KHÁI
QUÁT
VỀ
VỊ
TRÍ,
VAI
TRÒ,
CHỨC
NĂNG,
TỔ
CHỨC,
HOẠT
ĐỘNG
CỦA
VIỆN
KIỂM
SÁT
NHÂN
DÂN
VIỆT
NAM
1.
Vị
trí
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
trong
bộ
máy
Nhà
nước
Việt
Nam.
Trụ
sở
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
Việt
Nam
được
thành
lập
ngày
26
tháng
7
năm
1960
bằng
một
đạo
luật
là
Luật
Tổ
chức
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
năm
1960.
Theo
quy
định
của
Hiến
pháp
Việt
Nam,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
là
một
hệ
thống
cơ
quan
nhà
nước
độc
lập
trong
cơ
cấu
tổ
chức
bộ
máy
của
các
cơ
quan
Nhà
nước.
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
Việt
Nam
là
một
hệ
thống
độc
lập
và
được
được
tổ
chức
ở
3
cấp,
gồm:
-
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao.
-
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tỉnh,
thành
phố
trực
thuộc
Trung
ương
(hiện
có
63
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cấp
tỉnh).
-
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
huyện,
quận,
thị
xã,
thành
phố
thuộc
tỉnh
(hiện
có
691
Viện
kiểm
sát
cấp
huyện
tại
691
quận,
huyện,
thị
xã,
thành
phố
thuộc
tỉnh).
Trong
hệ
thống
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
có
các
Viện
kiểm
sát
quân
sự,
gồm:
-
Viện
kiểm
sát
quân
sự
Trung
ương.
-
Viện
kiểm
sát
quân
sự
cấp
Quân
khu,
Quân
chủng,
Quân
đoàn...
-
Viện
kiểm
sát
quân
sự
cấp
Khu
vực.
Toàn
bộ
hệ
thống
Viện
kiểm
sát
nhân
dân,
Viện
kiểm
sát
quân
sự
các
cấp
đặt
dưới
sự
quản
lý,
chỉ
đạo
và
điều
hành
của
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao.
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
được
Quốc
hội
bầu
trong
số
các
đại
biểu
Quốc
hội,
có
nhiệm
kỳ
cùng
với
nhiệm
kỳ
Quốc
hội
là
5
năm.
Một
người
chỉ
được
bầu
làm
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
không
quá
2
nhiệm
kỳ.
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
do
Viện
trưởng
lãnh
đạo.
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cấp
dưới
chịu
sự
lãnh
đạo
của
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cấp
trên;
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
các
địa
phương,
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
quân
sự
các
cấp
chịu
sự
lãnh
đạo
thống
nhất
của
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao.
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
do
Quốc
hội
bầu
theo
đề
nghị
của
Chủ
tịch
nước,
chịu
sự
giám
sát
của
Quốc
hội,
chịu
trách
nhiệm
và
báo
cáo
công
tác
trước
Quốc
hội;
trong
thời
gian
Quốc
hội
không
họp
thì
chịu
trách
nhiệm
và
báo
cáo
công
tác
trước
Uỷ
ban
thường
vụ
Quốc
hội
và
Chủ
tịch
nước;
trả
lời
chất
vấn,
kiến
nghị,
yêu
cầu
của
đại
biểu
Quốc
hội.
Phó
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
và
Kiểm
sát
viên
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
do
Chủ
tịch
nước
bổ
nhiệm,
miễn
nhiệm,
cách
chức
theo
đề
nghị
của
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao.
Viện
trưởng,
Phó
Viện
trưởng,
Kiểm
sát
viên
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
địa
phương,
Phó
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
quân
sự
Trung
ương,
Viện
trưởng,
Phó
Viện
trưởng,
Kiểm
sát
viên
Viện
kiểm
sát
quân
sự
quân
khu
và
tương
đương,
Viện
kiểm
sát
quân
sự
khu
vực,
Điều
tra
viên
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
do
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
bổ
nhiệm,
miễn
nhiệm,
cách
chức.
Viện
trưởng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
địa
phương
chịu
sự
giám
sát
của
Hội
đồng
nhân
dân
cùng
cấp;
chịu
trách
nhiệm
báo
cáo
công
tác
trước
Hội
đồng
nhân
dân;
trả
lời
chất
vấn,
kiến
nghị,
yêu
cầu
của
đại
biểu
Hội
đồng
nhân
dân.
Phó
Viện
trưởng
giúp
Viện
trưởng
làm
nhiệm
vụ
theo
sự
phân
công
của
Viện
trưởng.
Khi
Viện
trưởng
vắng
mặt,
một
Phó
Viện
trưởng
được
uỷ
nhiệm
thay
mặt
lãnh
đạo
công
tác
của
Viện
kiểm
sát.
Phó
Viện
trưởng
chịu
trách
nhiệm
trước
Viện
trưởng
về
nhiệm
vụ
được
giao.
2.
Chức
năng,
nhiệm
vụ
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
Việt
Nam
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
thực
hành
quyền
công
tố
và
kiểm
sát
các
hoạt
động
tư
pháp
theo
quy
định
của
Hiến
pháp
và
pháp
luật.
Viện
kiểm
sát
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
thực
hành
quyền
công
tố
và
kiểm
sát
các
hoạt
động
tư
pháp,
góp
phần
bảo
đảm
cho
pháp
luật
được
chấp
hành
nghiêm
chỉnh
và
thống
nhất.
Các
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
địa
phương
thực
hành
quyền
công
tố
và
kiểm
sát
các
hoạt
động
tư
pháp
ở
địa
phương
mình.
Các
Viện
kiểm
sát
quân
sự
thực
hành
quyền
công
tố
và
kiểm
sát
các
hoạt
động
tư
pháp
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Trong
phạm
vi
chức
năng
của
mình,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
có
nhiệm
vụ
góp
phần
bảo
vệ
pháp
chế
xã
hội
chủ
nghĩa,
bảo
vệ
chế
độ
xã
hội
chủ
nghĩa
và
quyền
làm
chủ
của
nhân
dân,
bảo
vệ
tài
sản
của
Nhà
nước,
của
tập
thể,
bảo
vệ
tính
mạng,
sức
khoẻ,
tài
sản,
tự
do,
danh
dự
và
nhân
phẩm
của
công
dân,
bảo
đảm
để
mọi
hành
vi
xâm
phạm
lợi
ích
của
Nhà
nước,
của
tập
thể,
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
công
dân
đều
phải
được
xử
lý
theo
pháp
luật.
3.
Các
chức
danh
tư
pháp
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
Trong
hệ
thống
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
có
các
Kiểm
sát
viên,
Điều
tra
viên,
Kiểm
tra
viên.
-
Kiểm
sát
viên
được
bổ
nhiệm
theo
quy
định
của
pháp
luật
để
làm
nhiệm
vụ
thực
hành
quyền
công
tố
và
kiểm
sát
các
hoạt
động
tư
pháp.
-
Điều
tra
viên
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
được
bổ
nhiệm
theo
quy
định
của
pháp
luật
để
làm
nhiệm
vụ
điều
tra
tội
phạm.
-
Kiểm
tra
viên:
giúp
Lãnh
đạo
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
kiểm
tra
việc
tuân
theo
pháp
luật
trong
việc
giải
quyết
các
vụ
án
hình
sự,
dân
sự,
hôn
nhân
và
gia
đình,
hành
chính,
kinh
doanh
thương
mại
và
những
việc
khác
theo
quy
định
của
pháp
luật;
trong
việc
tạm
giữ,
tạm
giam,
quản
lý
và
giáo
dục
người
chấp
hành
án
phạt
tù;
thi
hành
các
bản
án:
trong
công
tác
xét
khiếu
tố
và
một
số
nhiệm
vụ
pháp
lý
khác
do
Viện
trưởng
phân
công.
Giúp
lãnh
đạo
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
kiểm
tra
hồ
sơ,
hoặc
trực
tiếp
kiểm
tra
các
vụ
án
thuộc
thẩm
quyền
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân.