Quyền
tự
do,
tự
nguyện
cam
kết,
thỏa
thuận
là
một
trong
những
nguyên
tắc
cơ
bản
của
Luật
tố
tụng
tụng
dân
sự
được
quy
định
cụ
thể
tại
Điều
10
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự
năm
2015:
“Tòa
án
có
trách
nhiệm
tiến
hành
hòa
giải
và
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
để
các
đương
sự
thỏa
thuận
với
nhau
về
việc
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự
theo
quy
định
của
Bộ
luật
này”.
Chính
vì
vậy,
trong
quá
trình
Tòa
án
thụ
lý
giải
quyết
vụ
án
dân
sự
nói
chung,
cũng
như
các
vụ
án
hôn
nhân
và
gia
đình
nói
riêng
đều
phải
thực
hiện
thủ
tục
hòa
giải
và
khuyến
khích
các
ðương
sự
tự
thỏa
thuận
giải
quyết
các
nội
dung
của
vụ
án.
Tuy
nhiên,
đối
với
nhiều
loại
tài
sản,
đặc
biệt
là
bất
động
sản
có
những
đặc
tính
và
đặc
điểm
đặc
thù
nên
trong
quá
trình
Tòa
án
ra
Quyết
định
công
nhận
thỏa
thuận
của
các
đương
sự
đối
với
loại
tài
sản
này
còn
nhiều
cách
nhận
thức,
áp
dụng
pháp
luật
khác
nhau.
Bài
viết
của
tác
giả
sẽ
đi
phân
tích
một
số
vấn
đề
về
việc
Tòa
án
ra
Quyết
định
công
nhận
thỏa
thuận
của
các
đương
sự
về
chia
tài
sản
chung
trong
vụ
án
ly
hôn
đối
với
loại
tài
sản
đặc
thù
là
bất
động
sản
để
đưa
ra
cách
hiểu
và
áp
dụng
pháp
luật
thống
nhất,
hiệu
quả.
Cụ
thể
tác
giả
đưa
ra
tình
huống
thực
tế
như
sau:
Trong
vụ
án
Ly
hôn
giữa
nguyên
đơn
chị
A
và
bị
đơn
B,
chị
A
yêu
cầu
Tòa
án
nhân
dân
khu
vực
(huyện
Y)
giải
quyết
ly
hôn,
chia
con
chung
và
tài
sản
chung
với
anh
B,
xác
định
không
có
nợ
chung
nên
không
yêu
cầu
giải
quyết.
Đương
sự
cung
cấp
bản
gốc
giấy
đăng
ký
kết
hôn,
bản
sao
giấy
khai
sinh
con
chung,
bản
sao
có
chứng
thực
Giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất
có
tên
chủ
sử
dụng
là
chị
A
và
anh
B.
Trước
khi
Tòa
án
tổ
chức
phiên
họp
kiểm
tra
việc
giao
nộp,
tiếp
cận,
công
khai
chứng
cứ
và
hòa
giải
thì
nguyên
đơn
A
đã
giao
nộp
cho
Tòa
án
văn
bản
ghi
nhận
việc
phân
chia
tài
sản
chung
của
vợ
chồng,
trong
đó,
quyền
sử
dụng
đất
là
tài
sản
vợ
chồng
(đứng
tên
chị
A
và
anh
B)
được
chia
mỗi
người
hưởng
½.
Trên
cơ
sở
biên
bản
thỏa
thuận
để
giải
quyết
tài
sản,
các
tài
liệu
đương
sự
cung
cấp,
tại
phiên
họp
kiểm
tra
việc
giao
nộp,
tiếp
cận,
công
khai
chứng
cứ
và
hòa
giải
thì
chị
A
và
anh
B
thống
nhất
được
các
nội
dung:
-
Về
quan
hệ
hôn
nhân:
Chị
A
và
anh
B
nhất
trí
thuận
tình
ly
hôn;
-
Về
con
chung:
Chị
A
và
anh
B
nhất
trí
giao
01
con
chung
chưa
thành
niên
cho
chị
A
nuôi
dưỡng,
anh
B
không
phải
cấp
dưỡng
nuôi
con
chung
cùng
chị
A.
-
Về
tài
sản
chung:
Chị
A
và
anh
B
nhất
trí
chia
tài
sản
chung
là
quyền
sử
dụng
đất
là
tài
sản
chung
vợ
chồng
và
đã
được
vợ
chồng
thống
nhất
chia
tài
sản
tại
văn
bản
thỏa
thuận
đã
gửi
cho
Tòa
án
và
yêu
cầu
Tòa
án
ghi
nhận
trong
Quyết
định
giải
quyết
của
Tòa
án.
-
Về
nợ
chung:
Các
đương
sự
cùng
xác
định
không
có
nên
không
yêu
cầu
giải
quyết.
Đối
với
trường
hợp
trên,
có
hai
quan
điểm
đối
với
giải
quyết
vụ
án:
Quan
điểm
thứ
nhất:
Theo
quy
định
tại
Điều
212
BLTTDS
thì
các
đương
sự
đã
thỏa
thuận
được
với
nhau
về
việc
giải
quyết
toàn
bộ
vụ
án
nên
Tòa
án
ra
Quyết
định
công
nhận
thuận
tình
ly
hôn
và
sự
thỏa
của
các
đương
sự
(công
nhận
thỏa
thuận
đối
với
quan
hệ
hôn
nhân,
con
chung
và
ghi
nhận
thỏa
thuận
đối
với
phân
chia
tài
sản),
án
phí
ly
hôn
bằng
½...,
không
phải
chịu
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm
có
giá
ngạch.
Quan
điểm
thứ
hai:
Mặc
dù
tại
thời
điểm
hòa
giải,
các
đương
sự
thỏa
thuận
được
toàn
bộ
vụ
án
nhưng
với
nội
dung
thỏa
thuận
phân
chia
tài
sản
chung
là
quyền
sử
dụng
đất,
mặc
dù
các
đương
sự
đã
cung
cấp
giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất
xác
định
là
tài
sản
chung
vợ
chồng
và
có
thỏa
thuận
phân
chia,
tuy
nhiên,
với
các
nội
dung
trong
vụ
án
mà
Tòa
án
đã
ra
quyết
định
công
nhận
thỏa
thuận
sẽ
có
những
nội
dung
rất
khó
thực
hiện
khi
thi
hành
án.
Như
trong
ví
dụ,
theo
nội
dung
thỏa
thuận
chia
tài
sản
chỉ
nói
đến
việc
chia
mỗi
người
½
tài
sản
(đủ
điều
kiện
chia
quyền
sử
dụng
đất
cho
mỗi
đương
sự),
nhưng
các
nội
dung
liên
quan
như
ranh
giới
của
thửa
đất
trên
thực
địa
(trích
đo
bản
đồ
địa
chính),
việc
xác
định
phân
chia
quyền
sử
dụng
đất
cho
mỗi
đương
sự,
tình
trạng
pháp
lý
của
thửa
đất...
cũng
là
nội
dung
cần
làm
rõ
để
tránh
trường
hợp
khó
khăn
khi
thi
hành
án
(đất
trên
thực
địa
không
giống
như
trên
giấy
chứng
nhận,
có
tranh
chấp
khi
chia
ranh
giới
đất
giữa
các
đương
sự).
Đối
với
một
vụ
tranh
chấp
quyền
sử
dụng
đất
thì
việc
xác
minh
các
thông
tin
liên
quan
đến
thửa
đất
là
một
trong
những
hoạt
động
bắt
buộc
của
Tòa
án.
Đồng
thời,
trong
trường
hợp
này,
nếu
ra
quyết
định
công
nhận
thuận
tình
ly
hôn
và
thỏa
thuận
của
các
đương
sự
thì
các
đương
sự
chỉ
phải
chịu
án
phí
ly
hôn
sơ
thẩm
(150.000
đồng)
và
không
phải
chịu
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm
đối
với
yêu
cầu
chia
tài
sản
chung
vợ
chồng.
Việc
ghi
nhận
thoả
thuận
về
chia
tài
sản
là
quyền
sử
dụng
đất
như
trong
ví
dụ
trên
có
thể
gây
khó
khăn
trong
quá
trình
thi
hành
án,
có
thể
dẫn
đến
tranh
chấp
khi
phân
chia
trên
thực
địa
và
khi
đó,
Toà
án
có
thụ
lý
để
giải
quyết
tranh
chấp
hay
trả
lại
đơn
khởi
kiện
theo
điểm
c
khoản
1
Điều
192
BLTTDS.
Quan
điểm
của
tác
giả:
Nhà
nước
khuyến
khích
các
đương
sự
tự
thoả
thuận
đối
với
các
nội
dung
của
vụ
án,
giúp
vụ
việc
dân
sự
nói
chung
được
giải
quyết
nhanh
chóng,
hiệu
quả,
giảm
thủ
tục,
chi
phí
cho
đương
sự
và
thời
gian,
công
sức
của
cán
bộ
tư
pháp.
Tuy
nhiên,
đối
với
việc
ghi
nhận
thoả
thuận
về
tài
sản
chung
của
vợ
chồng
là
quyền
sử
dụng
đất
(bất
động
sản)
trong
vụ
án
ly
hôn,
trường
hợp
các
đương
sự
chỉ
thoả
thuận
chia
tài
sản
mà
không
xác
định
rõ
vị
trí
ranh
giới,
không
cung
cấp
được
văn
bản
của
chính
quyền
địa
phương
xác
nhận
vị
trí,
ranh
giới
thực
địa
của
thửa
đất
thì
Toà
án
có
thẩm
quyền
phải
hướng
dẫn
để
đương
sự
cung
cấp
các
tài
liệu
cần
thiết,
thoả
thuận
cụ
thể
về
việc
phân
chia
tài
sản
(phân
chia
ranh
giới
đất…),
lập
thành
văn
bản
gửi
Toà
án
hoặc
Toà
án
trực
tiếp
xác
minh,
xác
định
rõ
vị
trí
ranh
giới
quyền
sử
dụng
đất
mà
các
đương
sự
phân
chia
theo
thoả
thuận.
Căn
cứ
những
tài
liệu,
chứng
cứ
thu
thập
được
thì
Toà
án
mới
ra
quyết
định
công
nhận
thoả
thuận
của
các
đương
sự
trong
vụ
án,
mới
đảm
bảo
việc
giải
quyết
triệt
để
vụ
án,
giảm
các
tranh
chấp
không
cần
thiết
khi
thi
hành
quyết
định.
Đồng
thời,
không
phân
biệt
các
đương
sự
đề
nghị
ghi
nhận
thoả
thuận
phân
chia
tài
sản
chung
trước
hay
trong
phiên
hoà
giải
thì
các
đương
sự
đều
phải
chịu
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm
không
có
giá
ngạch
đối
với
yêu
cầu
chia
tài
sản
chung
(300.000
đồng)
mới
đảm
bảo
lợi
ích
hợp
pháp
của
Nhà
nước.
Với
vướng
mắc
như
trên,
đề
nghị
các
cơ
quan
cấp
trên
có
thẩm
quyền
hướng
dẫn
cụ
thể
đối
với
trường
hợp
ghi
nhận
thoả
thuận
đương
sự
về
phân
chia
tài
sản
chung
là
bất
động
sản
(bao
gồm
cả
án
phí)
để
có
nhận
thức
thống
nhất
trong
giải
quyết
vụ
án,
vụ
việc;
hạn
chế
mức
thấp
nhất
các
tranh
chấp
có
thể
xảy
ra
trong
thực
tiễn,
giải
quyết
hiệu
quả,
dứt
điểm
vụ
án,
vụ
viêc
cũng
như
đảm
bảo
quyền
và
lợi
ích
của
Nhà
nước.
Phạm
Anh
Tuấn:
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
Khu
vực
2