Trả
lại
đơn
khởi
kiện
trong
tố
tụng
dân
sự
là
hành
vi
của
Thẩm
phán
Tòa
án
nhân
dân
khi
được
Chánh
án
Tòa
án
phân
công
xem
xét
đơn
khởi
kiện.
Việc
trả
lại
đơn
khởi
kiện
không
đúng
quy
định
của
Thẩm
phán
ảnh
hưởng
trực
tiếp
tới
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
của
đương
sự,
vì
vậy
hoạt
động
kiểm
sát
việc
trả
lại
đơn
khởi
kiện
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
nhằm
đảm
bảo
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
của
đương
sự
và
đảm
bảo
hành
vi,
quyết
định
của
Thẩm
phán
được
phân
công
xem
xét,
giải
quyết
đơn
khởi
kiện
được
thực
hiện
theo
đúng
quy
định
của
pháp
luật.
Tuy
nhiên,
trong
quá
trình
thực
hiện
chức
năng
kiểm
sát
việc
trả
lại
đơn
khởi
kiện
của
Thẩm
phán
vẫn
còn
một
số
vướng
mắc
trong
quy
định
của
pháp
luật
cần
được
sửa
đổi,
bổ
sung
để
hoạt
động
kiểm
sát
đạt
kết
quả
cao
hơn,
cụ
thể:
Thứ
nhất,
về
thời
hạn
gửi
văn
bản
trả
lại
đơn
khởi
kiện:
theo
quy
định
tại
khoản
2,
Điều
192
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự
2015
(BLTTDS)
quy
định:
“Khi
trả
lại
đơn
khởi
kiện
và
tài
liệu,
chứng
cứ
kèm
theo
cho
người
khởi
kiện,
Thẩm
phán
phải
có
văn
bản
nêu
rõ
lý
do
trả
lại
đơn
khởi
kiện,
đồng
thời
gửi
cho
Viện
kiểm
sát
cùng
cấp”.
Nội
dung
điều
luật
đã
quy
định
Thẩm
phán
phải
có
văn
bản
nêu
rõ
lý
do
trả
lại
đơn
khởi
kiện
và
gửi
cho
Viện
kiểm
sát
cùng
cấp
nhưng
lại
không
quy
định
trong
thời
hạn
bao
lâu
kể
từ
ngày
có
văn
bản
trả
lại
đơn
khởi
kiện
thì
Thẩm
phán
phải
gửi
cho
Viện
kiểm
sát
để
Viện
kiểm
sát
kiểm
sát
việc
trả
lại
đơn
khởi
kiện
có
đúng
quy
định
hay
không
để
thực
hiện
quyền
kiến
nghị
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Thực
tế
nhiều
trường
hợp
khi
đương
sự
có
đơn
khiếu
nại
việc
trả
lại
đơn
khởi
kiện
của
Thẩm
phán
và
gửi
đến
Viện
kiểm
sát
thì
Viện
kiểm
sát
mới
nắm
được
Tòa
án
đã
trả
đơn
khởi
kiện
cho
đương
sự.
Thứ
hai,
khó
khăn,
vướng
mắc
trong
kiểm
sát
căn
cứ
trả
lại
đơn
khởi
kiện: Cũng
theo
quy
định
tại
khoản
2,
Điều
192
BLTTDS
quy
định:
“…Đơn
khởi
kiện
và
tài
liệu,
chứng
cứ
mà
Thẩm
phán
trả
lại
cho
người
khởi
kiện
phải
được
sao
chụp
và
lưu
tại
Tòa
án
để
làm
cơ
sở
giải
quyết
khiếu
nại,
kiến
nghị
khi
có
yêu
cầu”.
Như
vậy,
điều
luật
chỉ
quy
định
Tòa
án
sao
chụp
và
lưu
tài
liệu
để
làm
cơ
sở
cho
việc
giải
quyết
khiếu
nại,
kiến
nghị
chứ
không
quy
định
phải
gửi
các
tài
liệu
liên
quan
đến
việc
trả
lại
đơn
khởi
kiện
cho
Viện
kiểm
sát
gây
khó
khăn
cho
việc
kiểm
sát
căn
cứ
trả
lại
đơn
khởi
kiện.
Mặt
khác,
khoản
1,
Điều
21
Thông
tư
liên
tịch
số
02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC
(TTLT
02/2016)
ngày
31/8/2016
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao,
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
quy
định
việc
phối
hợp
giữa
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
và
Tòa
án
nhân
dân
trong
việc
thi
hành
một
số
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
thì
“Trường
hợp
Viện
kiểm
sát
cần
xem
xét
kiến
nghị
việc
trả
lại
đơn
khởi
kiện,
đơn
yêu
cầu
hoặc
sau
khi
nhận
được
thông
báo
mở
phiên
họp
giải
quyết
khiếu
nại
về
việc
trả
lại
đơn
khởi
kiện,
đơn
yêu
cầu
thì
Viện
kiểm
sát
gửi
văn
bản
yêu
cầu
Tòa
án
cho
sao
chụp
một
số
hoặc
toàn
bộ
bản
sao
đơn
khởi
kiện,
đơn
yêu
cầu
và
tài
liệu,
chứng
cứ”,
như
vậy
chỉ
trong
trường
hợp
cần
xem
xét
kiến
nghị
Viện
kiểm
sát
mới
có
văn
bản
yêu
cầu
Tòa
án
cho
sao
chụp
tài
liệu
chứ
không
phải
trong
mọi
trường
hợp
trả
lại
đơn
khởi
kiện
của
Tòa
án
Viện
kiểm
sát
đều
có
quyền
yêu
cầu
sao
chụp
tài
liệu,
chứng
cứ.
Quy
định
này
cũng
gây
rất
nhiều
khó
khăn,
cản
trở
cho
quá
trình
kiểm
sát
căn
cứ
trả
lại
đơn
khởi
kiện.
Thứ
ba,
về
sự
có
mặt
của
đại
diện
Viện
kiểm
sát
trong
phiên
họp
xem
xét,
giải
quyết
khiếu
nại
trả
lại
đơn
khởi
kiện: Theo
khoản
3,
Điều
194
BLTTDS
thì
phiên
họp
xem
xét,
giải
quyết
khiếu
nại
có
sự
tham
gia
của
đương
sự
và
đại
diện
Viện
kiểm
sát
cùng
cấp.
Tuy
nhiên,
tại
Điều
26
TTLT
02/2016
quy
định
“Kiểm
sát
viên
được
phân
công
có
nhiệm
vụ
tham
gia
phiên
họp
xem
xét,
giải
quyết
khiếu
nại,
kiến
nghị
về
việc
trả
lại
đơn
khởi
kiện,
đơn
yêu
cầu.
Trường
hợp
Kiểm
sát
viên
vắng
mặt
thì
Thẩm
phán
vẫn
tiến
hành
phiên
họp,
trừ
trường
hợp
Viện
kiểm
sát
kiến
nghị”.
Như
vậy
trong
một
số
trường
hợp
do
công
việc
đột
xuất,
không
có
Kiểm
sát
viên
thay
thế
thì
Viện
kiểm
sát
không
thực
hiện
được
chức
năng
kiểm
sát
tại
phiên
họp
xem
xét,
giải
quyết
đơn
khiếu
nại
của
đương
sự.
Quy
định
này
cũng
làm
giảm
chức
năng
kiểm
sát
của
Viện
kiểm
sát
trong
việc
kiểm
sát
trả
lại
đơn
khởi
kiện.
Từ
những
khó
khăn,
vướng
mắc
nêu
trên
kiến
nghị
sửa
đổi,
bổ
sung
một
số
quy
định
của
pháp
luật
liên
quan
đến
kiểm
sát
việc
trả
lại
đơn
khởi
kiện,
cụ
thể
như
sau:
Bổ
sung
tại
khoản
2,
Điều
192
BLTTDS
2015
các
nội
dung:
-
Thời
hạn
gửi
văn
bản
trả
lại
đơn
khởi
kiện
của
Tòa
án
nhân
dân
cho
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
là
03
ngày,
kể
từ
ngày
ban
hành
văn
bản
trả
lại
đơn
khởi
kiện.
-
Đơn
khởi
kiện
và
các
tài
liệu,
chứng
cứ
mà
Thẩm
phán
trả
lại
cho
người
khởi
kiện
phải
được
sao
gửi
cho
Viện
kiểm
sát
cùng
văn
bản
trả
lại
đơn
khởi
kiện.
Bổ
sung
tại
khoản
3,
Điều
194
BLTTDS
2015
và
sửa
đổi
Điều
26
TTLT
02/2016
nội
dung:
Trường
hợp
đại
diện
Viện
kiểm
sát
vắng
mặt
tại
phiên
họp
xem
xét,
giải
quyết
khiếu
nại,
kiến
nghị
thì
Thẩm
phán
phải
hoãn
phiên
họp.
Trên
đây
là
quan
điểm
cá
nhân,
rất
mong
nhận
được
sự
góp
ý
của
quý
độc
giả
và
các
đồng
nghiệp.
Trần
Đức
Hiệp.