Đại
hội
đại
biểu
toàn
quốc
lần
thứ
XIII
Đảng
Cộng
sản
Việt
Nam
họp
từ
ngày
25/01/2021
đến
ngày
01/02/2021,
tại
Thủ
đô
Hà
Nội,
sau
khi
thảo
luận
các
văn
kiện
do
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng
khoá
XII
trình,
QUYẾT
NGHỊ
I-
Tán
thành
những
nội
dung
cơ
bản
về
đánh
giá
kết
quả
thực
hiện
Nghị
quyết
Đại
hội
XII
và
đánh
giá
chung
về
10
năm
thực
hiện
Cương
lĩnh
xây
dựng
đất
nước
trong
thời
kỳ
quá
độ
lên
chủ
nghĩa
xã
hội
năm
1991
(bổ
sung,
phát
triển
năm
2011),
10
năm
thực
hiện
Chiến
lược
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
2011
-
2020,
30
năm
thực
hiện
Cương
lĩnh
1991,
35
năm
thực
hiện
công
cuộc
đổi
mới;
định
hướng
phát
triển
và
phương
hướng,
nhiệm
vụ
phát
triển
đất
nước
trong
thời
gian
tới
nêu
trong
các
văn
kiện
của
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng
khoá
XII
trình
Đại
hội.
Cụ
thể
là:
1.
Kết
quả
thực
hiện
Nghị
quyết
Đại
hội
XII
Trong
nhiệm
kỳ
Đại
hội
XII,
nắm
bắt
thuận
lợi,
thời
cơ,
vượt
qua
khó
khăn,
thách
thức,
nhất
là
tác
động
nặng
nề
của
cuộc
khủng
hoảng,
suy
thoái
kinh
tế
toàn
cầu
do
đại
dịch
COVID-19;
toàn
Đảng,
toàn
dân,
toàn
quân
đã
đoàn
kết,
chung
sức,
đồng
lòng
nỗ
lực
phấn
đấu,
thực
hiện
thắng
lợi
các
mục
tiêu,
nhiệm
vụ,
đạt
được
nhiều
thành
tựu
rất
quan
trọng,
khá
toàn
diện,
tạo
nhiều
dấu
ấn
nổi
bật.
Kinh
tế
vĩ
mô
ổn
định,
lạm
phát
được
kiểm
soát,
tăng
trưởng
được
duy
trì
ở
mức
khá
cao;
tiềm
lực,
quy
mô
và
sức
cạnh
tranh
của
nền
kinh
tế
được
nâng
lên.
Các
lĩnh
vực
xã
hội,
môi
trường
có
nhiều
tiến
bộ.
Đời
sống
nhân
dân
được
cải
thiện
đáng
kể.
Công
tác
xây
dựng,
chỉnh
đốn
Đảng
và
xây
dựng
hệ
thống
chính
trị
được
đặc
biệt
chú
trọng,
triển
khai
toàn
diện,
đồng
bộ,
hiệu
quả.
Công
tác
kiểm
tra,
giám
sát,
kỷ
luật
và
đấu
tranh
phòng,
chống
tham
nhũng,
lãng
phí,
tiêu
cực
chuyển
biến
mạnh
mẽ,
có
bước
đột
phá
gắn
kết
chặt
chẽ
giữa
"xây"
và
"chống",
có
hiệu
quả,
ngày
càng
đi
vào
chiều
sâu.
Nhà
nước
pháp
quyền
xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam
không
ngừng
được
củng
cố
vững
mạnh.
Công
tác
lãnh
đạo
của
Đảng
với
Nhà
nước,
Mặt
trận
Tổ
quốc
Việt
Nam
và
các
tổ
chức
chính
trị
-
xã
hội
được
tăng
cường,
mối
quan
hệ
phối
hợp
ngày
càng
chặt
chẽ,
đồng
bộ.
Chính
trị
-
xã
hội
ổn
định;
quốc
phòng,
an
ninh
không
ngừng
được
củng
cố,
kiên
quyết,
kiên
trì
giữ
vững
độc
lập,
chủ
quyền,
thống
nhất
và
toàn
vẹn
lãnh
thổ,
lợi
ích
quốc
gia,
dân
tộc;
quan
hệ
đối
ngoại
và
hội
nhập
quốc
tế
ngày
càng
sâu
rộng
và
hiệu
quả;
vị
thế,
uy
tín
của
Việt
Nam
trên
trường
quốc
tế
được
nâng
cao.
Đặc
biệt,
trong
năm
2020,
đại
dịch
COVID-19
gây
ra
nhiều
thiệt
hại
về
kinh
tế
-
xã
hội,
song
nhờ
phát
huy
được
sức
mạnh
đại
đoàn
kết
toàn
dân
tộc,
sự
ưu
việt
của
chế
độ
xã
hội
chủ
nghĩa,
sự
tham
gia
đồng
bộ,
quyết
liệt
của
cả
hệ
thống
chính
trị
dưới
sự
lãnh
đạo
đúng
đắn
của
Đảng,
sự
đồng
lòng
ủng
hộ
của
nhân
dân,
đất
nước
ta
đã
từng
bước
kiểm
soát
có
hiệu
quả
đại
dịch
COVID-19;
từng
bước
phục
hồi
sản
xuất,
kinh
doanh
và
các
hoạt
động
kinh
tế
-
xã
hội;
ổn
định
đời
sống
nhân
dân;
góp
phần
củng
cố,
tăng
cường
niềm
tin
của
nhân
dân
đối
với
Đảng,
Nhà
nước
và
chế
độ
xã
hội
chủ
nghĩa;
khẳng
định
bản
lĩnh,
ý
chí,
truyền
thống
tốt
đẹp
của
nhân
dân
ta,
dân
tộc
ta.
Những
thành
tựu
đạt
được
5
năm
qua
là
kết
tinh
sức
sáng
tạo
của
quá
trình
phấn
đấu
liên
tục,
bền
bỉ
của
toàn
Đảng,
toàn
dân
và
toàn
quân
ta
qua
nhiều
nhiệm
kỳ
đại
hội,
góp
phần
tạo
nên
những
thành
tựu
to
lớn,
có
ý
nghĩa
lịch
sử
của
nước
ta
qua
35
năm
đổi
mới.
Đạt
được
những
thành
tựu
nêu
trên
có
nhiều
nguyên
nhân,
nhưng
nguyên
nhân
bao
trùm
và
quan
trọng
nhất
là
sự
đoàn
kết,
thống
nhất,
sự
lãnh
đạo,
chỉ
đạo
đúng
đắn,
kịp
thời,
có
hiệu
quả
của
Ban
Chấp
hành
Trung
ương,
Bộ
Chính
trị,
Ban
Bí
thư
và
các
cấp
uỷ
đảng
trong
việc
triển
khai
thực
hiện
toàn
diện,
đồng
bộ
Nghị
quyết
Đại
hội
lần
thứ
XII,
giải
quyết
kịp
thời,
có
hiệu
quả
nhiều
vấn
đề
mới
nảy
sinh
trong
thực
tiễn;
sự
quản
lý,
điều
hành
quyết
liệt
của
Chính
phủ
và
chính
quyền
các
cấp;
sự
nỗ
lực
đổi
mới
nội
dung
và
phương
thức
hoạt
động
của
Quốc
hội
và
Hội
đồng
nhân
dân
các
cấp;
sự
tham
gia
tích
cực
và
có
hiệu
quả
của
Mặt
trận
Tổ
quốc
và
các
tổ
chức
chính
trị
-
xã
hội;
sự
phối
hợp
đồng
bộ
của
cả
hệ
thống
chính
trị;
sự
nỗ
lực
của
đội
ngũ
cán
bộ,
đảng
viên;
tinh
thần
lao
động
tích
cực,
cần
cù,
sáng
tạo,
trách
nhiệm
của
cộng
đồng
doanh
nghiệp
và
các
tầng
lớp
nhân
dân;
sự
ủng
hộ
của
bạn
bè
quốc
tế.
Bên
cạnh
những
thành
tựu
đạt
được,
việc
hoàn
thiện
thể
chế,
đổi
mới
mô
hình
tăng
trưởng,
cơ
cấu
lại
nền
kinh
tế,
công
nghiệp
hoá,
hiện
đại
hoá
còn
chậm,
chưa
tạo
được
chuyển
biến
căn
bản;
năng
suất,
chất
lượng,
hiệu
quả
và
sức
cạnh
tranh
của
nền
kinh
tế
chưa
cao.
Giáo
dục
và
đào
tạo,
khoa
học
và
công
nghệ
chưa
trở
thành
động
lực
then
chốt
thúc
đẩy
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội.
Lĩnh
vực
văn
hoá,
xã
hội
chưa
có
nhiều
đột
phá,
hiệu
quả
chưa
cao;
đời
sống
của
một
bộ
phận
nhân
dân
còn
khó
khăn.
Quản
lý
tài
nguyên,
bảo
vệ
môi
trường
và
khả
năng
thích
ứng
với
biến
đổi
khí
hậu
còn
bất
cập.
Các
lĩnh
vực
quốc
phòng,
an
ninh,
đối
ngoại
còn
một
số
mặt
hạn
chế.
Sức
mạnh
đại
đoàn
kết
toàn
dân
tộc
và
dân
chủ
xã
hội
chủ
nghĩa
có
lúc,
có
nơi
chưa
được
quan
tâm
phát
huy
đầy
đủ.
Xây
dựng
Nhà
nước
pháp
quyền
xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam
có
mặt
chưa
đáp
ứng
tốt
yêu
cầu
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
và
quản
lý
đất
nước
trong
tình
hình
mới.
Công
tác
xây
dựng,
chỉnh
đốn
Đảng
còn
một
số
hạn
chế.
Mười
năm
thực
hiện
Cương
lĩnh
(bổ
sung,
phát
triển
năm
2011)
và
thực
hiện
Chiến
lược
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
10
năm
2011
-
2020
đã
tạo
những
tiến
bộ
quan
trọng
cả
về
nhận
thức
lý
luận
và
tổ
chức
thực
hiện,
khẳng
định
những
giá
trị
to
lớn
của
Cương
lĩnh,
tiếp
tục
khẳng
định
đường
lối
đổi
mới
của
Đảng
ta
là
đúng
đắn,
sáng
tạo.
Kinh
tế,
văn
hoá,
xã
hội
tiếp
tục
phát
triển,
quốc
phòng,
an
ninh,
đối
ngoại
được
tăng
cường,
đời
sống
vật
chất
và
tinh
thần
của
nhân
dân
được
cải
thiện
rõ
rệt.
Tuy
nhiên,
kinh
tế
-
xã
hội
phát
triển
chưa
tương
xứng
với
tiềm
năng,
lợi
thế
của
đất
nước
và
còn
nhiều
khó
khăn,
thách
thức.
Một
số
chỉ
tiêu
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
trong
Chiến
lược
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
10
năm
2011
-
2020
và
việc
tạo
nền
tảng
để
đưa
nước
ta
cơ
bản
trở
thành
nước
công
nghiệp
theo
hướng
hiện
đại
chưa
đạt
được
mục
tiêu
đề
ra.
Công
cuộc
đổi
mới
và
tình
hình
quốc
tế
tiếp
tục
đặt
ra
nhiều
vấn
đề
về
lý
luận
và
thực
tiễn
cần
phải
tập
trung
giải
quyết
để
đưa
đất
nước
phát
triển
nhanh
và
bền
vững
hơn
theo
định
hướng
xã
hội
chủ
nghĩa,
nhất
là
việc
nhận
thức,
giải
quyết
đúng,
hiệu
quả
các
mối
quan
hệ
lớn.
Nhìn
lại
35
năm
thực
hiện
công
cuộc
đổi
mới,
30
năm
thực
hiện
Cương
lĩnh
xây
dựng
đất
nước
trong
thời
kỳ
quá
độ
lên
chủ
nghĩa
xã
hội
(Cương
lĩnh
năm
1991),
lý
luận
về
đường
lối
đổi
mới,
về
chủ
nghĩa
xã
hội
và
con
đường
đi
lên
chủ
nghĩa
xã
hội
ở
nước
ta
ngày
càng
hoàn
thiện
và
từng
bước
được
hiện
thực
hoá.
Đất
nước
đã
đạt
được
những
thành
tựu
to
lớn,
có
ý
nghĩa
lịch
sử,
phát
triển
mạnh
mẽ,
toàn
diện
so
với
những
năm
trước
đổi
mới.
Quy
mô,
trình
độ
nền
kinh
tế
được
nâng
lên.
Đời
sống
nhân
dân
được
cải
thiện
rõ
rệt
cả
về
vật
chất
và
tinh
thần.
Đất
nước
ta
chưa
bao
giờ
có
được
cơ
đồ,
tiềm
lực,
vị
thế
và
uy
tín
quốc
tế
như
ngày
nay.
Những
thành
tựu
của
35
năm
thực
hiện
công
cuộc
đổi
mới,
30
năm
thực
hiện
Cương
lĩnh
năm
1991,
đặc
biệt,
trong
10
năm
thực
hiện
Cương
lĩnh
(bổ
sung,
phát
triển
năm
2011)
đã
tiếp
tục
khẳng
định
con
đường
đi
lên
chủ
nghĩa
xã
hội
của
nước
ta
là
phù
hợp
với
thực
tiễn
Việt
Nam
và
xu
thế
phát
triển
của
thời
đại;
sự
lãnh
đạo
đúng
đắn
của
Đảng
là
nhân
tố
hàng
đầu
quyết
định
thắng
lợi
của
cách
mạng
Việt
Nam.
Trong
bối
cảnh
tình
hình
thế
giới
có
nhiều
biến
động
nhanh,
phức
tạp,
Cương
lĩnh
của
Đảng
tiếp
tục
là
ngọn
cờ
tư
tưởng,
ngọn
cờ
chiến
đấu,
ngọn
cờ
quy
tụ
sức
mạnh
đại
đoàn
kết
toàn
dân
tộc
phấn
đấu
vì
một
nước
Việt
Nam
"dân
giàu,
nước
mạnh,
dân
chủ,
công
bằng,
văn
minh".
2.
Tầm
nhìn
và
định
hướng
phát
triển
Trong
những
năm
tới,
tình
hình
thế
giới
và
trong
nước
có
cả
thuận
lợi,
thời
cơ
và
khó
khăn,
thách
thức
đan
xen;
đặt
ra
nhiều
vấn
đề
mới,
yêu
cầu
mới
nặng
nề,
phức
tạp
hơn
đối
với
sự
nghiệp
xây
dựng
và
bảo
vệ
Tổ
quốc;
đòi
hỏi
toàn
Đảng,
toàn
dân,
toàn
quân
ta
phải
đoàn
kết
một
lòng;
tiếp
tục
đổi
mới
mạnh
mẽ
tư
duy;
có
quyết
tâm
chính
trị
cao;
dự
báo
chính
xác,
kịp
thời
diễn
biến
của
tình
hình;
chủ
động
ứng
phó
kịp
thời
với
mọi
tình
huống;
nỗ
lực
hơn
nữa
để
tiếp
tục
đẩy
mạnh
toàn
diện,
đồng
bộ
công
cuộc
đổi
mới;
không
ngừng
gia
tăng
tiềm
lực
mọi
mặt
của
quốc
gia,
bảo
vệ
vững
chắc
Tổ
quốc
và
những
thành
quả
phát
triển
đã
đạt
được;
đưa
đất
nước
vững
bước
tiến
lên,
phát
triển
nhanh
và
bền
vững;
quyết
tâm
thực
hiện
thắng
lợi
các
quan
điểm,
mục
tiêu,
định
hướng
và
nhiệm
vụ
trọng
tâm
sau:
Quan
điểm
chỉ
đạo:
-
Kiên
định
và
vận
dụng,
phát
triển
sáng
tạo
chủ
nghĩa
Mác
-
Lênin,
tư
tưởng
Hồ
Chí
Minh;
kiên
định
mục
tiêu
độc
lập
dân
tộc
và
chủ
nghĩa
xã
hội;
kiên
định
đường
lối
đổi
mới
của
Đảng;
kiên
định
các
nguyên
tắc
xây
dựng
Đảng
để
xây
dựng
và
bảo
vệ
vững
chắc
Tổ
quốc
Việt
Nam
xã
hội
chủ
nghĩa.
-
Bảo
đảm
cao
nhất
lợi
ích
quốc
gia
-
dân
tộc
trên
cơ
sở
các
nguyên
tắc
cơ
bản
của
Hiến
chương
Liên
Hợp
Quốc
và
luật
pháp
quốc
tế,
bình
đẳng,
hợp
tác,
cùng
có
lợi.
Tiếp
tục
phát
triển
nhanh
và
bền
vững
đất
nước;
gắn
kết
chặt
chẽ
và
triển
khai
đồng
bộ
các
nhiệm
vụ,
trong
đó
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
là
trung
tâm;
xây
dựng
Đảng
là
then
chốt;
phát
triển
văn
hoá
là
nền
tảng
tinh
thần;
bảo
đảm
quốc
phòng,
an
ninh
là
trọng
yếu,
thường
xuyên.
-
Khơi
dậy
mạnh
mẽ
tinh
thần
yêu
nước,
ý
chí
tự
cường
dân
tộc,
sức
mạnh
đại
đoàn
kết
toàn
dân
tộc
và
khát
vọng
phát
triển
đất
nước
phồn
vinh,
hạnh
phúc;
phát
huy
dân
chủ
xã
hội
chủ
nghĩa,
sức
mạnh
tổng
hợp
của
cả
hệ
thống
chính
trị
và
của
nền
văn
hoá,
con
người
Việt
Nam,
bồi
dưỡng
sức
dân,
nâng
cao
chất
lượng
nguồn
nhân
lực,
có
cơ
chế
đột
phá
để
thu
hút,
trọng
dụng
nhân
tài,
thúc
đẩy
đổi
mới
sáng
tạo,
ứng
dụng
mạnh
mẽ
khoa
học
và
công
nghệ,
nhất
là
những
thành
tựu
của
cuộc
cách
mạng
công
nghiệp
lần
thứ
tư,
tạo
động
lực
mạnh
mẽ
cho
phát
triển
nhanh
và
bền
vững.
-
Kết
hợp
sức
mạnh
dân
tộc
với
sức
mạnh
thời
đại;
nêu
cao
ý
chí
độc
lập,
tự
chủ,
chủ
động,
tích
cực
hội
nhập
và
nâng
cao
hiệu
quả
hợp
tác
quốc
tế;
phát
huy
tối
đa
nội
lực,
tranh
thủ
ngoại
lực,
trong
đó
nguồn
lực
nội
sinh,
nhất
là
nguồn
lực
con
người
là
quan
trọng
nhất.
-
Tăng
cường
xây
dựng,
chỉnh
đốn
Đảng,
phát
huy
bản
chất
giai
cấp
công
nhân
của
Đảng,
nâng
cao
năng
lực
lãnh
đạo,
năng
lực
cầm
quyền
và
sức
chiến
đấu
của
Đảng;
xây
dựng
Đảng
và
hệ
thống
chính
trị
trong
sạch,
vững
mạnh
toàn
diện,
xây
dựng
Nhà
nước
tinh
gọn,
hoạt
động
hiệu
lực,
hiệu
quả;
gắn
với
tinh
giản
biên
chế,
nâng
cao
chất
lượng
và
cơ
cấu
lại
đội
ngũ
cán
bộ,
công
chức,
viên
chức;
xây
dựng
đội
ngũ
cán
bộ,
đảng
viên,
nhất
là
đội
ngũ
cán
bộ
cấp
chiến
lược,
người
đứng
đầu
đủ
phẩm
chất,
năng
lực
và
uy
tín,
ngang
tầm
nhiệm
vụ,
gắn
bó
mật
thiết
với
nhân
dân
là
những
nhân
tố
có
ý
nghĩa
quyết
định
thành
công
sự
nghiệp
xây
dựng,
phát
triển
đất
nước
và
bảo
vệ
Tổ
quốc.
Mục
tiêu
tổng
quát:
Nâng
cao
năng
lực
lãnh
đạo,
năng
lực
cầm
quyền
và
sức
chiến
đấu
của
Đảng;
xây
dựng
Đảng
và
hệ
thống
chính
trị
trong
sạch,
vững
mạnh
toàn
diện;
củng
cố,
tăng
cường
niềm
tin
của
nhân
dân
đối
với
Đảng,
Nhà
nước,
chế
độ
xã
hội
chủ
nghĩa;
khơi
dậy
khát
vọng
phát
triển
đất
nước
phồn
vinh,
hạnh
phúc,
phát
huy
ý
chí
và
sức
mạnh
đại
đoàn
kết
toàn
dân
tộc
kết
hợp
với
sức
mạnh
thời
đại;
đẩy
mạnh
toàn
diện,
đồng
bộ
công
cuộc
đổi
mới,
công
nghiệp
hoá,
hiện
đại
hoá;
xây
dựng
và
bảo
vệ
vững
chắc
Tổ
quốc,
giữ
vững
môi
trường
hoà
bình,
ổn
định;
phấn
đấu
đến
giữa
thế
kỷ
XXI,
nước
ta
trở
thành
nước
phát
triển,
theo
định
hướng
xã
hội
chủ
nghĩa.
Mục
tiêu
cụ
thể:
-
Đến
năm
2025,
kỷ
niệm
50
năm
giải
phóng
hoàn
toàn
miền
Nam,
thống
nhất
đất
nước:
Là
nước
đang
phát
triển,
có
công
nghiệp
theo
hướng
hiện
đại,
vượt
qua
mức
thu
nhập
trung
bình
thấp.
-
Đến
năm
2030,
kỷ
niệm
100
năm
thành
lập
Đảng:
Là
nước
đang
phát
triển,
có
công
nghiệp
hiện
đại,
thu
nhập
trung
bình
cao.
-
Đến
năm
2045,
kỷ
niệm
100
năm
thành
lập
nước
Việt
Nam
Dân
chủ
Cộng
hoà,
nay
là
nước
Cộng
hoà
xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam:
Trở
thành
nước
phát
triển,
thu
nhập
cao.
Định
hướng
các
chỉ
tiêu
chủ
yếu
về
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
5
năm
2021
-
2025:
Về
kinh
tế:
Tốc
độ
tăng
trưởng
kinh
tế
(GDP)
bình
quân
5
năm
đạt
khoảng
6,5
-
7%/năm.
Đến
năm
2025,
GDP
bình
quân
đầu
người
khoảng
4.700
-
5.000
USD;
đóng
góp
của
năng
suất
các
nhân
tố
tổng
hợp
(TFP)
vào
tăng
trưởng
đạt
khoảng
45%;
tốc
độ
tăng
năng
suất
lao
động
xã
hội
bình
quân
trên
6,5%/năm;
tỉ
lệ
đô
thị
hoá
khoảng
45%;
tỉ
trọng
công
nghiệp
chế
biến,
chế
tạo
trong
GDP
đạt
trên
25%;
kinh
tế
số
đạt
khoảng
20%
GDP.
Về
xã
hội:
Đến
năm
2025,
tỉ
trọng
lao
động
nông
nghiệp
trong
tổng
lao
động
xã
hội
khoảng
25%;
tỉ
lệ
lao
động
qua
đào
tạo
là
70%;
tỉ
lệ
thất
nghiệp
ở
khu
vực
thành
thị
năm
2025
dưới
4%;
tỉ
lệ
nghèo
đa
chiều
duy
trì
mức
giảm
1
-
1,5%
hằng
năm;
có
10
bác
sĩ
và
30
giường
bệnh/1
vạn
dân;
tỉ
lệ
tham
gia
bảo
hiểm
y
tế
đạt
95%
dân
số;
tuổi
thọ
trung
bình
đạt
khoảng
74,5
tuổi;
tỉ
lệ
xã
đạt
tiêu
chuẩn
nông
thôn
mới
tối
thiểu
80%,
trong
đó
ít
nhất
10%
đạt
chuẩn
nông
thôn
mới
kiểu
mẫu.
Về
môi
trường:
Đến
năm
2025,
tỉ
lệ
sử
dụng
nước
sạch,
nước
hợp
vệ
sinh
của
dân
cư
thành
thị
là
95
-
100%,
nông
thôn
là
93
-
95%;
tỉ
lệ
thu
gom
và
xử
lý
chất
thải
rắn
sinh
hoạt
đô
thị
bảo
đảm
tiêu
chuẩn,
quy
chuẩn
đạt
90%;
tỉ
lệ
khu
công
nghiệp,
khu
chế
xuất
đang
hoạt
động
có
hệ
thống
xử
lý
nước
thải
tập
trung
đạt
tiêu
chuẩn
môi
trường
là
92%;
tỉ
lệ
cơ
sở
gây
ô
nhiễm
môi
trường
nghiêm
trọng
được
xử
lý
đạt
100%;
giữ
tỉ
lệ
che
phủ
rừng
ổn
định
42%.
Định
hướng
phát
triển
đất
nước
giai
đoạn
2021
-
2030:
(1)
Tiếp
tục
đổi
mới
mạnh
mẽ
tư
duy,
xây
dựng,
hoàn
thiện
đồng
bộ
thể
chế
phát
triển
bền
vững
về
kinh
tế,
chính
trị,
văn
hoá,
xã
hội,
môi
trường...,
tháo
gỡ
kịp
thời
những
khó
khăn,
vướng
mắc;
khơi
dậy
mọi
tiềm
năng
và
nguồn
lực,
tạo
động
lực
mới
cho
sự
phát
triển
nhanh
và
bền
vững
đất
nước.
(2)
Hoàn
thiện
toàn
diện,
đồng
bộ
thể
chế
phát
triển
nền
kinh
tế
thị
trường
định
hướng
xã
hội
chủ
nghĩa,
tạo
môi
trường
thuận
lợi
để
huy
động,
phân
bổ
và
sử
dụng
có
hiệu
quả
các
nguồn
lực,
thúc
đẩy
đầu
tư,
sản
xuất
kinh
doanh.
Bảo
đảm
ổn
định
kinh
tế
vĩ
mô,
đổi
mới
mạnh
mẽ
mô
hình
tăng
trưởng,
cơ
cấu
lại
nền
kinh
tế,
đẩy
mạnh
công
nghiệp
hoá,
hiện
đại
hoá
đất
nước;
tập
trung
xây
dựng
kết
cấu
hạ
tầng
và
phát
triển
đô
thị;
phát
triển
kinh
tế
nông
thôn
gắn
với
xây
dựng
nông
thôn
mới;
ưu
tiên
nguồn
lực
phát
triển
hạ
tầng
nông
thôn
miền
núi,
vùng
dân
tộc
thiểu
số;
đẩy
mạnh
chuyển
đổi
số
quốc
gia,
phát
triển
kinh
tế
số
trên
nền
tảng
khoa
học
và
công
nghệ,
đổi
mới
sáng
tạo;
nâng
cao
năng
suất,
chất
lượng,
hiệu
quả
và
sức
cạnh
tranh
của
nền
kinh
tế,
gắn
kết
hài
hoà,
hiệu
quả
thị
trường
trong
nước
và
quốc
tế.
(3)
Tạo
đột
phá
trong
đổi
mới
căn
bản,
toàn
diện
giáo
dục
và
đào
tạo,
phát
triển
nguồn
nhân
lực
chất
lượng
cao,
thu
hút
và
trọng
dụng
nhân
tài.
Thúc
đẩy
nghiên
cứu,
chuyển
giao,
ứng
dụng
mạnh
mẽ
thành
tựu
của
cuộc
Cách
mạng
công
nghiệp
lần
thứ
tư
vào
mọi
lĩnh
vực
của
đời
sống
xã
hội,
chú
trọng
một
số
ngành,
lĩnh
vực
trọng
điểm,
có
tiềm
năng,
lợi
thế
để
làm
động
lực
cho
tăng
trưởng
theo
tinh
thần
bắt
kịp,
tiến
cùng
và
vượt
lên
ở
một
số
lĩnh
vực
so
với
khu
vực
và
thế
giới.
(4)
Phát
triển
con
người
toàn
diện
và
xây
dựng
nền
văn
hoá
Việt
Nam
tiên
tiến,
đậm
đà
bản
sắc
dân
tộc
để
văn
hoá
thực
sự
trở
thành
sức
mạnh
nội
sinh,
động
lực
phát
triển
đất
nước
và
bảo
vệ
Tổ
quốc.
Tăng
đầu
tư
cho
phát
triển
sự
nghiệp
văn
hoá.
Xây
dựng,
phát
triển,
tạo
môi
trường
và
điều
kiện
xã
hội
thuận
lợi
nhất
để
khơi
dậy
truyền
thống
yêu
nước,
niềm
tự
hào
dân
tộc,
niềm
tin,
khát
vọng
phát
triển
đất
nước
phồn
vinh,
hạnh
phúc;
tài
năng,
trí
tuệ,
phẩm
chất
của
con
người
Việt
Nam
là
trung
tâm,
mục
tiêu
và
động
lực
phát
triển
quan
trọng
nhất
của
đất
nước.
(5)
Quản
lý
phát
triển
xã
hội
có
hiệu
quả,
nghiêm
minh,
bảo
đảm
an
ninh
xã
hội,
an
ninh
con
người;
thực
hiện
tiến
bộ
và
công
bằng
xã
hội;
xây
dựng
môi
trường
văn
hoá,
đạo
đức
xã
hội
lành
mạnh,
văn
minh;
chú
trọng
nâng
cao
chất
lượng
dịch
vụ
y
tế,
chất
lượng
dân
số,
gắn
dân
số
với
phát
triển;
quan
tâm
đến
mọi
người
dân,
bảo
đảm
chính
sách
lao
động,
việc
làm,
thu
nhập,
thực
hiện
tốt
phúc
lợi
xã
hội,
an
sinh
xã
hội.
Không
ngừng
cải
thiện
toàn
diện
đời
sống
vật
chất
và
tinh
thần
của
nhân
dân.
(6)
Chủ
động
thích
ứng
có
hiệu
quả
với
biến
đổi
khí
hậu,
phòng,
chống
và
giảm
nhẹ
thiên
tai,
dịch
bệnh,
quản
lý,
khai
thác,
sử
dụng
hợp
lý,
tiết
kiệm,
hiệu
quả
và
bền
vững
tài
nguyên;
lấy
bảo
vệ
môi
trường
sống
và
sức
khoẻ
nhân
dân
làm
mục
tiêu
hàng
đầu;
kiên
quyết
loại
bỏ
những
dự
án
gây
ô
nhiễm
môi
trường,
bảo
đảm
chất
lượng
môi
trường
sống,
bảo
vệ
đa
dạng
sinh
học
và
hệ
sinh
thái;
xây
dựng
nền
kinh
tế
xanh,
kinh
tế
tuần
hoàn,
thân
thiện
với
môi
trường.
(7)
Kiên
quyết,
kiên
trì
bảo
vệ
vững
chắc
độc
lập,
chủ
quyền,
thống
nhất,
toàn
vẹn
lãnh
thổ
của
Tổ
quốc;
bảo
vệ
Đảng,
Nhà
nước,
nhân
dân
và
chế
độ
xã
hội
chủ
nghĩa.
Giữ
vững
an
ninh
chính
trị,
bảo
đảm
trật
tự,
an
toàn
xã
hội,
an
ninh
con
người,
an
ninh
kinh
tế,
an
ninh
mạng,
xây
dựng
xã
hội
trật
tự,
kỷ
cương.
Chủ
động
ngăn
ngừa
các
nguy
cơ
chiến
tranh,
xung
đột
từ
sớm,
từ
xa;
phát
hiện
sớm
và
xử
lý
kịp
thời
những
yếu
tố
bất
lợi,
nhất
là
những
yếu
tố
nguy
cơ
gây
đột
biến;
đẩy
mạnh
đấu
tranh
làm
thất
bại
mọi
âm
mưu
và
hoạt
động
chống
phá
của
các
thế
lực
thù
địch.
(8)
Tiếp
tục
thực
hiện
đường
lối
đối
ngoại
độc
lập,
tự
chủ,
đa
phương
hoá,
đa
dạng
hoá;
chủ
động
và
tích
cực
hội
nhập
quốc
tế
toàn
diện,
sâu
rộng,
có
hiệu
quả;
giữ
vững
môi
trường
hoà
bình,
ổn
định,
không
ngừng
nâng
cao
vị
thế,
uy
tín
quốc
tế
của
Việt
Nam.
(9)
Thực
hành
và
phát
huy
rộng
rãi
dân
chủ
xã
hội
chủ
nghĩa,
quyền
làm
chủ
và
vai
trò
tự
quản
của
nhân
dân;
phát
huy
sức
mạnh
đại
đoàn
kết
toàn
dân
tộc;
củng
cố,
nâng
cao
niềm
tin
của
nhân
dân,
tăng
cường
đồng
thuận
xã
hội;
tiếp
tục
đổi
mới
tổ
chức,
nội
dung,
phương
thức
hoạt
động
của
Mặt
trận
Tổ
quốc
Việt
Nam
và
các
tổ
chức
chính
trị
-
xã
hội.
(10)
Xây
dựng
và
hoàn
thiện
Nhà
nước
pháp
quyền
xã
hội
chủ
nghĩa
trong
sạch,
vững
mạnh,
tinh
gọn,
hoạt
động
hiệu
lực,
hiệu
quả,
vì
nhân
dân
phục
vụ
và
vì
sự
phát
triển
của
đất
nước.
Tăng
cường
công
khai,
minh
bạch,
trách
nhiệm
giải
trình;
kiểm
soát
quyền
lực
gắn
với
siết
chặt
kỷ
cương,
kỷ
luật
trong
hoạt
động
của
Nhà
nước
và
của
cán
bộ,
công
chức,
viên
chức.
Tiếp
tục
đẩy
mạnh
đấu
tranh
phòng,
chống
tham
nhũng,
lãng
phí,
quan
liêu,
tội
phạm
và
tệ
nạn
xã
hội.
(11)
Tiếp
tục
xây
dựng,
chỉnh
đốn
Đảng
toàn
diện;
tăng
cường
bản
chất
giai
cấp
công
nhân
của
Đảng;
đổi
mới
phương
thức
lãnh
đạo,
nâng
cao
năng
lực
lãnh
đạo,
cầm
quyền
của
Đảng;
xây
dựng
hệ
thống
chính
trị
trong
sạch,
vững
mạnh,
tinh
gọn,
hoạt
động
hiệu
lực,
hiệu
quả;
xây
dựng
đội
ngũ
cán
bộ,
đảng
viên,
công
chức,
viên
chức,
nhất
là
cán
bộ
cấp
chiến
lược,
người
đứng
đầu
có
đủ
phẩm
chất,
năng
lực
và
uy
tín,
ngang
tầm
nhiệm
vụ;
làm
tốt
công
tác
tư
tưởng,
lý
luận;
chú
trọng
công
tác
bảo
vệ
Đảng,
bảo
vệ
chính
trị
nội
bộ;
tăng
cường
công
tác
kiểm
tra,
giám
sát,
kỷ
luật,
công
tác
đấu
tranh
phòng,
chống
tham
nhũng
và
công
tác
dân
vận
của
Đảng.
(12)
Tiếp
tục
nắm
vững
và
xử
lý
tốt
các
quan
hệ
lớn:
Quan
hệ
giữa
ổn
định,
đổi
mới
và
phát
triển;
giữa
đổi
mới
kinh
tế
và
đổi
mới
chính
trị;
giữa
tuân
theo
các
quy
luật
thị
trường
và
bảo
đảm
định
hướng
xã
hội
chủ
nghĩa;
giữa
phát
triển
lực
lượng
sản
xuất
và
xây
dựng,
hoàn
thiện
từng
bước
quan
hệ
sản
xuất
xã
hội
chủ
nghĩa;
giữa
Nhà
nước,
thị
trường
và
xã
hội;
giữa
tăng
trưởng
kinh
tế
và
phát
triển
văn
hoá,
thực
hiện
tiến
bộ,
công
bằng
xã
hội,
bảo
vệ
môi
trường;
giữa
xây
dựng
và
bảo
vệ
Tổ
quốc
Việt
Nam
xã
hội
chủ
nghĩa;
giữa
độc
lập,
tự
chủ
và
hội
nhập
quốc
tế;
giữa
Đảng
lãnh
đạo,
Nhà
nước
quản
lý
và
nhân
dân
làm
chủ;
giữa
thực
hành
dân
chủ
và
tăng
cường
pháp
chế,
bảo
đảm
kỷ
cương
xã
hội.
Trong
nhận
thức
và
giải
quyết
các
quan
hệ
lớn,
cần
chú
trọng
hơn
đến
bảo
đảm
định
hướng
xã
hội
chủ
nghĩa;
xây
dựng,
hoàn
thiện
quan
hệ
sản
xuất
tiến
bộ,
phù
hợp;
phát
triển
văn
hoá,
thực
hiện
tiến
bộ
và
công
bằng
xã
hội,
bảo
vệ
môi
trường;
bảo
vệ
Tổ
quốc
xã
hội
chủ
nghĩa;
giữ
vững
độc
lập,
tự
chủ
và
phát
huy
quyền
làm
chủ
của
nhân
dân.
Nhiệm
vụ
trọng
tâm
trong
nhiệm
kỳ
Đại
hội
XIII:
(1)
Tiếp
tục
đẩy
mạnh
xây
dựng,
chỉnh
đốn
Đảng,
xây
dựng
Nhà
nước
pháp
quyền
xã
hội
chủ
nghĩa
và
hệ
thống
chính
trị
toàn
diện,
trong
sạch,
vững
mạnh.
Đổi
mới
phương
thức
lãnh
đạo,
cầm
quyền
của
Đảng.
Xây
dựng
tổ
chức
bộ
máy
của
hệ
thống
chính
trị
tinh
gọn,
hoạt
động
hiệu
lực,
hiệu
quả.
Tiếp
tục
đẩy
mạnh
đấu
tranh
phòng,
chống
quan
liêu,
tham
nhũng,
lãng
phí,
tiêu
cực,
"lợi
ích
nhóm",
những
biểu
hiện
"tự
diễn
biến",
"tự
chuyển
hoá"
trong
nội
bộ.
Xây
dựng
đội
ngũ
đảng
viên
và
cán
bộ
các
cấp,
nhất
là
cấp
chiến
lược,
người
đứng
đầu
đủ
phẩm
chất,
năng
lực,
uy
tín,
ngang
tầm
nhiệm
vụ.
Củng
cố
lòng
tin,
sự
gắn
bó
của
nhân
dân
với
Đảng,
Nhà
nước,
chế
độ
xã
hội
chủ
nghĩa.
(2)
Tập
trung
kiểm
soát
đại
dịch
COVID-19,
tiêm
chủng
đại
trà
vắc-xin
COVID-19
cho
cộng
đồng;
phục
hồi,
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội,
đổi
mới
mạnh
mẽ
mô
hình
tăng
trưởng,
cơ
cấu
lại
nền
kinh
tế,
xây
dựng,
hoàn
thiện
đồng
bộ
thể
chế
phát
triển
phù
hợp
với
nền
kinh
tế
thị
trường
đầy
đủ,
hiện
đại,
hội
nhập;
phát
triển
đồng
bộ
và
tạo
ra
sự
liên
kết
giữa
các
khu
vực,
các
vùng,
các
thành
phần
kinh
tế,
các
loại
hình
sản
xuất
kinh
doanh;
có
chính
sách
hỗ
trợ
hiệu
quả
doanh
nghiệp
trong
nông
nghiệp;
đẩy
mạnh
nghiên
cứu,
chuyển
giao,
ứng
dụng
tiến
bộ
khoa
học
và
công
nghệ,
đổi
mới
sáng
tạo,
nhất
là
những
thành
tựu
của
cuộc
cách
mạng
công
nghiệp
lần
thứ
tư,
thực
hiện
chuyển
đổi
số
quốc
gia,
phát
triển
kinh
tế
số,
nâng
cao
năng
suất,
chất
lượng,
hiệu
quả,
sức
cạnh
tranh
của
nền
kinh
tế;
huy
động,
phân
bổ,
sử
dụng
có
hiệu
quả
các
nguồn
lực,
tạo
động
lực
để
phát
triển
kinh
tế
nhanh
và
bền
vững;
hoàn
thiện
hệ
thống
pháp
luật,
nhất
là
pháp
luật
về
bảo
hộ
sở
hữu
trí
tuệ
và
giải
quyết
các
tranh
chấp
dân
sự,
khắc
phục
những
điểm
nghẽn
cản
trở
sự
phát
triển
của
đất
nước.
(3)
Giữ
vững
độc
lập,
tự
chủ,
tiếp
tục
nâng
cao
chất
lượng,
hiệu
quả
hoạt
động
đối
ngoại,
hội
nhập
quốc
tế;
tăng
cường
tiềm
lực
quốc
phòng,
an
ninh,
xây
dựng
Quân
đội
nhân
dân,
Công
an
nhân
dân
cách
mạng,
chính
quy,
tinh
nhuệ,
từng
bước
hiện
đại,
một
số
lực
lượng
tiến
thẳng
lên
hiện
đại,
tạo
tiền
đề
vững
chắc
phấn
đấu
năm
2030
xây
dựng
Quân
đội
nhân
dân,
Công
an
nhân
dân
cách
mạng,
chính
quy,
tinh
nhuệ,
hiện
đại;
kiên
quyết,
kiên
trì
bảo
vệ
vững
chắc
độc
lập,
chủ
quyền,
thống
nhất,
toàn
vẹn
lãnh
thổ,
biển,
đảo,
vùng
trời;
giữ
vững
môi
trường
hoà
bình,
ổn
định
để
phát
triển
đất
nước.
(4)
Khơi
dậy
khát
vọng
phát
triển
đất
nước
phồn
vinh,
hạnh
phúc;
phát
huy
giá
trị
văn
hoá,
sức
mạnh
con
người
Việt
Nam
trong
sự
nghiệp
xây
dựng
và
bảo
vệ
Tổ
quốc,
hội
nhập
quốc
tế;
có
chính
sách
cụ
thể
phát
triển
văn
hoá
đồng
bào
dân
tộc
thiểu
số;
thực
hiện
tốt
chính
sách
xã
hội,
bảo
đảm
an
ninh
xã
hội,
an
ninh
con
người,
tạo
chuyển
biến
mạnh
mẽ
trong
quản
lý
phát
triển
xã
hội,
thực
hiện
tiến
bộ,
công
bằng
xã
hội,
nâng
cao
chất
lượng
cuộc
sống
và
chỉ
số
hạnh
phúc
của
con
người
Việt
Nam.
(5)
Hoàn
thiện
đồng
bộ
hệ
thống
pháp
luật,
cơ
chế,
chính
sách
nhằm
phát
huy
mạnh
mẽ
dân
chủ
xã
hội
chủ
nghĩa,
quyền
làm
chủ
của
nhân
dân;
đồng
thời
xây
dựng
Nhà
nước
pháp
quyền
xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam
trong
sạch,
vững
mạnh;
cải
cách
tư
pháp,
tăng
cường
pháp
chế,
bảo
đảm
kỷ
cương
xã
hội,
trước
hết
là
sự
gương
mẫu
tuân
theo
pháp
luật,
thực
hành
dân
chủ
xã
hội
chủ
nghĩa
của
cấp
uỷ,
tổ
chức
đảng,
chính
quyền,
Mặt
trận
Tổ
quốc
Việt
Nam
và
tổ
chức
chính
trị
-
xã
hội
các
cấp,
của
cán
bộ,
đảng
viên;
tăng
cường
đại
đoàn
kết
toàn
dân
tộc.
(6)
Quản
lý
chặt
chẽ,
sử
dụng
hợp
lý,
hiệu
quả
đất
đai,
tài
nguyên;
bảo
vệ,
cải
thiện
môi
trường;
chủ
động,
tích
cực
triển
khai
các
giải
pháp
thích
ứng
với
biến
đổi
khí
hậu,
thiên
tai
khắc
nghiệt.
Các
đột
phá
chiến
lược:
(1)
Hoàn
thiện
đồng
bộ
thể
chế
phát
triển,
trước
hết
là
thể
chế
phát
triển
nền
kinh
tế
thị
trường
định
hướng
xã
hội
chủ
nghĩa.
Đổi
mới
quản
trị
quốc
gia
theo
hướng
hiện
đại,
cạnh
tranh
hiệu
quả.
Tập
trung
ưu
tiên
hoàn
thiện
đồng
bộ,
có
chất
lượng
và
tổ
chức
thực
hiện
tốt
hệ
thống
luật
pháp,
cơ
chế,
chính
sách,
tạo
lập
môi
trường
đầu
tư
kinh
doanh
thuận
lợi,
lành
mạnh,
công
bằng
cho
mọi
thành
phần
kinh
tế,
thúc
đẩy
đổi
mới
sáng
tạo;
huy
động,
quản
lý
và
sử
dụng
có
hiệu
quả
mọi
nguồn
lực
cho
phát
triển,
nhất
là
đất
đai,
tài
chính,
hợp
tác
công
-
tư;
đẩy
mạnh
phân
cấp,
phân
quyền
hợp
lý,
hiệu
quả,
đồng
thời
tăng
cường
kiểm
tra,
giám
sát,
kiểm
soát
quyền
lực
bằng
hệ
thống
pháp
luật.
(2)
Phát
triển
nguồn
nhân
lực,
nhất
là
nguồn
nhân
lực
chất
lượng
cao;
ưu
tiên
phát
triển
nguồn
nhân
lực
cho
công
tác
lãnh
đạo,
quản
lý
và
các
lĩnh
vực
then
chốt
trên
cơ
sở
nâng
cao,
tạo
bước
chuyển
biến
mạnh
mẽ,
toàn
diện,
cơ
bản
về
chất
lượng
giáo
dục,
đào
tạo
gắn
với
cơ
chế
tuyển
dụng,
sử
dụng,
đãi
ngộ
nhân
tài,
đẩy
mạnh
nghiên
cứu,
chuyển
giao,
ứng
dụng
và
phát
triển
mạnh
khoa
học
-
công
nghệ,
đổi
mới
sáng
tạo;
khơi
dậy
khát
vọng
phát
triển
đất
nước
phồn
vinh,
hạnh
phúc,
phát
huy
giá
trị
văn
hoá,
sức
mạnh
con
người
Việt
Nam,
tinh
thần
đoàn
kết,
tự
hào
dân
tộc
trong
sự
nghiệp
xây
dựng
và
bảo
vệ
Tổ
quốc.
(3)
Xây
dựng
hệ
thống
kết
cấu
hạ
tầng
đồng
bộ,
hiện
đại
cả
về
kinh
tế
và
xã
hội;
ưu
tiên
phát
triển
một
số
công
trình
trọng
điểm
quốc
gia
về
giao
thông,
thích
ứng
với
biến
đổi
khí
hậu;
chú
trọng
phát
triển
hạ
tầng
thông
tin,
viễn
thông,
tạo
nền
tảng
chuyển
đổi
số
quốc
gia,
từng
bước
phát
triển
kinh
tế
số,
xã
hội
số.
II-
Thông
qua
Báo
cáo
chính
trị,
Chiến
lược
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
10
năm
2021
-
2030,
phương
hướng,
nhiệm
vụ
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
5
năm
2021
-
2025.
Giao
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng
khoá
XIII
căn
cứ
Báo
cáo
giải
trình
của
Đoàn
Chủ
tịch
Đại
hội,
kết
quả
biểu
quyết
để
hoàn
chỉnh
và
chính
thức
ban
hành.
III-
Thông
qua
Báo
cáo
tổng
kết
công
tác
xây
dựng
Đảng
và
thi
hành
Điều
lệ
Đảng
của
Ban
Chấp
Trung
ương
khoá
XII;
đồng
ý
không
sửa
đổi,
bổ
sung
Điều
lệ
Đảng
hiện
hành.
Giao
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng
khoá
XIII
chỉ
đạo
nghiên
cứu,
tiếp
thu
để
điều
chỉnh
thông
qua
các
quy
định,
hướng
dẫn
của
Trung
ương;
tăng
cường
kiểm
tra,
giám
sát,
bảo
đảm
thi
hành
nghiêm
chỉnh,
thống
nhất
Điều
lệ
trong
toàn
Đảng.
IV-
Thông
qua
Báo
cáo
kiểm
điểm
sự
lãnh
đạo,
chỉ
đạo
của
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng
khoá
XII
trình
Đại
hội
XIII.
Giao
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng
khoá
XIII
tiếp
thu
ý
kiến
của
Đại
hội,
phát
huy
ưu
điểm,
khắc
phục
khuyết
điểm,
nâng
cao
chất
lượng
và
hiệu
quả
công
tác
lãnh
đạo,
chỉ
đạo
trong
nhiệm
kỳ
tới.
V-
Đại
hội
đồng
ý
đồng
chí
Nguyễn
Phú
Trọng,
Tổng
Bí
thư
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng
khoá
XII
tái
cử
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng,
Bộ
Chính
trị
khoá
XIII
để
bầu
giữ
chức
Tổng
Bí
thư
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng
khoá
XIII.
VI-
Thông
qua
kết
quả
bầu
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng
khoá
XIII
gồm
200
đồng
chí,
trong
đó
có
180
đồng
chí
Uỷ
viên
Trung
ương
chính
thức,
20
đồng
chí
Uỷ
viên
Trung
ương
dự
khuyết.
VII-
Ban
Chấp
hành
Trung
ương
Đảng
khoá
XIII
và
các
cấp
uỷ,
tổ
chức
đảng
lãnh
đạo,
chỉ
đạo
cụ
thể
hoá
và
tổ
chức
thực
hiện
thắng
lợi
đường
lối
và
những
chủ
trương
nêu
trong
các
văn
kiện
Đại
hội
XIII.
Đại
hội
kêu
gọi
toàn
Đảng,
toàn
dân,
toàn
quân,
đồng
bào
ta
ở
trong
nước
và
nước
ngoài
phát
huy
mạnh
mẽ
lòng
yêu
nước,
tinh
thần
dân
tộc,
dân
chủ
xã
hội
chủ
nghĩa,
sức
mạnh
đại
đoàn
kết
toàn
dân
tộc,
giá
trị
văn
hoá,
khát
vọng
phát
triển
đất
nước,
sức
mạnh
con
người
Việt
Nam,
vai
trò
của
khoa
học
-
công
nghệ,
đổi
mới
sáng
tạo,
thực
hiện
thắng
lợi
Nghị
quyết
Đại
hội
để
đất
nước
ta
phát
triển
nhanh,
bền
vững
hơn,
lập
nên
kỳ
tích
phát
triển
mới
vì
một
nước
Việt
Nam
phồn
vinh,
hạnh
phúc,
cùng
tiến
bước,
sánh
vai
với
các
cường
quốc
năm
châu,
thực
hiện
thành
công
tâm
nguyện
của
Chủ
tịch
Hồ
Chí
Minh
vĩ
đại
và
ước
vọng
của
toàn
dân
tộc
ta.
ĐẠI
HỘI
ĐẠI
BIỂU
TOÀN
QUỐC
LẦN
THỨ
XIII