Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 942

   Một số vấn đề về thủ tục và điều kiện công nhận thỏa thuận của đương sự về chia tài sản chung là bất động sản trong vụ án ly hôn.


Chủ nhật - 10/08/2025 22:50
 
Quyền tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng tụng dân sự được quy định cụ thể tại Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Chính vì vậy, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án dân sự nói chung, cũng như các vụ án hôn nhân và gia đình nói riêng đều phải thực hiện thủ tục hòa giải và khuyến khích các ðương sự tự thỏa thuận giải quyết các nội dung của vụ án. Tuy nhiên, đối với nhiều loại tài sản, đặc biệt là bất động sản có những đặc tính và đặc điểm đặc thù nên trong quá trình Tòa án ra Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự đối với loại tài sản này còn nhiều cách nhận thức, áp dụng pháp luật khác nhau. Bài viết của tác giả sẽ đi phân tích một số vấn đề về việc Tòa án ra Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự về chia tài sản chung trong vụ án ly hôn đối với loại tài sản đặc thù là bất động sản để đưa ra cách hiểu và áp dụng pháp luật thống nhất, hiệu quả.

 
Cụ thể tác giả đưa ra tình huống thực tế như sau: Trong vụ án Ly hôn giữa nguyên đơn chị A và bị đơn B, chị A yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực (huyện Y) giải quyết ly hôn, chia con chung và tài sản chung với anh B, xác định không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Đương sự cung cấp bản gốc giấy đăng ký kết hôn, bản sao giấy khai sinh con chung, bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tên chủ sử dụng là chị A và anh B.
 
Trước khi Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì nguyên đơn A đã giao nộp cho Tòa án văn bản ghi nhận việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, trong đó, quyền sử dụng đất là tài sản vợ chồng (đứng tên chị A và anh B) được chia mỗi người hưởng ½.
 
Trên cơ sở biên bản thỏa thuận để giải quyết tài sản, các tài liệu đương sự cung cấp, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì chị A và anh B thống nhất được các nội dung:
 
- Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh B nhất trí thuận tình ly hôn;
 
- Về con chung: Chị A và anh B nhất trí giao 01 con chung chưa thành niên cho chị A nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A.
 
- Về tài sản chung: Chị A và anh B nhất trí chia tài sản chung là quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng và đã được vợ chồng thống nhất chia tài sản tại văn bản thỏa thuận đã gửi cho Tòa án và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong Quyết định giải quyết của Tòa án.
 
- Về nợ chung: Các đương sự cùng xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.
 
Đối với trường hợp trên, có hai quan điểm đối với giải quyết vụ án:
 
Quan điểm thứ nhất:
 
Theo quy định tại Điều 212 BLTTDS thì các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa của các đương sự (công nhận thỏa thuận đối với quan hệ hôn nhân, con chung và ghi nhận thỏa thuận đối với phân chia tài sản), án phí ly hôn bằng ½..., không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
 
Quan điểm thứ hai:
 
Mặc dù tại thời điểm hòa giải, các đương sự thỏa thuận được toàn bộ vụ án nhưng với nội dung thỏa thuận phân chia tài sản chung là quyền sử dụng đất, mặc dù các đương sự đã cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định là tài sản chung vợ chồng và có thỏa thuận phân chia, tuy nhiên, với các nội dung trong vụ án mà Tòa án đã ra quyết định công nhận thỏa thuận sẽ có những nội dung rất khó thực hiện khi thi hành án. Như trong ví dụ, theo nội dung thỏa thuận chia tài sản chỉ nói đến việc chia mỗi người ½ tài sản (đủ điều kiện chia quyền sử dụng đất cho mỗi đương sự), nhưng các nội dung liên quan như ranh giới của thửa đất trên thực địa (trích đo bản đồ địa chính), việc xác định phân chia quyền sử dụng đất cho mỗi đương sự, tình trạng pháp lý của thửa đất... cũng là nội dung cần làm rõ để tránh trường hợp khó khăn khi thi hành án (đất trên thực địa không giống như trên giấy chứng nhận, có tranh chấp khi chia ranh giới đất giữa các đương sự).
 
Đối với một vụ tranh chấp quyền sử dụng đất thì việc xác minh các thông tin liên quan đến thửa đất là một trong những hoạt động bắt buộc của Tòa án. Đồng thời, trong trường hợp này, nếu ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự thì các đương sự chỉ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm (150.000 đồng) và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng. Việc ghi nhận thoả thuận về chia tài sản là quyền sử dụng đất như trong ví dụ trên có thể gây khó khăn trong quá trình thi hành án, có thể dẫn đến tranh chấp khi phân chia trên thực địa và khi đó, Toà án có thụ lý để giải quyết tranh chấp hay trả lại đơn khởi kiện theo điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS.
 
Quan điểm của tác giả:
 
Nhà nước khuyến khích các đương sự tự thoả thuận đối với các nội dung của vụ án, giúp vụ việc dân sự nói chung được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả, giảm thủ tục, chi phí cho đương sự và thời gian, công sức của cán bộ tư pháp. Tuy nhiên, đối với việc ghi nhận thoả thuận về tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất (bất động sản) trong vụ án ly hôn, trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận chia tài sản mà không xác định rõ vị trí ranh giới, không cung cấp được văn bản của chính quyền địa phương xác nhận vị trí, ranh giới thực địa của thửa đất thì Toà án có thẩm quyền phải hướng dẫn để đương sự cung cấp các tài liệu cần thiết, thoả thuận cụ thể về việc phân chia tài sản (phân chia ranh giới đất…), lập thành văn bản gửi Toà án hoặc Toà án trực tiếp xác minh, xác định rõ vị trí ranh giới quyền sử dụng đất mà các đương sự phân chia theo thoả thuận. Căn cứ những tài liệu, chứng cứ thu thập được thì Toà án mới ra quyết định công nhận thoả thuận của các đương sự trong vụ án, mới đảm bảo việc giải quyết triệt để vụ án, giảm các tranh chấp không cần thiết khi thi hành quyết định. Đồng thời, không phân biệt các đương sự đề nghị ghi nhận thoả thuận phân chia tài sản chung trước hay trong phiên hoà giải thì các đương sự đều phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu chia tài sản chung (300.000 đồng) mới đảm bảo lợi ích hợp pháp của Nhà nước.
 
Với vướng mắc như trên, đề nghị các cơ quan cấp trên có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp ghi nhận thoả thuận đương sự về phân chia tài sản chung là bất động sản (bao gồm cả án phí) để có nhận thức thống nhất trong giải quyết vụ án, vụ việc; hạn chế mức thấp nhất các tranh chấp có thể xảy ra trong thực tiễn, giải quyết hiệu quả, dứt điểm vụ án, vụ viêc cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của Nhà nước.
 
                           Phạm Anh Tuấn: Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top