 kg đến dưới 50 kg (được coi là số lượng lớn) hoặc dưới số lượng đó, nhưng đã bị xử phạt hành chính, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 tương ứng của Điều 153, Điều 154 hoặc Điều 155 BLHS...".

          Theo quy định của Thông tư này, bất cứ hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép pháo nổ có số lượng hàng phạm pháp từ 10kg trở lên hoặc dưới 10 kg nhưng đã bị xử lý hành chính hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, việc xác định người có hành vi vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm hình sự hay không thì căn cứ vào số lượng hàng phạm pháp.

          Tuy nhiên theo quy định tại Điều 190 và Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, thì hàng cấm bị thu giữ (ngoài các loại hàng cấm là hoá chất, kháng sinh....) được quy định tại điểm a khoản 1 các Điều 190 và Điều 191) phải có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên (trường hợp hàng cấm bị thu giữ trị giá dưới 100.000.000 đồng thì các đối tượng phải có tiền án, tiền sự về những hành vi thuộc nhóm tội phạm này) hoặc từ 50.000.000 đồng trở lên nếu buôn bán, vận chuyển qua biên giới, mới có thể xử lý hình sự. Mặt khác theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội khóa XIII về việc lùi hiệu lực thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13,… Mà theo đó, thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Hình sự; tiếp tục áp dụng khoản 2 Điều 1 và các quy định khác có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết số 109/2015/QH13. Do đó kể từ ngày BLHS năm 2015 được công bố, đối với hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu điều luật đã quy định khác có lợi cho người phạm tội nên các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định giá trị hàng phạm pháp (pháo nổ) để làm căn cứ xử lý.

          Như vậy, Thông tư 06 trên và Bộ luật hình sự năm 2015 không thống nhất trong cách xác định căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ hàng cấm. Mặt khác việc quy định trị giá hàng phạm pháp (hàng cấm) để xử lý hình sự là một bất cập, vì: Trên thực tế đã là hàng cấm, không được phép lưu hành trên thị trường thì sẽ không có giá, do đó, sẽ không có căn cứ để xác định được giá. Nếu không định giá được mặt hàng này, thì không thể xử lý hình sự đối với các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm theo quy định tại Điều 190 và Điều 191 BLHS năm 2015.

          * Thứ ba: Vướng mắc trong thời hạn giải quyết các vụ án buôn bán hàng cấm.

         Ngày 26/01/2016, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 06 hướng dẫn các Tòa án địa phương xử lý các tội danh trên theo hướng: khi xác định có hành vi vận chuyển, buôn bán pháo và thuốc lá ngoại nhập lậu qua biên giới thì xử lý theo Điều 153, Điều 154 BLHS năm 1999 nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm (vẫn xác định là hàng cấm với số lượng lớn); nhưng nếu chỉ thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo và thuốc lá ngoại nhập lậu trong nội địa thì không xác định là hàng cấm và dừng việc xét xử.

          Ngày 19/01/2017 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 06 về việc xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ: "Đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ được thực hiện kể từ ngày 01/01/2017 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành, thì áp dụng quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT - BCA - VKSNDTC - TANDTC ngày 25/12/2008 để xử lý".

          Do đó, một số vụ án về tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo ở địa bàn huyện Sơn Dương phát hiện và khởi tố trước ngày 01/01/2017 đã phải tạm đình chỉ điều tra để tiếp tục chờ văn bản giải thích của Cơ quan có thẩm quyền, nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự mà vẫn chưa có văn bản hướng dẫn của Cơ quan có thẩm quyền thì sẻ giải quyết vụ án như thế nào? Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về hành vi buôn bán pháo nổ và công tác đấu tranh xử lý đối với các hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ.

          * Thứ tư: Vướng mắc trong việc xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội để xác định mức hình phạt đối với các hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo.

          Trong thành phần pháo nổ gồm có thuốc pháo và các vật liệu khác mà thành phần thuốc pháo trong pháo nổ chiếm một phần nhỏ. Tuy nhiên pháp luật hiện hành hiện nay chỉ quy định trọng lượng của pháo nổ để làm căn cứ khởi tố, truy tố và xét xử đối với các hành vi sản xuất, tàng trữ trái phép pháo nổ mà chưa có quy định cụ thể về khối lượng thuốc pháo (Ví dụ: A có hành vi tàng trữ 15kg pháo nổ nhưng trọng lượng thuốc pháo chỉ có 01kg, còn 14kg là các vật liệu khác như giấy.... và B có hành vi tàng trữ 15kg pháo nổ nhưng trọng lượng thuốc pháo là 05kg, còn các vật liệu khác là 10kg. Khi xét xử lại chỉ căn cứ vào trọng lượng pháo thu giữ là 15kg là chưa hợp lý và chưa đảm bảo tính công bằng. Vì tính chất nguy hiểm cho xã hội của A và B khác nhau).

          Để xử lý các hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ pháo nổ được triệt để, thống nhất, đề nghị liên ngành tư pháp Trung ương sớm hướng dẫn xử lý những vấn đề nêu trên để việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi này đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội nhưng cũng không bỏ lọt tội phạm.
 
                                                                           Phạm Việt Hùng
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết





 

Scroll to top