Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
năm
2015
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2017)
có
hiệu
lực
thi
hành
từ
ngày
01/01/2018,
qua
thực
tiễn
thi
hành
bộ
luật
này
chúng
tôi
thấy
còn
có
một
số
bất
cập
cần
được
sửa
đổi,
bổ
sung
nhằm
cải
cách
thủ
tục
hành
chính
trong
lĩnh
vực
tố
tụng
hình
sự
và
không
bỏ
sót
một
số
căn
cứ
khi
áp
dụng
Bộ
luật
này.
Thứ
nhất:
Theo
quy
định
tại
khoản
3
Điều
29
Bộ
luật
Hình
sự
năm
2015,
sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2017
(viết
tắt
là
BLHS
năm
2015):
“Người
thực
hiện
tội
phạm
nghiêm
trọng
do
vô
ý
hoặc
tội
phạm
ít
nghiêm
trọng
gây
thiệt
hại
về
tính
mạng,
sức
khỏe,
danh
dự,
nhân
phẩm
hoặc
tài
sản
của
người
khác,
đã
tự
nguyện
sửa
chữa,
bồi
thường
thiệt
hại
hoặc
khắc
phục
hậu
quả
và
được
người
bị
hại
hoặc
người
đại
diện
hợp
pháp
của
người
bị
hại
tự
nguyện
hòa
giải
và
đề
nghị
miễn
trách
nhiệm
hình
sự,
thì
có
thể
được
miễn
trách
nhiệm
hình
sự”.
Còn
theo
quy
định
tại
Điều
157
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
năm
2015
(viết
tắt
là
BLTTHS
năm
2015):
“Điều
157.
Căn
cứ
không
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
Không
được
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
khi
có
một
trong
các
căn
cứ
sau:
1.
Không
có
sự
việc
phạm
tội;
2.
Hành
vi
không
cấu
thành
tội
phạm;
3.
Người
thực
hiện
hành
vi
nguy
hiểm
cho
xã
hội
chưa
đến
tuổi
chịu
trách
nhiệm
hình
sự;
4.
Người
mà
hành
vi
phạm
tội
của
họ
đã
có
bản
án
hoặc
quyết
định
đình
chỉ
vụ
án
có
hiệu
lực
pháp
luật;
5.
Đã
hết
thời
hiệu
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự;
6.
Tội
phạm
đã
được
đại
xá;
7.
Người
thực
hiện
hành
vi
nguy
hiểm
cho
xã
hội
đã
chết,
trừ
trường
hợp
cần
tái
thẩm
đối
với
người
khác;
8.
Tội
phạm
quy
định
tại
khoản
1
các
Điều
134,
135,
136,
138,
139,
141,
143,
155,
156
và
226
của
Bộ
luật
hình
sự
mà
bị
hại
hoặc
người
đại
diện
của
bị
hại
không
yêu
cầu
khởi
tố”.
Như
vậy
theo
quy
định
của
BLTTHS
năm
2015,
những
trường
hợp
không
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
không
có
quy
định
về
việc
được
miễn
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự,
do
đó
thực
tế
hiện
nay
trong
quá
trình
thụ
lý,
giải
quyết
nguồn
tin
về
tội
phạm,
nếu
người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
có
đủ
điều
kiện
để
được
miễn
trách
nhiệm
hình
sự
theo
quy
định
tại
khoản
3
Điều
29
BLHS
năm
2015
thì
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
vẫn
phải
ra
quyết
định
khởi
tố
vụ
án,
khởi
tố
bị
can
và
tiến
hành
một
số
hoạt
động
điều
tra,
sau
đó
mới
ra
quyết
định
đình
chỉ
điều
tra
vụ
án,
đình
chỉ
điều
tra
bị
can
với
căn
cứ
“được
miễn
trách
nhiệm
hình
sự”.
Qua
nghiên
cứu
chúng
tôi
thấy
quy
định
này
còn
thiếu
và
chưa
hợp
lý
vì
chỉ
cần
ra
quyết
định
không
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
với
lý
do
“thuộc
diện
được
miễn
trách
nhiệm
hình
sự”,
không
cần
phải
làm
các
bước
như
trên
thì
sẽ
giảm
bớt
thủ
tục,
thời
gian,
kinh
phí…
cho
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
phù
hợp
với
chủ
trương
“cải
cách,
giảm
bớt
thủ
tục
hành
chính”
hiện
nay.
Ngoài
ra,
còn
có
một
lý
do
quan
trọng
nữa
là
sẽ
có
lợi
cho
người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
vì
trong
lý
lịch
tư
pháp
của
họ
sẽ
không
có
“án
tích”.
Đây
là
tư
tưởng
nhân
văn,
tiến
bộ
đã
được
Hiến
pháp
quy
định.
Về
cơ
bản,
việc
vận
dụng
quy
định
tại
khoản
3
Điều
29
BLHS
năm
2015
để
miễn
trách
nhiệm
hình
sự
cho
người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
cần
được
thực
hiện
linh
hoạt,
phù
hợp
với
thực
tiễn
và
đặc
thù
của
từng
vụ
việc,
từng
nơi,
và
quan
trọng
nhất
là
sự
thống
nhất
quan
điểm
giữa
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
về
đường
lối
giải
quyết
vụ
án.
Trên
cơ
sở
đó,
cần
có
cách
thức
giải
quyết
và
áp
dụng
khoản
3
Điều
29
BLHS
năm
2015
hợp
lý,
hợp
tình
và
đúng
quy
định
của
pháp
luật,
tránh
áp
dụng
tràn
lan,
tùy
tiện…
Nói
cách
khác,
việc
áp
dụng
quy
định
này
cần
linh
hoạt,
đúng
pháp
luật,
tránh
cứng
nhắc,
hình
thức,
bảo
đảm
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
của
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Từ
những
phân
tích
trên
thấy
rằng
cơ
quan
lập
pháp
cần
bổ
sung
thêm
căn
cứ
ra
Quyết
định
không
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
theo
quy
định
tại
Điều
157
BLTTHS
năm
2015
theo
hướng:
“Người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
mà
người
đó
có
đủ
điều
kiện
được
miễn
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
theo
quy
định
tại
Điều
29
BLHS
năm
2015”
Thứ
hai:
Theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
148
BLTTHS
năm
2015:
“Điều
148.
Tạm
đình
chỉ
việc
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm,
kiến
nghị
khởi
tố
1.
Hết
thời
hạn
quy
định
tại
Điều
147
của
Bộ
luật
này,
cơ
quan
có
thẩm
quyền
giải
quyết
quyết
định
tạm
đình
chỉ
việc
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm,
kiến
nghị
khởi
tố
khi
thuộc
một
trong
các
trường
hợp:
a)
Đã
trưng
cầu
giám
định,
yêu
cầu
định
giá
tài
sản,
yêu
cầu
nước
ngoài
tương
trợ
tư
pháp
nhưng
chưa
có
kết
quả;
b)
Đã
yêu
cầu
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
cung
cấp
tài
liệu,
đồ
vật
quan
trọng
có
ý
nghĩa
quyết
định
đối
với
việc
khởi
tố
hoặc
không
khởi
tố
vụ
án
nhưng
chưa
có
kết
quả.
...”
Như
vậy
căn
cứ
để
tạm
đình
chỉ
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
hoặc
kiến
nghị
khởi
tố
chỉ
có:
Đã
trưng
cầu
giám
định,
yêu
cầu
định
giá
tài
sản,
yêu
cầu
nước
ngoài
tương
trợ
tư
pháp
nhưng
chưa
có
kết
quả;
đã
yêu
cầu
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
cung
cấp
tài
liệu,
đồ
vật
quan
trọng
có
ý
nghĩa
quyết
định
đối
với
việc
khởi
tố
hoặc
không
khởi
tố
vụ
án
nhưng
chưa
có
kết
quả.
Tuy
nhiên
qua
công
tác
thực
hành
quyền
công
tố,
kiểm
sát
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm,
chúng
tôi
thấy
có
một
số
vụ
việc
không
xác
định
người
bị
tố
giác
đang
ở
đâu
nên
Cơ
quan
Cảnh
sát
điều
tra
không
tiến
hành
lấy
lời
khai
người
bị
tố
giác
được,
do
vậy
chưa
xác
định
có
hành
vi
phạm
tội
hay
không.
Ví
dụ:
có
đơn
tố
giác
bị
lạm
dụng
tín
nhiệm
chiếm
đoạt
chiếc
tài
sản,
nhưng
Cơ
quan
Cảnh
sát
điều
tra
không
xác
định
được
tài
sản
đó
ở
đâu,
người
bị
tố
giác
ở
đâu,
ý
định
chiếm
đoạt
tài
sản
của
người
bị
tố
giác
có
trước
hay
sau
khi
nhận
được
tài
sản....
Từ
đó
không
có
căn
cứ
để
ra
quyết
định
khởi
tố
vụ
án
hay
không
khởi
tố
vụ
án
hình
sự.
Hiện
nay
khi
gặp
các
trường
hợp
nêu
trên
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
đang
áp
dụng
một
cách
“khiên
cưỡng”
theo
điểm
b
khoản
1
Điều
148
BLTTHS
“Đã
yêu
cầu
cá
nhân
cung
cấp
tài
liệu,
đồ
vật
quan
trọng
có
ý
nghĩa
quyết
định
đối
với
việc
khởi
tố
hoặc
không
khởi
tố
vụ
án
nhưng
chưa
có
kết
quả”
để
ra
quyết
định
tạm
đình
chỉ
giải
quyết
tố
giác
tin
báo
về
tội
phạm.
Từ
những
phân
tích
trên
thấy
rằng
cơ
quan
lập
pháp
cần
bổ
sung
thêm
căn
cứ
ra
quyết
định
tạm
đình
chỉ
việc
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm,
kiến
nghị
khởi
tố
theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
148
BLTTHS
năm
2015
theo
hướng:
“Khi
không
biết
rõ
người
bị
tố
giác
đang
ở
đâu
và
không
có
căn
cứ
ra
quyết
định
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
nhưng
đã
hết
thời
hạn
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm,
kiến
nghị
khởi
tố”.
Phạm
Việt
Hùng
-
VKSND
huyện
Sơn
Dương