Nghiên
cứu
chứng
cứ,
đánh
giá
chứng
cứ
theo
quy
định
tại
Điều
93
và
Điều
108
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
(BLTTDS)
phải
bảo
đảm
tính
khách
quan,
toàn
diện
đầy
đủ,
chính
xác,
sự
liên
quan
giữa
các
chứng
cứ
và
khảng
định
tính
hợp
pháp,
tính
liên
quan,
giá
trị
chứng
minh
của
từng
chứng
cứ,
có
ý
nghĩa
rất
quan
trọng.
Bởi
lẽ,
tất
cả
các
hoạt
động
tố
tụng
dân
sự
đều
phải
đi
đến
kết
luận
về
giá
trị
chứng
minh
của
chứng
cứ,
trên
cơ
sở
đó
mới
có
thể
kết
luận
về
vụ
án,
vụ
việc
dân
sự.
Trong
Tố
tụng
dân
sự,
khi
có
đương
sự
nộp
đơn
khởi
kiện
yêu
cầu
đến
Tòa
án
và
được
Tòa
án
thụ
lý
giải
quyết
làm
phát
sinh
vụ
việc
dân
sự
(gồm
vụ
án
dân
sự
và
vụ
việc
dân
sự).
Quá
trình
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự
gồm
nguyên
đơn,
bị
đơn,
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan,
người
yêu
cầu
phải
thực
hiện
chứng
minh
cho
yêu
cầu
của
mình
là
có
căn
cứ
và
hợp
pháp.
Đây
cũng
là
nghĩa
vụ
của
đương
sự.
Để
chứng
minh
cho
yêu
cầu
của
mình
là
có
căn
cứ
và
hợp
pháp
thì
đương
sự
bắt
buộc
phải
đưa
ra
chứng
cứ
nhằm
bảo
vệ
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
mình
trước
Tòa
án
(trừ
các
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
a,
b,
c
khoản
1
Điều
91và
Điều
92
BLTTDS),
đồng
thời
với
nhiệm
vụ
quyền
hạn
của
mình
thì
Cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
dân
sự,
người
tiến
hành
tố
tụng
dân
sự
lại
có
trách
nhiệm
thu
thập,
nghiên
cứu
và
đánh
giá
chứng
cứ
mà
đương
sự
xuất
trình
cũng
như
do
chính
Tòa
án
thu
thập
để
có
cơ
sở
bảo
vệ
chính
xác,
kịp
thời
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
các
đương
sự
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự.
Khi
nghiên
cứu
và
đánh
giá
chứng
cứ,
phải
xác
định
chứng
cứ
trong
vụ
việc
dân
sự
là
những
gì
có
thật
được
đương
sự
và
cá
nhân,
cơ
quan,
tổ
chức
khác
giao
nộp,
xuất
trình
cho
Tòa
án
trong
quá
trình
tố
tụng
hoặc
do
Tòa
án
thu
thập
được
theo
trình
tự,
thủ
tục
do
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
quy
định
và
Tòa
án
dùng
làm
căn
cứ
để
xác
định
các
tình
tiết
khách
quan
của
vụ
án
cũng
như
xác
định
yêu
cầu
hay
sự
phản
đối
của
đương
sự
là
có
căn
cứ
và
hợp
pháp;
đồng
thời
cần
phải
phân
biệt
rõ
tài
liệu
nào
là
nguồn
chứng
cứ
và
tài
liệu
nào
không
phải
là
nguồn
chứng
cứ
khi
nghiên
cứu
vụ
án
dân
sự.
Thực
tiễn
khi
nghiên
cứu,
đánh
giá
chứng
cứ
phải
hiểu
được
đặc
điểm
và
đặc
tính
của
chứng
cứ,
đó
là:
*
Chứng
cứ
có
03
đặc
điểm
sau:
Chứng
cứ
là
những
gì
có
thật;
Được
đương
sự,
cá
nhân
và
cơ
quan,
tổ
chức
khác
giao
nộp,
Tòa
án
thu
thập
theo
trình
tự
thủ
tục
do
BLTTDS
quy
định;
Được
Tòa
án
sử
dụng
làm
căn
cứ
để
xác
định
các
tình
tiết
khách
quan
của
vụ
án
cũng
như
xác
định
yêu
cầu
sự
phản
đối
của
đương
sự
là
có
căn
cứ
và
hợp
pháp
hay
không.
*
Chứng
cứ
có
03
đặc
tính
sau:
Tính
khách
quan,
bởi
chứng
cứ
là
cơ
sở
để
nhận
thức
vụ
việc
dân
sự;
Tính
liên
quan,
bởi
chứng
cứ
được
Tòa
sử
dụng
làm
căn
cứ
để
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự;
Tính
hợp
pháp,
bởi
việc
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự
luôn
phải
đảm
bảo
sự
tuân
thủ
của
pháp
luật.
Trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự
các
chủ
thể
phải
chứng
minh
phải
tuân
thủ
đúng
các
quy
định
của
pháp
luật
về
chứng
cứ.
Do
đó,
khi
nghiên
cứu
các
tài
liệu
chứng
cứ
có
trong
hồ
sơ
vụ
việc
dân
sự
cần
xem
xét,
đánh
giá
khách
quan
đối
với
những
gì
không
được
rút
ra
từ
các
nguồn
do
pháp
luật
quy
định,
không
được
thu
thập,
nghiên
cứu
đánh
giá
và
sử
dụng
theo
đúng
quy
định
của
pháp
luật
thì
không
được
coi
là
chứng
cứ,
không
được
sử
dụng
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự.
Theo
quy
định
tại
Điều
93
BLTTDS,
thì
một
trong
những
điều
kiện
của
chứng
cứ
phải
là
được
đương
sự
và
cá
nhân,
cơ
quan,
tổ
chức
khác
giao
nộp,
xuất
trình
trong
quá
trình
tố
tụng
cho
Tòa
án
hoặc
do
Tòa
án
thu
thập
theo
trình
tự
thủ
tục
do
BLTTDS
quy
định;
do
đó,
việc
giao
nộp
chứng
cứ
và
thu
thập
chứng
cứ
phải
thực
hiện
theo
đúng
quy
định
của
các
điều
luật
tương
ứng
của
BLTTDS
năm
2015
và
Nghị
quyết
số
04/2016/NQ-HĐTP
ngày
30/12/2016
của
Hội
đồng
Thâm
phán
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
hướng
dẫn
thi
hành
một
số
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự...;
Theo
quy
định
tại
Điều
94
BLTTDS
năm
2015,
để
được
coi
là
chứng
cứ
thì
việc
xác
định
chứng
cứ
phải
được
thu
thập
theo
các
nguồn
sau
đây:
tài
liệu
đọc
được,
nghe
được,
nhìn
được,
dữ
liệu
điện
tử;
vật
chứng;
lời
khai
của
đương
sự;
lời
khai
của
người
làm
chứng;
kết
luận
giám
định;
biên
bản
ghi
kết
quả
thẩm
định
tại
chỗ;
kết
quả
định
giá
tài
sản,
thẩm
định
giá
tài
sản;
văn
bản
ghi
nhận
sự
kiện,
hành
vi
pháp
lý
do
người
có
chức
năng
lập;
văn
bản
công
chứng,
chứng
thực
và
các
nguồn
khác
mà
pháp
luật
quy
định.
Theo
quy
định
tại
Điều
95
BLTTDS
năm
2015,
thì
chứng
cứ
được
xác
định
như
sau:
-
Tài
liệu
đọc
được
nội
dung
được
coi
là
chứng
cứ,
nếu
là
bản
chính
hoặc
bản
sao
có
công
chứng,
chứng
thực
hợp
pháp
hoặc
do
cơ
quan,
tổ
chức
có
thẩm
quyền
cung
cấp,
xác
nhận.
Thí
dụ:
Đương
sự
giao
nộp
cho
Tòa
án
chứng
cứ
bằng
tiếng
dân
tộc
thiểu
số,
tiếng
nước
ngoài
phải
kèm
theo
bản
dịch
sang
tiếng
Việt,
được
công
chứng,
chứng
thực
hợp
pháp
thì
được
coi
là
chứng
cứ.
Trong
trường
hợp
đương
sự
chưa
dịch
chứng
cứ
đó
sang
tiếng
Việt
hoặc
đã
dịch
sang
tiếng
Việt
nhưng
chưa
được
công
chứng,
chứng
thực
hợp
pháp
thì
không
coi
là
chứng
cứ.
-
Tài
liệu
nghe
được,
nhìn
được,
được
coi
là
chứng
cứ
nếu
được
xuất
trình
kèm
theo
văn
bản
trình
bày
của
người
có
tài
liệu
đó
về
xuất
xứ
của
tài
liệu
nếu
họ
tự
thu
âm,
thu
hình
hoặc
văn
bản
có
xác
nhận
của
người
đã
cung
cấp
cho
người
xuất
trình
về
xuất
xứ
của
tài
liệu
đó
hoặc
văn
bản
về
sự
việc
liên
quan
đến
thu
âm,
thu
hình
đó.
Như
vậy,
nếu
đương
sự
không
xuất
trình
các
văn
bản
nêu
trên,
thì
tài
liệu
nghe
được,
nhìn
được
mà
đương
tự
giao
nộp
không
được
coi
là
chứng
cứ.
-
Thông
điệp
dữ
liệu
điện
tử
được
thể
hiện
dưới
hình
thức
trao
đổi
dữ
liệu
điện
tử,
chứng
từ
điện
tử,
thư
điện
tử,
điện
báo,
Fax
và
các
hình
thức
tương
tự
khác
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
giao
dịch
điện
tử.
-
Vật
chứng
là
chứng
cứ
phải
là
hiện
vật
gốc
liên
quan
đến
vụ
việc.
-
Lời
khai
của
đương
sự,
lời
khai
của
người
làm
chứng
được
coi
là
chứng
cứ
nếu
được
ghi
bằng
văn
bản,
bằng
ghi
âm,
đĩa
ghi
âm,
băng
ghi
hình,
đĩa
ghi
hình,
thiết
bị
khác
chứa
âm
thanh,
hình
ảnh
hoặc
khai
bằng
lời
khai
tại
phiên
tòa.
-
Kết
luận
giám
định
được
coi
là
chứng
cứ,
nếu
việc
giám
định
đó
được
tiến
hành
theo
đúng
thủ
tục
do
pháp
luật
quy
định.
-
Biên
bản
ghi
kết
quả
thẩm
định
tại
chỗ
được
coi
là
chứng
cứ,
nếu
việc
thẩm
định
được
tiến
hành
theo
đúng
thủ
tục
do
pháp
luật
quy
định.
-
Kết
quả
định
giá
tài
sản,
kết
quả
thẩm
định
giá
tài
sản
được
coi
là
chứng
cứ
nếu
việc
định
giá,
thẩm
định
giá
được
tiến
hành
theo
đúng
thủ
tục
pháp
luật
quy
định.
-
Văn
bản
ghi
nhận
sự
kiện,
hành
vi
pháp
lý
do
người
có
chức
năng
lập
tại
chỗ
được
coi
là
chứng
cứ,
nếu
việc
lập
văn
bản
ghi
nhận
sự
kiện,
hành
vi
pháp
lý
được
tiến
hành
theo
đúng
thủ
tục
pháp
luật
quy
định.
-
Các
nguồn
khác
mà
pháp
luật
quy
định
được
xác
định
là
chứng
cứ
theo
điều
kiện,
thủ
tục
mà
pháp
luật
quy
định.
Trên
đây,
là
một
số
kinh
nghiệm
trong
việc
nghiên
cứu,
đánh
giá
chứng
cứ
theo
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự,
rất
mong
sự
quan
tâm
đóng
góp
ý
kiến
của
bạn
đọc.
Cấn
Văn
Tuấn
-
VKSND
huyện
Hàm
Yên