Trong
hoạt
động
thi
hành
án
dân
sự,
việc
xác
định
đúng
điều
kiện
thi
hành
án
của
người
phải
thi
hành
án
có
ý
nghĩa
đặc
biệt
quan
trọng.
Việc
Cơ
quan
thi
hành
án
dân
sự
xác
định
và
đưa
vào
loại
việc
không
có
điều
kiện
thi
hành
còn
chiếm
tỷ
lệ
cao,
ảnh
hưởng
đến
hiệu
quả
công
tác
thi
hành
án
dân
sự.
Qua
công
tác
kiểm
sát,
tác
giả
trao
đổi
về
việc
có
xác
định
là
loại
việc
chưa
có
điều
kiện
thi
hành
án
hay
cần
xác
định
là
loại
việc
có
điều
kiện
thi
hành
án
và
ra
quyết
định
tiếp
tục
thi
hành
án,
thông
qua
vụ
việc
cụ
thể:
Năm
2018,
đương
sự
Lê
Thị
H
phải
chấp
hành
bản
án
của
Toà
án
nhân
dân
khu
vực
M,
theo
đó
đương
sự
có
nghĩa
vụ
trả
nợ
cho
ông
Nguyễn
Văn
H
số
tiền
45.000.000đ.
Sau
khi
Bản
án
có
hiệu
lực,
Cơ
quan
thi
hành
án
ra
Quyết
định
thi
hành
án
theo
yêu
cầu.
Hết
thời
hạn
tự
nguyện
thi
hành
án,
Cơ
quan
thi
hành
án
dân
sự
tiến
hành
xác
minh
đương
sự
không
có
tài
sản
chung,
tài
sản
riêng
gì,
gia
đình
đương
sự
có
06
người
(không
có
người
phụ
thuộc)
sống
trên
diện
tích
đất
của
bố,
mẹ
chồng;
đương
sự
là
giáo
viên
(viên
chức)
của
một
trường
THCS
trên
địa
bàn,
tiền
lương
hằng
tháng
đã
thế
chấp
ngân
hàng
(đương
sự
thế
chấp
lương
từ
31/8/2017
đến
31/8/2022),
trên
cơ
sở
đó
Cơ
quan
thi
hành
án
dân
sự
ra
Quyết
định
về
việc
chưa
có
điều
kiện
thi
hành
án
đối
với
đương
sự.
Ngày
14/5/2021,
tại
biên
bản
về
việc
giải
quyết
việc
thi
hành
án,
đương
sự
thể
hiện
đương
sự
vẫn
đang
thế
chấp
một
phần
lương
đối
với
ngân
hàng,
đồng
thời
đương
sự
tự
nguyện
để
cơ
quan
thi
hành
án
trừ
thu
nhập
tiền
lương
hằng
tháng
của
mình
để
thi
hành
các
quyết
định
của
Cơ
quan
thi
hành
án.
Ngày
17/5/2021,
cơ
quan
thi
hành
án
đã
ra
quyết
định
trừ
vào
thu
nhập
của
đương
sự
và
ra
Quyết
định
về
việc
tiếp
tục
thi
hành
án.
Từ
đó
đến
nay
mỗi
lần
khấu
trừ
thu
nhập
của
đương
sự,
Cơ
quan
thi
hành
án
lại
ra
Quyết
định
về
việc
tiếp
tục
thi
hành
án.
Nội
dung
vụ
việc
thi
hành
án
trên
có
những
quan
điểm
khác
nhau,
cụ
thể:
*
Quan
điểm
thứ
nhất
cho
rằng:
Tại
Điều
44a,
Luật
thi
hành
án
dân
sự
2014
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2025),
quy
định:
“1.
Căn
cứ
kết
quả
xác
minh
điều
kiện
thi
hành
án,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
dân
sự
ra
quyết
định
về
việc
chưa
có
điều
kiện
thi
hành
án
khi
thuộc
một
trong
các
trường
hợp
sau
đây:
a)
Người
phải
thi
hành
án
không
có
thu
nhập
hoặc
có
thu
nhập
chỉ
bảo
đảm
cuộc
sống
tối
thiểu
cho
người
phải
thi
hành
án,
người
mà
họ
có
trách
nhiệm
nuôi
dưỡng
và
không
có
tài
sản
để
thi
hành
án
hoặc
có
tài
sản
nhưng
giá
trị
tài
sản
chỉ
đủ
để
thanh
toán
chi
phí
cưỡng
chế
thi
hành
án
hoặc
tài
sản
theo
quy
định
của
pháp
luật
không
được
kê
biên,
xử
lý
để
thi
hành
án;
b)…”.
Sau
khi
khấu
trừ
thu
nhập
từng
tháng
của
đương
sự,
đương
sự
lại
quay
lại
là
người
không
có
điều
kiện
thi
hành,
số
thu
nhập
còn
lại
chỉ
đủ
điều
kiện
sống
tối
thiểu,
việc
tháng
sau
liền
kề
đương
sự
có
lương
do
Nhà
nước
chi
trả
thì
đương
sự
lại
là
người
có
điều
kiện
thi
hành
án,
đây
là
vòng
lặp
đi
lặp
lại
nên
đương
sự
vẫn
không
có
điều
kiện
thi
hành
sau
khi
cơ
quan
thi
hành
án
khấu
trừ
thu
nhập.
Quyết
định
về
việc
chưa
có
điều
kiện
đầu
tiên
có
hiệu
lực
thi
hành.
Việc
mỗi
lần
khấu
trừ
phải
ra
một
Quyết
định
về
việc
tiếp
tục
thi
hành
của
cơ
quan
thi
hành
án
là
đúng.
*
Quan
điểm
thứ
hai
cho
rằng:
Căn
cứ
điều
44a
Luật
thi
hành
án
dân
sự
2014
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2025),
đối
với
vụ
việc
cụ
thể
trên
thì
đương
sự
là
người
có
thu
nhập
ổn
định
từ
lương
do
Nhà
nước
chi
trả
(đương
sự
là
viên
chức,
số
tiền
lương
được
tính
dựa
trên
công
thức
Lương
cơ
sở
x
Hệ
số
lương
+
Phụ
cấp
(ưu
đãi,
thâm
niên...);
các
khoản
đóng
bảo
hiểm),
đương
sự
cũng
đồng
ý
để
cơ
quan
thi
hành
án
khấu
trừ
thu
nhập
hàng
tháng
của
mình
để
thực
hiện
nghĩa
vụ
thi
hành
án.
Do
vậy
xác
định
ở
đây
đương
sự
có
điều
kiện
thi
hành
án
(được
thể
hiện
bằng
việc
hàng
tháng
khấu
trừ
thu
nhập).
Đương
sự
có
lương
và
đồng
ý
khấu
trừ
thu
nhập
hàng
tháng
của
mình
nên
xác
định
đây
là
việc
thi
hành
theo
định
kỳ,
thường
xuyên
cho
đến
khi
đương
sự
thực
hiện
xong
nghĩa
vụ
của
mình
nên
Cơ
quan
thi
hành
án
chỉ
ra
Quyết
định
trừ
vào
thu
nhập
của
người
phải
thi
hành
án
(tỷ
lệ
%/
số
tiền
lương
thực
nhận
sau
khi
trừ
các
chi
phí
hợp
lý
khác)
và
một
Quyết
định
về
việc
tiếp
tục
thi
hành
án
cho
toàn
bộ
quá
trình
khấu
trừ
thu
nhập
của
đương
sự
đến
khi
thi
hành
xong
nghĩa
vụ
thi
hàn
án
của
mình.
Việc
Cơ
quan
thi
hành
án
dân
sự
xác
định
đương
sự
không
có
điều
kiện
thi
hành
và
mỗi
lần
khấu
trừ
phải
ra
một
Quyết
định
về
việc
tiếp
tục
thi
hành
của
cơ
quan
thi
hành
án
là
không
đúng.
Tác
giả
đồng
tình
với
quan
điểm
thứ
hai.
Căn
cứ
quy
định
tại
Điều
44a
Luật
thi
hành
án
dân
sự
2014
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2025),
xác
định
đương
sự
có
lương
ổn
định,
không
có
người
phụ
thuộc
nên
cần
xác
định
đương
sự
có
điều
kiện
thi
hành
án
và
ra
Quyết
định
về
việc
tiếp
tục
thi
hành
án
đối
với
đương
sự.
Trường
hợp
trong
tháng
khấu
trừ,
đương
sự
không
có
thu
nhập
để
khấu
trừ
(vì
lý
do
nào
đó)
thì
theo
quy
định
tại
Điều
44
Luật
thi
hành
án
dân
sự
2014
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2025),
Chấp
hành
viên
có
nghĩa
vụ
xác
minh
điều
kiện
thi
hành
án
và
báo
cáo
lãnh
đạo
ra
Quyết
định
về
việc
chưa
có
điều
kiện
thi
hành
án
đối
với
đương
sự.
Trên
đây
là
quan
điểm
trao
đổi
của
tác
giả
trong
xác
định
loại
việc
có
điều
kiện
thi
hành,
rất
mong
nhận
được
ý
kiến
tham
gia
của
bạn
đọc.
Thành
Thụy
–
Hoàng
Tùng
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
khu
vực
1