Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ » Nghiên cứu - Trao đổi

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 153

   Khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự để xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi Cố ý gây thương tích


Thứ ba - 23/12/2025 05:26
 
1. Tóm tắt nội dung vụ án:

 
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 15/3/2025; Đỗ Duy M, trú tại tổ dân phố Tân Trung, phường Minh Xuân; Lê Văn C, trú tại thôn Nhùng Dàm, xã Yên Sơn (Lê Văn C đang có 02 tiền án); Trần Đại V, trú tại thôn Phú Thịnh, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và Hoàng Thị Kim A, trú tại thôn Đông Lô, xã Tam Đảo 1, tỉnh Phú Thọ, cùng đến ăn uống tại quán “A Lô” của anh Nguyễn Mạnh T, tại tổ dân phố Trung Môn 11, phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang. Nhóm của M ngồi ở gian bên ngoài; Cùng lúc này trong quán có nhóm của Phạm Ngọc T, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố Trung Môn, phường Minh Xuân và Vũ Đình Th, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố Ỷ La, phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang đang ngồi ăn ở gian phía bên trong. Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, Kim A đi vào khu vực vệ sinh, khi đi qua bàn của Phạm Ngọc T, T nói“em ơi rơi đồ kìa”, không thấy Kim A trả lời, T nói tiếp “em ơi có rơi đồ hay sao ý quay lại xem”, lúc này M ngồi tại bàn ăn, nghe thấy và nói với sang để T nghe thấy“anh ơi người yêu em đấy”, T nói “ờ anh xin lỗi, mày còn muốn thế nào nữa”, ngay sau khi nghe T nói vậy M đứng dậy đi đến bàn T đang ngồi, C và V cũng đứng dậy đi cùng M: M đến đứng đối diện trước mặt T, khi đó T đang ngồi trên ghế, M dùng hai tay đấm liên tiếp nhiều phát trúng vào vùng mặt, đầu T, trong đó một phát trúng vào mũi gây gẫy xương mũi, làm T ngã ngửa, bị M đấm T dùng 02 tay ôm đầu, lưng dựa vào tường quán; cùng lúc đó C tay phải cầm chiếc điếu cày của quán vung lên vụt mạnh nhiều phát về phía người T  (phát thứ nhất trúng vào vai trái, phát thứ hai trúng vào sườn trái làm gẫy xương sườn 9, 10, phát thứ ba trúng vào khuỷu tay phải và đầu khiến T ngã khuỵu xuống), không dừng lại ở đó C lao vào tiếp tục dùng chân đạp, tay đấm, đá, đạp liên tiếp nhiều phát vào người T. Do bị đánh đau T vùng dậy chạy vào trong bếp của quán cầm 01 con dao chạy ra để chống trả, thấy vậy, M và C bỏ chạy ra ngoài thoát thân. Sự việc sau đó được mọi trong quán can ngăn lại, T được đưa đi điều trị tại Bệnh viện.
 
* Kết luận giám định số 83/2025/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 31/5/2025 của Trung tâm giám định y khoa và Pháp y tỉnh Tuyên Quang kết luận đối với thương tích của T: Gãy xương chính mũi 07%; Gãy 02 xương sườn bên trái (9, 10), mỗi xương 02%; Tổn thương màng phổi trái không để lại di chứng 03%; Chấn động não điều trị ổn định, điện não đồ bình thường 01%; Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phạm Ngọc T tại thời điểm giám định (theo phương pháp cộng lùi) là: 14% (Mười bốn phần trăm); Cơ chế vật gây thương tích do tác động vật tày gây nên.
 
2. Quá trình giải quyết vụ án có 2 quan điểm về xác định Khung khoản như sau:
 
2.1. Quan điểm thứ nhất: Cho rằng trong vụ án này khi thực hiện hành vi phạm tội Lê Văn C và Đỗ Duy M có dấu hiệu “Đồng phạm” theo quy định tại Điều 17 BLHS đó “là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” và đều là phạm tội có tính chất “Côn đồ” nên M và C phải bị Truy cứu TNHS đối với tổng tỷ lệ thương tích của Phạm Ngọc T là 14%. Do đó M và C phải bị Truy cứu TNHS theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS, cụ thể như sau:
 
- Trần Duy M bị truy cứu TNHS theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS: “đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” (thuộc điểm i- Có tính chất côn đồ);
 
- Lê Văn C bị truy cứu TNHS theo Điểm d, Điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS: “đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” và “Tái phạm nguy hiểm”
 
2.2. Quan điểm thứ hai: Cho rằng hành vi của Lê Văn C và Đỗ Duy M đều là bột phát, nhất thời, trước khi thực hiện hành vi phạm tội giữa M và C không có sự bàn bạc, thống nhất trước… Vì vậy khi quy kết trách nhiệm hình sự phải tách từng thương tích của T (bi hại) để xác định cụ thể thương tích nào là do M gây ra, tỷ lệ là bao nhiêu; thương tích nào là do C gây ra, tỷ lệ là bao nhiêu để cá thể hoá TNHS đối với từng bị can - mỗi bị can sẽ chỉ phải chịu TNHS đối với hậu quả thương tích do hành vi của mình gây ra cho T (Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả). Trong vụ án này hành vi của từng bị can được xác định cụ thể như sau:
 
- Đối với Hoàng C sử dụng điếu cày đánh đáng gây thương tích cho T: Gãy 02 xương sườn bên trái (9, 10) gây ra thương tích 04%; Tổn thương màng phổi trái 03%; Chấn động não 01% (Tổng tỷ lệ thương tích là 07% <11%): Hành vi của C dùng hung khí nguy hiểm (Điểm a Khoan1 Điều 134BLHS) và hành vi “Phạm tội có tính chất côn đồ” (Điểm i Khoan1 Điều 134BLHS) sẽ áp dụng làm tình tiết định tội theo cấu thành cơ bản của Khoản 1 Điều 134 BLHS và do C đang có 02 tiền án “Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý” nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” do đó sẽ phải sẽ bị truy cứu TNHS theo điểm d, khoản 2 Điều 134 BLHS (tình tiết định khung tăng nặng là Tái phạm nguy hiểm);
 
- Đối với Đỗ Duy M, dùng tay đấm Gãy xương chính mũi gây thương tích cho T là 07% (dưới 11%) nhưng hành vi phạm tội thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”, nên M sẽ bị truy cứu TNHS theo Điểm i, khoản 1 Điều 134 BLHS;
 
2.3. Quan điểm của tác giả:
 
Trong vụ án này: Cả 2 quan điểm trên đều có những lập luận hợp lý, có căn cứ riêng, hành vi của Lê Văn C và Đỗ Duy M tuy đều là bột phát, nhất thời, trước khi thực hiện hành vi phạm tội giữa M và C tuy không có sự bàn bạc, thống nhất trước…nhưng đều là cố ý cùng thực hiện một tội phạm do đó có dấu hiệu của đồng phạm giản đơn nên nếu truy cứu TNHS đối với M và C theo tổng tỷ lệ thương tích của T là 14% (Theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 BHS) cũng là có căn cứ.
 
* Tuy nhiên: Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai bởi lẽ:
 
- Nếu truy cứu TNHS đối với M và C mà quy kết chung theo tổng tỷ lệ thương tích của T là 14% do hành vi của M và C đã gây ra thì Đỗ Duy M sẽ bị truy cứu TNHS theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134, là bất lợi cho M. Hơn nữa nội dung và các tình tiết của vụ án đã được làm sáng tỏ, có đủ căn cứ chứng minh từng hành vi cụ thể của mỗi bị can và hậu quả tương ứng của từng hành vi đó (Video; lời khai nhận tội của bị can; lời khai người làm chứng), nên cần thiết phải cá thể hoá TNHS để xử lý theo quan điểm thứ 2 là thoả đáng, đúng người, đúng tội, bảo đảm tối đa quyền lợi của M, đúng pháp luật, đúng nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm và đảm bảo nguyên tắc “có lợi cho các bị can”.
 
- Đối với Lê Văn C: Hành vi phạm tội thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm”; “Tái phạm nguy hiểm” và “Phạm tội có tính chất côn đồ”. Trong đó, tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Phạm tội có tính chất côn đồ”, được sử dụng để định tội theo cấu thành cơ bản của Khoản 1 Điều 134 BLHS; tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” áp dụng làm tình tiết định khung tăng nặng theo điểm d, khoản 2 Điều 134 BLHS;
 
 - Trường hợp trong vụ án trên nếu: C dùng điếu cày đánh vào đầu gây tử vong đối với T: Nếu lập luận theo quan điểm thứ nhất thì sẽ phải truy cứu TNHS đối với cả C và M đều về tội giết người. Điều đó là không có căn cứ, bất lợi đối với M.
 
Qua vụ án cụ thể trên, tác giả rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý của các đồng nghiệp./.
 
Nguyễn Hồng Tư, Nguyễn Tiến Đường - Viện KSND Khu vực 1-Tuyên Quang
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top