1.
Tóm
tắt
nội
dung
vụ
án:
Khoảng
21
giờ
00
phút
ngày
15/3/2025;
Đỗ
Duy
M,
trú
tại
tổ
dân
phố
Tân
Trung,
phường
Minh
Xuân;
Lê
Văn
C,
trú
tại
thôn
Nhùng
Dàm,
xã
Yên
Sơn
(Lê
Văn
C
đang
có
02
tiền
án);
Trần
Đại
V,
trú
tại
thôn
Phú
Thịnh,
xã
Yên
Sơn,
tỉnh
Tuyên
Quang
và
Hoàng
Thị
Kim
A,
trú
tại
thôn
Đông
Lô,
xã
Tam
Đảo
1,
tỉnh
Phú
Thọ,
cùng
đến
ăn
uống
tại
quán
“A
Lô”
của
anh
Nguyễn
Mạnh
T,
tại
tổ
dân
phố
Trung
Môn
11,
phường
Minh
Xuân,
tỉnh
Tuyên
Quang.
Nhóm
của
M
ngồi
ở
gian
bên
ngoài;
Cùng
lúc
này
trong
quán
có
nhóm
của
Phạm
Ngọc
T,
sinh
năm
1989,
trú
tại
tổ
dân
phố
Trung
Môn,
phường
Minh
Xuân
và
Vũ
Đình
Th,
sinh
năm
1986,
trú
tại
tổ
dân
phố
Ỷ
La,
phường
Minh
Xuân,
tỉnh
Tuyên
Quang
đang
ngồi
ăn
ở
gian
phía
bên
trong.
Khoảng
21
giờ
20
phút
cùng
ngày,
Kim
A
đi
vào
khu
vực
vệ
sinh,
khi
đi
qua
bàn
của
Phạm
Ngọc
T,
T
nói“em
ơi
rơi
đồ
kìa”,
không
thấy
Kim
A
trả
lời,
T
nói
tiếp
“em
ơi
có
rơi
đồ
hay
sao
ý
quay
lại
xem”,
lúc
này
M
ngồi
tại
bàn
ăn,
nghe
thấy
và
nói
với
sang
để
T
nghe
thấy“anh
ơi
người
yêu
em
đấy”,
T
nói
“ờ
anh
xin
lỗi,
mày
còn
muốn
thế
nào
nữa”,
ngay
sau
khi
nghe
T
nói
vậy
M
đứng
dậy
đi
đến
bàn
T
đang
ngồi,
C
và
V
cũng
đứng
dậy
đi
cùng
M:
M
đến
đứng
đối
diện
trước
mặt
T,
khi
đó
T
đang
ngồi
trên
ghế,
M
dùng
hai
tay
đấm
liên
tiếp
nhiều
phát
trúng
vào
vùng
mặt,
đầu
T,
trong
đó
một
phát
trúng
vào
mũi
gây
gẫy
xương
mũi,
làm
T
ngã
ngửa,
bị
M
đấm
T
dùng
02
tay
ôm
đầu,
lưng
dựa
vào
tường
quán;
cùng
lúc
đó
C
tay
phải
cầm
chiếc
điếu
cày
của
quán
vung
lên
vụt
mạnh
nhiều
phát
về
phía
người
T
(phát
thứ
nhất
trúng
vào
vai
trái,
phát
thứ
hai
trúng
vào
sườn
trái
làm
gẫy
xương
sườn
9,
10,
phát
thứ
ba
trúng
vào
khuỷu
tay
phải
và
đầu
khiến
T
ngã
khuỵu
xuống),
không
dừng
lại
ở
đó
C
lao
vào
tiếp
tục
dùng
chân
đạp,
tay
đấm,
đá,
đạp
liên
tiếp
nhiều
phát
vào
người
T.
Do
bị
đánh
đau
T
vùng
dậy
chạy
vào
trong
bếp
của
quán
cầm
01
con
dao
chạy
ra
để
chống
trả,
thấy
vậy,
M
và
C
bỏ
chạy
ra
ngoài
thoát
thân.
Sự
việc
sau
đó
được
mọi
trong
quán
can
ngăn
lại,
T
được
đưa
đi
điều
trị
tại
Bệnh
viện.
*
Kết
luận
giám
định
số
83/2025/KLTTCT-TTGĐYK&PY
ngày
31/5/2025
của
Trung
tâm
giám
định
y
khoa
và
Pháp
y
tỉnh
Tuyên
Quang
kết
luận
đối
với
thương
tích
của
T:
Gãy
xương
chính
mũi
07%;
Gãy
02
xương
sườn
bên
trái
(9,
10),
mỗi
xương
02%;
Tổn
thương
màng
phổi
trái
không
để
lại
di
chứng
03%;
Chấn
động
não
điều
trị
ổn
định,
điện
não
đồ
bình
thường
01%;
Tổng
tỷ
lệ
phần
trăm
tổn
thương
cơ
thể
của
anh
Phạm
Ngọc
T
tại
thời
điểm
giám
định
(theo
phương
pháp
cộng
lùi)
là:
14%
(Mười
bốn
phần
trăm);
Cơ
chế
vật
gây
thương
tích
do
tác
động
vật
tày
gây
nên.
2.
Quá
trình
giải
quyết
vụ
án
có
2
quan
điểm
về
xác
định
Khung
khoản
như
sau:
2.1.
Quan
điểm
thứ
nhất:
Cho
rằng
trong
vụ
án
này
khi
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
Lê
Văn
C
và
Đỗ
Duy
M
có
dấu
hiệu
“Đồng
phạm”
theo
quy
định
tại
Điều
17
BLHS
đó
“là
trường
hợp
có
hai
người
trở
lên
cố
ý
cùng
thực
hiện
một
tội
phạm”
và
đều
là
phạm
tội
có
tính
chất
“Côn
đồ”
nên
M
và
C
phải
bị
Truy
cứu
TNHS
đối
với
tổng
tỷ
lệ
thương
tích
của
Phạm
Ngọc
T
là
14%.
Do
đó
M
và
C
phải
bị
Truy
cứu
TNHS
theo
Điểm
đ
Khoản
2
Điều
134
BLHS,
cụ
thể
như
sau:
-
Trần
Duy
M
bị
truy
cứu
TNHS
theo
Điểm
đ
Khoản
2
Điều
134
BLHS:
“đ)
Gây
thương
tích
hoặc
gây
tổn
hại
cho
sức
khỏe
của
người
khác
mà
tỷ
lệ
tổn
thương
cơ
thể
từ
11%
đến
30%
nhưng
thuộc
một
trong
các
trường
hợp
quy
định
tại
các
điểm
từ
điểm
a
đến
điểm
k
khoản
1
Điều
này”
(thuộc
điểm
i-
Có
tính
chất
côn
đồ);
-
Lê
Văn
C
bị
truy
cứu
TNHS
theo
Điểm
d,
Điểm
đ
Khoản
2
Điều
134
BLHS:
“đ)
Gây
thương
tích
hoặc
gây
tổn
hại
cho
sức
khỏe
của
người
khác
mà
tỷ
lệ
tổn
thương
cơ
thể
từ
11%
đến
30%
nhưng
thuộc
một
trong
các
trường
hợp
quy
định
tại
các
điểm
từ
điểm
a
đến
điểm
k
khoản
1
Điều
này”
và
“Tái
phạm
nguy
hiểm”
2.2.
Quan
điểm
thứ
hai:
Cho
rằng
hành
vi
của
Lê
Văn
C
và
Đỗ
Duy
M
đều
là
bột
phát,
nhất
thời,
trước
khi
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
giữa
M
và
C
không
có
sự
bàn
bạc,
thống
nhất
trước…
Vì
vậy
khi
quy
kết
trách
nhiệm
hình
sự
phải
tách
từng
thương
tích
của
T
(bi
hại)
để
xác
định
cụ
thể
thương
tích
nào
là
do
M
gây
ra,
tỷ
lệ
là
bao
nhiêu;
thương
tích
nào
là
do
C
gây
ra,
tỷ
lệ
là
bao
nhiêu
để
cá
thể
hoá
TNHS
đối
với
từng
bị
can
-
mỗi
bị
can
sẽ
chỉ
phải
chịu
TNHS
đối
với
hậu
quả
thương
tích
do
hành
vi
của
mình
gây
ra
cho
T
(Mối
quan
hệ
nhân
quả
giữa
hành
vi
khách
quan
và
hậu
quả).
Trong
vụ
án
này
hành
vi
của
từng
bị
can
được
xác
định
cụ
thể
như
sau:
-
Đối
với
Hoàng
C
sử
dụng
điếu
cày
đánh
đáng
gây
thương
tích
cho
T:
Gãy
02
xương
sườn
bên
trái
(9,
10)
gây
ra
thương
tích
04%;
Tổn
thương
màng
phổi
trái
03%;
Chấn
động
não
01%
(Tổng
tỷ
lệ
thương
tích
là
07%
<11%):
Hành
vi
của
C
dùng
hung
khí
nguy
hiểm
(Điểm
a
Khoan1
Điều
134BLHS)
và
hành
vi
“Phạm
tội
có
tính
chất
côn
đồ”
(Điểm
i
Khoan1
Điều
134BLHS)
sẽ
áp
dụng
làm
tình
tiết
định
tội
theo
cấu
thành
cơ
bản
của
Khoản
1
Điều
134
BLHS
và
do
C
đang
có
02
tiền
án
“Đã
tái
phạm,
chưa
được
xoá
án
tích
mà
lại
phạm
tội
do
cố
ý”
nên
lần
phạm
tội
này
thuộc
trường
hợp
“Tái
phạm
nguy
hiểm”
do
đó
sẽ
phải
sẽ
bị
truy
cứu
TNHS
theo
điểm
d,
khoản
2
Điều
134
BLHS
(tình
tiết
định
khung
tăng
nặng
là
Tái
phạm
nguy
hiểm);
-
Đối
với
Đỗ
Duy
M,
dùng
tay
đấm
Gãy
xương
chính
mũi
gây
thương
tích
cho
T
là
07%
(dưới
11%)
nhưng
hành
vi
phạm
tội
thuộc
trường
hợp
“Có
tính
chất
côn
đồ”,
nên
M
sẽ
bị
truy
cứu
TNHS
theo
Điểm
i,
khoản
1
Điều
134
BLHS;
2.3.
Quan
điểm
của
tác
giả:
Trong
vụ
án
này:
Cả
2
quan
điểm
trên
đều
có
những
lập
luận
hợp
lý,
có
căn
cứ
riêng,
hành
vi
của
Lê
Văn
C
và
Đỗ
Duy
M
tuy
đều
là
bột
phát,
nhất
thời,
trước
khi
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
giữa
M
và
C
tuy
không
có
sự
bàn
bạc,
thống
nhất
trước…nhưng
đều
là
cố
ý
cùng
thực
hiện
một
tội
phạm
do
đó
có
dấu
hiệu
của
đồng
phạm
giản
đơn
nên
nếu
truy
cứu
TNHS
đối
với
M
và
C
theo
tổng
tỷ
lệ
thương
tích
của
T
là
14%
(Theo
Điểm
đ
Khoản
2
Điều
134
BHS)
cũng
là
có
căn
cứ.
*
Tuy
nhiên:
Tác
giả
đồng
tình
với
quan
điểm
thứ
hai
bởi
lẽ:
-
Nếu
truy
cứu
TNHS
đối
với
M
và
C
mà
quy
kết
chung
theo
tổng
tỷ
lệ
thương
tích
của
T
là
14%
do
hành
vi
của
M
và
C
đã
gây
ra
thì
Đỗ
Duy
M
sẽ
bị
truy
cứu
TNHS
theo
Điểm
đ
Khoản
2
Điều
134,
là
bất
lợi
cho
M.
Hơn
nữa
nội
dung
và
các
tình
tiết
của
vụ
án
đã
được
làm
sáng
tỏ,
có
đủ
căn
cứ
chứng
minh
từng
hành
vi
cụ
thể
của
mỗi
bị
can
và
hậu
quả
tương
ứng
của
từng
hành
vi
đó
(Video;
lời
khai
nhận
tội
của
bị
can;
lời
khai
người
làm
chứng),
nên
cần
thiết
phải
cá
thể
hoá
TNHS
để
xử
lý
theo
quan
điểm
thứ
2
là
thoả
đáng,
đúng
người,
đúng
tội,
bảo
đảm
tối
đa
quyền
lợi
của
M,
đúng
pháp
luật,
đúng
nguyên
tắc
cá
thể
hóa
trách
nhiệm
và
đảm
bảo
nguyên
tắc
“có
lợi
cho
các
bị
can”.
-
Đối
với
Lê
Văn
C:
Hành
vi
phạm
tội
thuộc
trường
hợp
“Dùng
hung
khí
nguy
hiểm”;
“Tái
phạm
nguy
hiểm”
và
“Phạm
tội
có
tính
chất
côn
đồ”.
Trong
đó,
tình
tiết
“Dùng
hung
khí
nguy
hiểm”
và
“Phạm
tội
có
tính
chất
côn
đồ”,
được
sử
dụng
để
định
tội
theo
cấu
thành
cơ
bản
của
Khoản
1
Điều
134
BLHS;
tình
tiết
“Tái
phạm
nguy
hiểm”
áp
dụng
làm
tình
tiết
định
khung
tăng
nặng
theo
điểm
d,
khoản
2
Điều
134
BLHS;
-
Trường
hợp
trong
vụ
án
trên
nếu:
C
dùng
điếu
cày
đánh
vào
đầu
gây
tử
vong
đối
với
T:
Nếu
lập
luận
theo
quan
điểm
thứ
nhất
thì
sẽ
phải
truy
cứu
TNHS
đối
với
cả
C
và
M
đều
về
tội
giết
người.
Điều
đó
là
không
có
căn
cứ,
bất
lợi
đối
với
M.
Qua
vụ
án
cụ
thể
trên,
tác
giả
rất
mong
nhận
được
sự
trao
đổi,
góp
ý
của
các
đồng
nghiệp./.
Nguyễn
Hồng
Tư,
Nguyễn
Tiến
Đường
-
Viện
KSND
Khu
vực
1-Tuyên
Quang