Án
treo
là
biện
pháp
miễn
chấp
hành
hình
phạt
tù
có
điều
kiện.
Án
treo
được
áp
dụng
đối
với
người
bị
xử
phạt
tù
với
mức
không
quá
3
năm
trong
những
trường
hợp
Tòa
án
căn
cứ
vào
nhân
thân
của
người
phạm
tội
và
các
tình
tiết
giảm
nhẹ
trách
nhiệm
hình
sự,
xét
thấy
không
cần
phải
buộc
họ
chấp
hành
hình
phạt
tù.
Trên
thực
tế
việc
Tòa
án
trừ
hay
không
trừ
thời
hạn
đã
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
vào
thời
gian
chấp
hành
hình
phạt
tù
khi
cho
bị
cáo
hưởng
án
treo
còn
có
nhiều
cách
hiểu
và
áp
dụng
khác
nhau.
Tại
Hội
nghị
tập
huấn
công
tác
thực
hành
quyền
công
tố
và
kiểm
sát
xét
xử
các
vụ
án
hình
sự
(Tài
liệu
giải
đáp
về
những
khó
khăn,
vướng
mắc)
do
các
đơn
vị
Vụ
7,
Vụ
14
thực
hiện
giải
đáp
năm
2020.
Tại
câu
27
trang
15
đã
giải
đáp
“Theo
khoản
1
Điều
38
Bộ
luật
Hình
sự
quy
định
thời
gian
tạm
giữ,
tạm
giam
được
trừ
vào
thời
hạn
chấp
hành
hình
phạt
tù.
Do
đó,
việc
Tòa
án
không
trừ
thời
hạn
đã
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
vào
thời
gian
chấp
hành
hình
phạt
tù
khi
cho
bị
cáo
hưởng
án
treo
là
vi
phạm
nghiêm
trọng
trong
việc
áp
dụng
Bộ
luật
Hình
sự
và
Viện
kiểm
sát
phải
kháng
nghị”.
Sau
khi
nghiên
cứu
nội
dung
giải
đáp
trên,
tác
giả
nhận
thấy:
“Tòa
án
không
trừ
thời
hạn
đã
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
vào
thời
gian
chấp
hành
hình
phạt
tù
khi
cho
bị
cáo
hưởng
án
treo
không
vi
phạm
nghiêm
trọng
trong
việc
áp
dụng
Bộ
luật
Hình
sự
và
không
có
căn
cứ
để
Viện
kiểm
sát
kháng
nghị”
Bởi
lẽ,
án
treo
là
biện
pháp
miễn
chấp
hành
hình
phạt
tù
có
điều
kiện.
Bộ
luật
Hình
sự
(BLHS)
năm
2015
không
quy
định
về
việc
trừ
thời
gian
tạm
giữ,
tạm
giam
vào
thời
gian
thử
thách
của
án
treo
(Điều
65
BLHS)
mà
chỉ
quy
định
thời
gian
tạm
giữ,
tạm
giam
sẽ
được
trừ
vào
thời
gian
chấp
hành
hình
phạt
cải
tạo
không
giam
giữ
(Điều
36
BLHS)
hoặc
hình
phạt
tù
(Điều
38
BLHS).
Để
bảo
đảm
việc
ấn
định
thời
gian
thử
thách
của
án
treo
phù
hợp
với
quy
định
của
Bộ
luật
Hình
sự.
Nghị
quyết
số
02/2018/NQ-HĐTP
ngày
15/5/2018
của
Hội
đồng
Thẩm
phán
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
(HĐTP)
có
hiệu
lực
kể
từ
ngày
15/5/2018
và
thay
thế
các
văn
bản
hướng
dẫn
trước
đây
của
HĐTP
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
về
án
treo,
trong
đó
có
hướng
dẫn
về
thời
gian
thử
thách
áp
dụng
Điều
65
BLHS
năm
2015,
tại
Điều
4
của
Nghị
quyết
này
đã
hướng
dẫn:
“Khi
cho
người
phạm
tội
hưởng
án
treo,
Tòa
án
phải
ấn
định
thời
gian
thử
thách
bằng
hai
lần
mức
hình
phạt
tù,
nhưng
không
dưới
01
năm
và
không
được
quá
05
năm”.
Ví
dụ
1:
Nguyễn
Văn
A
bị
tạm
giữ
09
ngày,
quá
trình
điều
tra
Cơ
quan
điều
tra
thay
đổi
biện
pháp
ngăn
chặn
“Cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú”;
kết
thúc
điều
tra
Viện
kiểm
sát
truy
tố
Nguyễn
Văn
A
về
tội
trộm
cắp
tài
sản
theo
khoản
1
Điều
173
BLHS
năm
2015;
do
bị
cáo
có
nhân
thân
tốt,
phạm
tội
lần
đầu
và
thuộc
trường
hợp
ít
nghiêm
trọng
Tòa
án
xử
phạt
06
tháng
tù,
nhưng
cho
bị
cáo
hưởng
án
treo,
ấn
định
thời
gian
thử
thách
12
tháng.
Như
vậy,
nếu
bị
cáo
được
trừ
vào
09
ngày
tạm
giữ
thì
thời
gian
thử
thách
chỉ
còn
11
tháng
21
ngày
là
trái
với
Điều
04
của
Nghị
quyết
đã
hướng
dẫn
nêu
trên.
Do
đó,
Tòa
án
không
trừ
thời
hạn
đã
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
vào
thời
gian
chấp
hành
hình
phạt
tù
khi
cho
bị
cáo
hưởng
án
treo
là
phù
hợp
với
các
Văn
bản
số
27/TANDTC-KHXX
ngày
17/02/2014
và
số
58/TANDTC-PC
ngày
06/5/2021
của
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
hướng
dẫn
xác
định
thời
hạn
chấp
hành
hình
phạt
tù
nhưng
cho
hưởng
án
treo,
theo
đó
thời
gian
tạm
giữ,
tạm
giam
không
được
trừ
vào
thời
hạn
chấp
hành
hình
phạt
tù
đối
với
người
phạm
tội
bị
áp
dụng
hình
phạt
tù
nhưng
cho
hưởng
án
treo.
Trường
hợp
trong
thời
gian
thử
thách
nếu
họ
phạm
tội
mới
hoặc
vi
phạm
nghĩa
vụ
buộc
phải
chấp
hành
hình
phạt
tù
của
bản
án
đã
cho
hưởng
án
treo
thì
khi
giải
quyết
Tòa
án
trừ
thời
gian
họ
đã
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
này
vào
bản
án
đã
cho
hưởng
án
treo
hoặc
bản
án
mới.
Ví
dụ
2:
Nguyễn
Văn
B
bị
tạm
giữ
09
ngày
về
tội
“Làm
nhục
người
khác”
quá
trình
điều
tra
Cơ
quan
điều
tra
thay
đổi
biện
pháp
ngăn
chặn
“Cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú”;
kết
thúc
điều
tra
Viện
kiểm
sát
truy
tố
Nguyễn
Văn
B
về
tội
Làm
nhục
người
khác
theo
khoản
2
Điều
155
BLHS
năm
2015;
do
bị
cáo
không
thuộc
trường
hợp
bị
phạt
cảnh
cáo,
phạt
tiền
hoặc
phạt
cải
tạo
không
giam
giữ
Tòa
án
xử
phạt
03
tháng
tù,
nhưng
cho
bị
cáo
hưởng
án
treo,
ấn
định
thời
gian
thử
thách
12
tháng.
Theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
38
BLHS
quy
định
“Tù
có
thời
hạn
đối
với
người
phạm
tội
có
mức
tối
thiểu
là
03
tháng
và
mức
tối
đa
là
20
năm”.
Như
vậy,
nếu
Tòa
án
trừ
cho
bị
cáo
09
ngày
tạm
giữ
thì
bị
cáo
còn
phải
chấp
hành
hình
phạt
tù
02
tháng
21
ngày,
thời
gian
thử
thách
là
12
tháng
là
trái
với
khoản
1
Điều
38
BLHS.
Tại
khoản
3
Điều
3
Nghị
quyết
số
02/2018/NQ-HĐTP
ngày
15/5/2018
của
HĐTP
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
quy
định
những
trường
hợp
không
cho
hưởng
án
treo
“Người
được
hưởng
án
treo
phạm
tội
mới
trong
thời
gian
thử
thách”.
Tại
khoản
1
Điều
7
Nghị
quyết
số
02/2018/NQ-HĐTP
“Trường
hợp
người
được
hưởng
án
treo
phạm
tội
trong
thời
gian
thử
thách
thì
Tòa
án
quyết
định
hình
phạt
đối
với
tội
phạm
mới
và
tổng
hợp
với
hình
phạt
tù
của
bản
án
trước
theo
quy
định
tại
Điều
55
và
Điều
56
của
BLHS;
nếu
họ
đã
bị
tạm
giam,
tạm
giữ
thì
thời
hạn
bị
tạm
giam,
tạm
giữ
được
trừ
vào
thời
hạn
chấp
hành
hình
phạt
tù”.
Theo
hướng
dẫn
trên,
theo
tác
giả
nhận
thấy
người
được
hưởng
án
treo
phạm
tội
trong
thời
gian
thử
thách
phải
áp
dụng
hình
phạt
tù
(tức
là
bị
cáo
không
được
hưởng
án
treo
nữa)
và
tổng
hợp
với
hình
phạt
tù
của
bản
án
trước
theo
quy
định
tại
Điều
55
và
Điều
56
của
BLHS.
Do
đó,
nếu
họ
đã
bị
tạm
giam,
tạm
giữ
thì
thời
hạn
bị
tạm
giam,
tạm
giữ
được
trừ
vào
thời
hạn
chấp
hành
hình
phạt
tù
là
phù
hợp
theo
khoản
1
Điều
38
BLHS.
Nếu
người
được
hưởng
án
treo
không
phạm
tội
mới
trong
thời
gian
thử
thách
thì
Tòa
án
không
trừ
thời
hạn
đã
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
vào
thời
gian
chấp
hành
hình
phạt
tù
cũng
như
không
trừ
vào
thời
bị
tạm
giam,
tạm
giữ
vào
thời
gian
thử
thách
là
phù
hợp
với
quy
định
của
pháp
luật
hiện
hành.
Rất
mong
nhận
được
sự
quan
tâm,
trao
đổi
ý
kiến
của
bạn
đọc
về
nội
dung
trên,
để
nhận
thức
thống
nhất
trong
việc
áp
dụng
pháp
luật.
Cấn
Văn
Tuấn
-
VKSND
huyện
Hàm
Yên