Trang nhất » Tin Tức » Xây dựng ngành

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 1616

   Khó khăn, vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng một số quy định của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 để xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người


Thứ sáu - 19/09/2025 15:26
 
Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 (Luật Số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024; viết tắt là Luật QLSDVKVLN và CCHT), có hiệu lực thi hành  từ ngày 01/01/2025 (Trừ một số điều đặc biệt Quy định tại Điều 17, Điều 32 và khoản 1 Điều 49 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025): Luật gồm 08 chương, 75 điều. Luật tổng hợp, điều chỉnh toàn diện về nội dung, định nghĩa, điều kiện sử dụng, quản lý và sử dụng Vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ và công cụ hỗ trợ; Xác định rõ phạm vi quản lý, giới hạn và nguyên tắc sử dụng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền con người và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; Giải thích rõ các thuật ngữ quan trọng như “Vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, súng săn”…cũng như quy định về những hành vi bị nghiêm cấm sử dụng công cụ này để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, sức khỏe, tài sản của người khác…

 
Trong phạm vi bài viết này tác giả nêu quan điểm, ý kiến giới hạn trong phạm vi quy định của Luật này về một loại công cụ, phương tiện rất đời thường và được sử dụng phổ biến hàng ngày trong mỗi gia đình chúng ta đó là Dao sắc, dao nhọn - “Dao có tính sát thương cao” và quan điểm, ý kiến của tác giả đối với việc xử lý trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với hành vi của người sử dụng Dao có tính sát thương cao thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật:
 
1. Trước tiên tác giả phân tích, làm rõ ranh giới, giới hạn để xác định khi nào thì “Dao có tính sát thương cao” là vũ khí quân dụng theo quy định của Luật QLSDVKVLN và CCHT:
 
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 thì “Vũ khí” bao gồm có vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và súng săn.
 
* Vũ khí quân dụng: Được liệt kê chi tiết từ Điểm a đến Điểm g Khoản 2 Điều 2. Trong đó, tại Điểm d quy định “d) dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật”; “Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành” (Khoản 6 Điều 2);
 
- Theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 6 và Phụ lục 5 Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật QLSDVKVLN và CCHT thì Dao có tính sát thương cao bao gồm “Dao sắc, nhọn”; “Dao sắc”; “Dao gấp, bấm” và “Dao tự chế hoặc hoán cải”;
 
* Với những quy định trên: Tác giả thấy rằng còn nhiều cách hiểu, ý kiến, quan điểm nhận diện về “Dao có tính sát thương”, trong đó có ý kiến, nhận thức cho rằng Luật quy định Dao có tính sát thương là vũ khí quân dụng là bao trùm quá rộng đến đời sống xã hội, nếu cứ là Dao sắc, nhọn ...thì đều là Vũ khí quân dụng, điều đó sẽ dẫn đến thực trạng là nhà đều đã và đang có hành vi tàng trữ, sử dụng vụ khí quân dụng; quy định của luật như vậy là bao trùm, liên quan đến rất nhiều hành vi như sản xuất, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng vũ khí quân dụng của toàn dân...sẽ áp dụng xử lý thế nào...?
 
* Tuy nhiên, theo quy định tại Điểm d Khoản 2 và Điểm b Khoản 4 Điều 2 của Luật QLSDVKVLN và CCHT thì: Dao có tính sát thương cao được xác định là vũ khí và chỉ khi xảy ra trong 02 trường hợp sau:
 
- Khi được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật (Điểm d Khoản 2);
 
- Khi được sử dụng vào mục đích để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ (Điểm b Khoản 4 Điều 2);
 
Như vậy, cùng là “Dao sắc, nhọn”; “Dao sắc”; “Dao gấp, bấm” và “Dao tự chế hoặc hoán cải” (Dao có tính sát thương cao) đơn thuần chỉ là công cụ, phương tiện lao động, sản xuất...được sử dụng hàng ngày của mỗi nhà và nó sẽ không thể trở thành vũ khí (vũ khí quân dụng hay vũ khí thô sơ) nếu như nó không được sử dụng vào mục đích thực hiện hành vi như quy định tại Điểm d Khoản 2 và Điểm b Khoản 4 Điều 2 của Luật này. Đến đây chúng ta đã nhận diện rõ điều kiện cần và đủ để xác định khi nào thì Dao có tính sát thương cao sẽ trở thành vũ khí quân dụng.
 
2. Tác giả xin đề cập đến những khó khăn, bất cập khi áp dụng Luật QLSDVKVLN và CCHT để xử lý trách nhiệm hình sự đối với một số trường hợp người sử dụng Dao có tính sát thương cao thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật (kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành)
 
2.1. Theo quy định của Luật trên và các văn bản hướng dẫn thi hành: Đối với người có hành vi sử dụng “dao có tính sát thương cao” thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về 02 tội: Tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo quy định của Điều 304 BLHS (kể cả trong trường hợp người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố về tội xâm phạm tính mạng,sức khỏe) và tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe tương ứng (nếu đủ yếu tố cấu thành).
 
2.2. Tuy nhiên, khi áp dụng để xử lý đối với hành vi phạm tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và tội Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng; Tội gây rối trật tự công cộng, trong một số trường hợp cụ thể có những bất cập, mâu thuẫn có thể dẫn đến oan, sai, cụ thể như sau:
 
* Vụ án 1: Do mâu thuẫn tranh chấp đất đai, ngày 10/7/2025 Nguyễn Văn A dùng Dao mổ lợn (Dao sắc, nhọn) chém B 01 nhát vào sườn trái, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với B là 10% (theo Kết luận giám định); Kết luận giám định xác định con dao A sử dụng gây thương tích cho B là Dao sắc, nhọn nên được xác định là vũ khí quân dụng trong vụ án này; B có đơn yêu cầu khởi tố vụ án đối với A: Áp dụng các quy định trên Cơ quan THTT sẽ truy cứu TNHS đối với A về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 134 BLHS (Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp quy định tại điểm a) Dùng vũ khí); Ngoài ra theo quy định của Luật QLSDVKVLN và CCHT và văn bản hướng dẫn thi hành thì Dao sắc, nhọn trong vụ án này được xác định là vũ khí quân dụng nên A sẽ bị Khởi tố vụ án, Khởi tố bị can thêm về tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo quy định của Điều 304 BLHS.
 
- Với các tình tiết của vụ án này: Do thương tích của B chỉ là 10%, nhưng do A sử dụng Dao sắc, nhọn được xác định là Vũ khí quân dụng, nên Cơ quan THTT sử dụng tình tiết “Dùng vũ khí” để làm tình tiết định tội danh đối với A về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 134 BLHS và cũng vẫn tình tiết “Dùng vũ khí” Cơ quan THTT sử dụng lại (Sử dụng 02 lần) để làm căn cứ định tội đối với A về Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo Điều 304 BLHS. Rõ ràng chỉ với duy nhất 01 tiết “Dùng vũ khí” Cơ quan THTT đã sử dụng 02 lần để cùng làm tình tiết định tội danh cho 02 tội khác nhau. Việc áp dụng pháp luật như trên đã làm tăng TNHS, gây bất lợi cho người phạm tội và trái với nguyên tắc của BLTTHS được quy định tại Điều 14 BLTTHS Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”, điều đó có thể dẫn đến nguy cơ oan, sai.
 
* Vụ án 2: Do mâu thuẫn khi ăn nhậu trong quán, ngày 12/7/2025 Trần Văn A chạy vào bếp của quán cầm ra 01 con Dao mổ lợn (Dao sắc, nhọn) chạy ra chém B 01 nhát vào đùi trái; đâm B 01 nhát vào sườn phải và chém 01 nhát vào lưng gây tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với B là 24% (theo Kết luận giám định); Con dao A dùng gây thương tích cho B được Kết luận giám định là dao sắc, nhọn.
 
- Theo quy định: Cơ quan THTT sẽ ra truy cứu TNHS đối với A về Tội cố ý gây thương tích …theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS (Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 134 BLHS (Dùng vũ khí); Ngoài ra A còn bị truy cứu TNHS thêm về tội Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo quy định của Điều 304 BLHS.
 
- Với tính chất và các tình tiết của vụ án này: CQĐT THTT đồng thời sử dụng cùng 01 tình tiết “Dùng vũ khí” vừa để làm tình tiết định khung tặng nặng đối với A về tội cố ý gây thương tích …theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS và cũng vẫn là tình tiết “Dùng vũ khí” trên để làm căn cứ định tội để truy cứu TNHS đối với A về tội Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo quy định của Điều 304 BLHS. Điều đó đồng nghĩa với việc Cơ quan THTT đã sử dụng cùng 01 tiết “Sử dụng vũ khí” vừa để làm căn cứ định khung tăng nặng, vừa làm căn cứ để định tội danh (01 tình tiết sử dụng 02 lần);
 
* Vụ án 3 (Tương tự như vụ án 2): Đối với tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 318 thì tình tiết “Dùng vũ khí” cũng được áp dụng 02 lần vừa là căn cứ định tội đối với tội Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng; vừa dùng làm căn cứ để định khung hình phạt tăng nặng đối với tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 318 BLHS;
 
Qua 03 vụ án trên: Việc các Cơ quan THTT áp dụng Luật QLSDVKVLN và CCHT và hướng dẫn thực hiện của liên ngành tố tụng Trung ương là đúng quy định. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật để xử lý TNHS trong 03 vụ án như trên sẽ làm tăng TNHS, gây bất lợi cho người phạm tội, đặc biệt trong vụ án 1 là trái với nguyên tắc của BLTTHS, có thể dẫn đến oan, sai.
 
3. Ngoài những nội dung trên tác giả xin đề cập đến một vướng mắc, khó khăn khác đó là:
 
- Để xác định Dao có tính sát thương cao có phải là vũ khí quân dụng hay không thì bắt buộc các cơ quan THTT phải ra quyết định trưng cầu giám định theo quy định tại Khoản 5 Điều 206 BLTTHS.
 
- Tuy nhiên, như trong 03 vụ án trên: Trong trường hợp sau khi gây án xong người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn khỏi hiện trường và cầm theo công cụ, phương tiện gây án - con dao sắc nhọn, sau đó đã ném xuống sông, Cơ quan điều đã áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định nhưng không thu giữ được con dao đó, do đó không có vật chứng để trưng cầu giám định. Vậy 03 vụ án trên sẽ áp dụng tình tiết định tội, định khung như thế nào để xử lý TNHS dối với A?
 
Qua nghiên cứu các quy định của Pháp luật; phân tích các tình huống, các vụ án trên, quan điểm của tác giả cho rằng những nội dung, khó khăn, bất cập nêu trên là vấn đề rất hệ trọng có thể dẫn đến một số nguy cơ: Chồng chéo trong việc định tội, không phận biệt giữa hành vi phạm tội độc lập với  hành vi đã bao hàm trong tội kia; tạo ra sự không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật; nguy cơ vi phạm nguyên tắc TTHS, nhân đôi TNHS gây tranh cãi và đặc biệt là nguy cơ có thể dẫn đến oan, sai.
 
Để thực hiện tốt nhiệm vụ của ngành theo Chỉ thị công tác của VKSND Tối cao, Viện KSND tỉnh Tuyên Quang và Kế hoạch công tác của đơn vị: Toàn Ngành Kiểm sát tiếp tục xác định chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu; Thực hành quyền công tố chủ động hơn với tinh thần 4S “sớm hơn, sát hơn, sâu hơn, sắc hơn”; không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự, hành chính và ngược lại. Với vị trí công tác và giới hạn của bản thân tác giả thấy cần kiến nghị đối với liên ngành tố tụng Trung ương để rà soát, sửa đổi một số điều của BLHS hiện hành theo hướng Xoá bỏ một số tình tiết định tội và tình tiết định khung hình phạt đối với một số tội có liên quan đến Vũ khí quy định tại các Điều 134; 318…BLHS; Liên Ngành trung ương cần có nghiên cứu thấu đáo và có chỉ đạo, hướng dẫn để thống nhất thực hiện trong giai đoạn hiện tại.
 
Tác giả rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý của các đồng nghiệp./.
  
Nguyễn Hồng Tư, Nguyễn Tiến Đường - VKSND Khu vực 1 - Tuyên Quang
Tổng số điểm của bài viết là: 25 trong 5 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top