Luật
Quản
lý,
sử
dụng
vũ
khí,
vật
liệu
nổ
và
công
cụ
hỗ
trợ
năm
2024
(Luật
Số
42/2024/QH15
ngày
29/6/2024;
viết
tắt
là
Luật
QLSDVKVLN
và
CCHT),
có
hiệu
lực
thi
hành
từ
ngày
01/01/2025
(Trừ
một
số
điều
đặc
biệt
Quy
định
tại Điều
17,
Điều
32
và
khoản
1
Điều
49
của
Luật
này có
hiệu
lực
thi
hành
từ
ngày
01/7/2025):
Luật
gồm
08
chương,
75
điều.
Luật
tổng
hợp,
điều
chỉnh
toàn
diện
về
nội
dung,
định
nghĩa,
điều
kiện
sử
dụng,
quản
lý
và
sử
dụng
Vũ
khí,
vật
liệu
nổ,
tiền
chất
thuốc
nổ
và
công
cụ
hỗ
trợ;
Xác
định
rõ
phạm
vi
quản
lý,
giới
hạn
và
nguyên
tắc
sử
dụng
nhằm
bảo
vệ
an
ninh
quốc
gia,
trật
tự
an
toàn
xã
hội,
quyền
con
người
và
phục
vụ
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội;
Giải
thích
rõ
các
thuật
ngữ
quan
trọng
như
“Vũ
khí
quân
dụng,
vũ
khí
thô
sơ,
vũ
khí
thể
thao,
súng
săn”…cũng
như
quy
định
về
những
hành
vi
bị
nghiêm
cấm
sử
dụng
công
cụ
này
để
xâm
phạm
an
ninh
quốc
gia,
trật
tự,
sức
khỏe,
tài
sản
của
người
khác…
Trong
phạm
vi
bài
viết
này
tác
giả
nêu
quan
điểm,
ý
kiến
giới
hạn
trong
phạm
vi
quy
định
của
Luật
này
về
một
loại
công
cụ,
phương
tiện
rất
đời
thường
và
được
sử
dụng
phổ
biến
hàng
ngày
trong
mỗi
gia
đình
chúng
ta
đó
là
Dao
sắc,
dao
nhọn
-
“Dao
có
tính
sát
thương
cao”
và
quan
điểm,
ý
kiến
của
tác
giả
đối
với
việc
xử
lý
trách
nhiệm
hình
sự
(TNHS)
đối
với
hành
vi
của
người
sử
dụng
Dao
có
tính
sát
thương
cao
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội,
gây
rối,
làm
mất
trật
tự
công
cộng
hoặc
chống
đối
cơ
quan,
tổ
chức
thực
hiện
nhiệm
vụ,
người
thi
hành
công
vụ
hoặc
xâm
phạm
tính
mạng,
sức
khỏe
con
người
trái
pháp
luật:
1.
Trước
tiên
tác
giả
phân
tích,
làm
rõ
ranh
giới,
giới
hạn
để
xác
định
khi
nào
thì
“Dao
có
tính
sát
thương
cao”
là
vũ
khí
quân
dụng
theo
quy
định
của
Luật
QLSDVKVLN
và
CCHT:
Theo
quy
định
tại
Khoản
1
Điều
2
thì “Vũ
khí”
bao
gồm
có
vũ
khí
quân
dụng,
vũ
khí
thô
sơ,
vũ
khí
thể
thao
và
súng
săn.
*
Vũ
khí
quân
dụng:
Được
liệt
kê
chi
tiết
từ
Điểm
a
đến
Điểm
g
Khoản
2
Điều
2.
Trong
đó,
tại
Điểm
d
quy
định
“d)
dao
có
tính
sát
thương
cao
quy
định
tại
khoản
6
Điều
này sử
dụng với
mục
đích
xâm
phạm
tính
mạng,
sức
khỏe
con
người
trái
pháp
luật”;
“Dao
có
tính
sát
thương
cao là
dao
sắc,
dao
nhọn
thuộc
danh
mục
do
Bộ
trưởng
Bộ
Công
an
ban
hành”
(Khoản
6
Điều
2);
-
Theo
quy
định
tại
Điểm
đ
Khoản
1
Điều
6
và
Phụ
lục
5
Thông
tư
số
75/2024/TT-BCA
ngày
15/11/2024
của
Bộ
Công
an
quy
định
chi
tiết
một
số
điều
của
Luật
QLSDVKVLN
và
CCHT
thì
Dao
có
tính
sát
thương
cao bao
gồm
“Dao
sắc,
nhọn”;
“Dao
sắc”;
“Dao
gấp,
bấm”
và
“Dao
tự
chế
hoặc
hoán
cải”;
*
Với
những
quy
định
trên:
Tác
giả
thấy
rằng
còn
nhiều
cách
hiểu,
ý
kiến,
quan
điểm
nhận
diện
về
“Dao
có
tính
sát
thương”,
trong
đó
có
ý
kiến,
nhận
thức
cho
rằng
Luật
quy
định
Dao
có
tính
sát
thương
là
vũ
khí
quân
dụng
là
bao
trùm
quá
rộng
đến
đời
sống
xã
hội,
nếu
cứ
là
Dao
sắc,
nhọn
...thì
đều
là
Vũ
khí
quân
dụng,
điều
đó
sẽ
dẫn
đến
thực
trạng
là
nhà
đều
đã
và
đang
có
hành
vi
tàng
trữ,
sử
dụng
vụ
khí
quân
dụng;
quy
định
của
luật
như
vậy
là
bao
trùm,
liên
quan
đến
rất
nhiều
hành
vi
như
sản
xuất,
vận
chuyển,
tàng
trữ
và
sử
dụng
vũ
khí
quân
dụng
của
toàn
dân...sẽ
áp
dụng
xử
lý
thế
nào...?
*
Tuy
nhiên,
theo
quy
định
tại
Điểm
d
Khoản
2
và
Điểm
b
Khoản
4
Điều
2
của
Luật
QLSDVKVLN
và
CCHT
thì:
Dao
có
tính
sát
thương
cao
được
xác
định
là
vũ
khí
và
chỉ
khi
xảy
ra
trong
02
trường
hợp
sau:
-
Khi
được
sử
dụng với
mục
đích
xâm
phạm
tính
mạng,
sức
khỏe
con
người
trái
pháp
luật
(Điểm
d
Khoản
2);
-
Khi
được
sử
dụng
vào
mục
đích
để
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội,
gây
rối,
làm
mất
trật
tự
công
cộng
hoặc
chống
đối
cơ
quan,
tổ
chức
thực
hiện
nhiệm
vụ,
người
thi
hành
công
vụ
(Điểm
b
Khoản
4
Điều
2);
Như
vậy,
cùng
là
“Dao
sắc,
nhọn”;
“Dao
sắc”;
“Dao
gấp,
bấm”
và
“Dao
tự
chế
hoặc
hoán
cải”
(Dao
có
tính
sát
thương
cao)
đơn
thuần
chỉ
là
công
cụ,
phương
tiện
lao
động,
sản
xuất...được
sử
dụng
hàng
ngày
của
mỗi
nhà
và
nó
sẽ
không
thể
trở
thành
vũ
khí
(vũ
khí
quân
dụng
hay
vũ
khí
thô
sơ)
nếu
như
nó
không
được
sử
dụng
vào
mục
đích
thực
hiện
hành
vi
như
quy
định
tại
Điểm
d
Khoản
2
và
Điểm
b
Khoản
4
Điều
2
của
Luật
này.
Đến
đây
chúng
ta
đã
nhận
diện
rõ
điều
kiện
cần
và
đủ
để
xác
định
khi
nào
thì
Dao
có
tính
sát
thương
cao
sẽ
trở
thành
vũ
khí
quân
dụng.
2.
Tác
giả
xin
đề
cập
đến
những
khó
khăn,
bất
cập
khi
áp
dụng
Luật
QLSDVKVLN
và
CCHT
để
xử
lý
trách
nhiệm
hình
sự
đối
với
một
số
trường
hợp
người
sử
dụng
Dao
có
tính
sát
thương
cao
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội,
gây
rối,
làm
mất
trật
tự
công
cộng
hoặc
chống
đối
cơ
quan,
tổ
chức
thực
hiện
nhiệm
vụ,
người
thi
hành
công
vụ
hoặc
xâm
phạm
tính
mạng,
sức
khỏe
con
người
trái
pháp
luật
(kể
từ
ngày
Luật
này
có
hiệu
lực
thi
hành)
2.1.
Theo
quy
định
của
Luật
trên
và
các
văn
bản
hướng
dẫn
thi
hành:
Đối
với
người
có
hành
vi
sử
dụng
“dao
có
tính
sát
thương
cao”
thực
hiện
hành
vi
xâm
phạm
tính
mạng,
sức
khỏe
con
người trái
pháp
luật
thì
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
(TNHS)
về
02
tội:
Tội
Sử
dụng
trái
phép
vũ
khí
quân
dụng
theo
quy
định
của
Điều
304
BLHS
(kể
cả
trong
trường
hợp
người
bị
hại
rút
đơn
yêu
cầu
khởi
tố
về
tội
xâm
phạm
tính
mạng,sức
khỏe) và
tội
xâm
phạm
tính
mạng,
sức
khỏe
tương
ứng
(nếu
đủ
yếu
tố
cấu
thành).
2.2.
Tuy
nhiên,
khi
áp
dụng
để
xử
lý
đối
với
hành
vi
phạm
tội
Cố
ý
gây
thương
tích
hoặc
gây
tổn
hại
cho
sức
khỏe
của
người
khác
và
tội
Tội
sử
dụng
trái
phép
vũ
khí
quân
dụng;
Tội
gây
rối
trật
tự
công
cộng,
trong
một
số
trường
hợp
cụ
thể
có
những
bất
cập,
mâu
thuẫn
có
thể
dẫn
đến
oan,
sai,
cụ
thể
như
sau:
*
Vụ
án
1:
Do
mâu
thuẫn
tranh
chấp
đất
đai,
ngày
10/7/2025
Nguyễn
Văn
A
dùng
Dao
mổ
lợn
(Dao
sắc,
nhọn)
chém
B
01
nhát
vào
sườn
trái,
gây
tỷ
lệ
tổn
thương
cơ
thể
đối
với
B
là
10%
(theo
Kết
luận
giám
định);
Kết
luận
giám
định
xác
định
con
dao
A
sử
dụng
gây
thương
tích
cho
B
là
Dao
sắc,
nhọn
nên
được
xác
định
là
vũ
khí
quân
dụng
trong
vụ
án
này;
B
có
đơn
yêu
cầu
khởi
tố
vụ
án
đối
với
A:
Áp
dụng
các
quy
định
trên
Cơ
quan
THTT
sẽ
truy
cứu
TNHS
đối
với
A
về
Tội
cố
ý
gây
thương
tích
hoặc
gây
tổn
hại
cho
sức
khỏe
của
người
khác
theo
quy
định
tại
Điểm
a
Khoản
1
Điều
134
BLHS
(Hành
vi
phạm
tội
của
A
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
a)
Dùng
vũ
khí)…;
Ngoài
ra
theo
quy
định
của
Luật
QLSDVKVLN
và
CCHT
và
văn
bản
hướng
dẫn
thi
hành
thì
Dao
sắc,
nhọn
trong
vụ
án
này
được
xác
định
là
vũ
khí
quân
dụng
nên
A
sẽ
bị
Khởi
tố
vụ
án,
Khởi
tố
bị
can
thêm
về
tội
sử
dụng
trái
phép
vũ
khí
quân
dụng
theo
quy
định
của
Điều
304
BLHS.
-
Với
các
tình
tiết
của
vụ
án
này:
Do
thương
tích
của
B
chỉ
là
10%,
nhưng
do
A
sử
dụng
Dao
sắc,
nhọn
được
xác
định
là
Vũ
khí
quân
dụng,
nên
Cơ
quan
THTT
sử
dụng
tình
tiết
“Dùng
vũ
khí”
để
làm
tình
tiết
định
tội
danh
đối
với
A
về
Tội
cố
ý
gây
thương
tích
hoặc
gây
tổn
hại
cho
sức
khỏe
của
người
khác
theo
quy
định
tại
Điểm
a
Khoản
1
Điều
134
BLHS
và
cũng
vẫn
tình
tiết
“Dùng
vũ
khí”
Cơ
quan
THTT
sử
dụng
lại
(Sử
dụng
02
lần)
để
làm
căn
cứ
định
tội
đối
với
A
về
Tội
sử
dụng
trái
phép
vũ
khí
quân
dụng
theo
Điều
304
BLHS.
Rõ
ràng
chỉ
với
duy
nhất
01
tiết
“Dùng
vũ
khí”
Cơ
quan
THTT
đã
sử
dụng
02
lần
để
cùng
làm
tình
tiết
định
tội
danh
cho
02
tội
khác
nhau.
Việc
áp
dụng
pháp
luật
như
trên
đã
làm
tăng
TNHS,
gây
bất
lợi
cho
người
phạm
tội
và
trái
với
nguyên
tắc
của
BLTTHS
được
quy
định
tại
Điều
14
BLTTHS
“Không
ai
bị
kết
án
hai
lần
vì
một
tội
phạm”,
điều
đó
có
thể
dẫn
đến
nguy
cơ
oan,
sai.
*
Vụ
án
2:
Do
mâu
thuẫn
khi
ăn
nhậu
trong
quán,
ngày
12/7/2025
Trần
Văn
A
chạy
vào
bếp
của
quán
cầm
ra
01
con
Dao
mổ
lợn
(Dao
sắc,
nhọn)
chạy
ra
chém
B
01
nhát
vào
đùi
trái;
đâm
B
01
nhát
vào
sườn
phải
và
chém
01
nhát
vào
lưng
gây
tổng
tỷ
lệ
tổn
thương
cơ
thể
đối
với
B
là
24%
(theo
Kết
luận
giám
định);
Con
dao
A
dùng
gây
thương
tích
cho
B
được
Kết
luận
giám
định
là
dao
sắc,
nhọn.
-
Theo
quy
định:
Cơ
quan
THTT
sẽ
ra
truy
cứu
TNHS
đối
với
A
về
Tội
cố
ý
gây
thương
tích
…theo
quy
định
tại
Điểm
đ
Khoản
2
Điều
134
BLHS
(Hành
vi
phạm
tội
của
A
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
a
Khoản
1
Điều
134
BLHS
(Dùng
vũ
khí);
Ngoài
ra
A
còn
bị
truy
cứu
TNHS
thêm
về
tội
Tội
sử
dụng
trái
phép
vũ
khí
quân
dụng
theo
quy
định
của
Điều
304
BLHS.
-
Với
tính
chất
và
các
tình
tiết
của
vụ
án
này:
CQĐT
THTT
đồng
thời
sử
dụng
cùng
01
tình
tiết
“Dùng
vũ
khí”
vừa
để
làm
tình
tiết
định
khung
tặng
nặng
đối
với
A
về
tội
cố
ý
gây
thương
tích
…theo
quy
định
tại
Điểm
đ
Khoản
2
Điều
134
BLHS
và
cũng
vẫn
là
tình
tiết
“Dùng
vũ
khí”
trên
để
làm
căn
cứ
định
tội
để
truy
cứu
TNHS
đối
với
A
về
tội
Tội
sử
dụng
trái
phép
vũ
khí
quân
dụng
theo
quy
định
của
Điều
304
BLHS.
Điều
đó
đồng
nghĩa
với
việc
Cơ
quan
THTT
đã
sử
dụng
cùng
01
tiết
“Sử
dụng
vũ
khí”
vừa
để
làm
căn
cứ
định
khung
tăng
nặng,
vừa
làm
căn
cứ
để
định
tội
danh
(01
tình
tiết
sử
dụng
02
lần);
*
Vụ
án
3
(Tương
tự
như
vụ
án
2):
Đối
với
tội
Gây
rối
trật
tự
công
cộng
quy
định
tại
Điểm
b
Khoản
2
Điều
318
thì
tình
tiết
“Dùng
vũ
khí”
cũng
được
áp
dụng
02
lần
vừa
là
căn
cứ
định
tội
đối
với
tội
Tội
sử
dụng
trái
phép
vũ
khí
quân
dụng;
vừa
dùng
làm
căn
cứ
để
định
khung
hình
phạt
tăng
nặng
đối
với
tội
Gây
rối
trật
tự
công
cộng
quy
định
tại
Điểm
b
Khoản
2
Điều
318
BLHS;
Qua
03
vụ
án
trên:
Việc
các
Cơ
quan
THTT
áp
dụng
Luật
QLSDVKVLN
và
CCHT
và
hướng
dẫn
thực
hiện
của
liên
ngành
tố
tụng
Trung
ương
là
đúng
quy
định.
Tuy
nhiên,
việc
áp
dụng
pháp
luật
để
xử
lý
TNHS
trong
03
vụ
án
như
trên
sẽ
làm
tăng
TNHS,
gây
bất
lợi
cho
người
phạm
tội,
đặc
biệt
trong
vụ
án
1
là
trái
với
nguyên
tắc
của
BLTTHS,
có
thể
dẫn
đến
oan,
sai.
3.
Ngoài
những
nội
dung
trên
tác
giả
xin
đề
cập
đến
một
vướng
mắc,
khó
khăn
khác
đó
là:
-
Để
xác
định
Dao
có
tính
sát
thương
cao
có
phải
là
vũ
khí
quân
dụng
hay
không
thì
bắt
buộc
các
cơ
quan
THTT
phải
ra
quyết
định
trưng
cầu
giám
định
theo
quy
định
tại
Khoản
5
Điều
206
BLTTHS.
-
Tuy
nhiên,
như
trong
03
vụ
án
trên:
Trong
trường
hợp
sau
khi
gây
án
xong
người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
bỏ
trốn
khỏi
hiện
trường
và
cầm
theo
công
cụ,
phương
tiện
gây
án
-
con
dao
sắc
nhọn,
sau
đó
đã
ném
xuống
sông,
Cơ
quan
điều
đã
áp
dụng
các
biện
pháp
điều
tra
theo
quy
định
nhưng
không
thu
giữ
được
con
dao
đó,
do
đó
không
có
vật
chứng
để
trưng
cầu
giám
định.
Vậy
03
vụ
án
trên
sẽ
áp
dụng
tình
tiết
định
tội,
định
khung
như
thế
nào
để
xử
lý
TNHS
dối
với
A?
Qua
nghiên
cứu
các
quy
định
của
Pháp
luật;
phân
tích
các
tình
huống,
các
vụ
án
trên,
quan
điểm
của
tác
giả
cho
rằng
những
nội
dung,
khó
khăn,
bất
cập
nêu
trên
là
vấn
đề
rất
hệ
trọng
có
thể
dẫn
đến
một
số
nguy
cơ:
Chồng
chéo
trong
việc
định
tội,
không
phận
biệt
giữa
hành
vi
phạm
tội
độc
lập
với
hành
vi
đã
bao
hàm
trong
tội
kia;
tạo
ra
sự
không
thống
nhất
trong
việc
áp
dụng
pháp
luật;
nguy
cơ
vi
phạm
nguyên
tắc
TTHS,
nhân
đôi
TNHS
gây
tranh
cãi
và
đặc
biệt
là
nguy
cơ
có
thể
dẫn
đến
oan,
sai.
Để
thực
hiện
tốt
nhiệm
vụ
của
ngành
theo
Chỉ
thị
công
tác
của
VKSND
Tối
cao,
Viện
KSND
tỉnh
Tuyên
Quang
và
Kế
hoạch
công
tác
của
đơn
vị:
Toàn
Ngành
Kiểm
sát
tiếp
tục
xác
định
chống
oan
sai,
chống
bỏ
lọt
tội
phạm,
phòng,
chống
tham
nhũng,
tiêu
cực
là
nhiệm
vụ
chính
trị
quan
trọng
hàng
đầu;
Thực
hành
quyền
công
tố
chủ
động
hơn
với
tinh
thần
4S
“sớm
hơn,
sát
hơn,
sâu
hơn,
sắc
hơn”;
không
để
xảy
ra
oan,
sai
hoặc
bỏ
lọt
tội
phạm;
không
hình
sự
hóa
các
quan
hệ
kinh
tế,
dân
sự,
hành
chính
và
ngược
lại.
Với
vị
trí
công
tác
và
giới
hạn
của
bản
thân
tác
giả
thấy
cần
kiến
nghị
đối
với
liên
ngành
tố
tụng
Trung
ương
để
rà
soát,
sửa
đổi
một
số
điều
của
BLHS
hiện
hành
theo
hướng
Xoá
bỏ
một
số
tình
tiết
định
tội
và
tình
tiết
định
khung
hình
phạt
đối
với
một
số
tội
có
liên
quan
đến
Vũ
khí
quy
định
tại
các
Điều
134;
318…BLHS;
Liên
Ngành
trung
ương
cần
có
nghiên
cứu
thấu
đáo
và
có
chỉ
đạo,
hướng
dẫn
để
thống
nhất
thực
hiện
trong
giai
đoạn
hiện
tại.
Tác
giả
rất
mong
nhận
được
sự
trao
đổi,
góp
ý
của
các
đồng
nghiệp./.
Nguyễn
Hồng
Tư,
Nguyễn
Tiến
Đường
-
VKSND
Khu
vực
1
-
Tuyên
Quang