Trong
thời
gian
qua,
tình
trạng
xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp
đang
diễn
ra
với
nhiều
mức
độ
và
tính
chất
nghiêm
trọng
khác
nhau.
Tuy
nhiên,
công
tác
đấu
tranh
phòng,
chống
loại
tội
phạm
này
vẫn
còn
nhiều
khó
khăn,
vướng
mắc,
đặc
biệt
là
trong
việc
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
các
chủ
thể
có
liên
quan.
Điều
này
ảnh
hưởng
không
nhỏ
đến
quá
trình
xử
lý,
truy
tố
và
xét
xử
vụ
án
hình
sự
liên
quan
đến
hành
vi
xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp.
Theo
quy
định
tại
khoản
4,
Điều
4
Luật
Sở
hữu
trí
tuệ
năm
2005
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2022),
quyền
sở
hữu
công
nghiệp
là
quyền
của
tổ
chức,
cá
nhân
đối
với
các
đối
tượng
như
sáng
chế,
kiểu
dáng
công
nghiệp,
nhãn
hiệu,
chỉ
dẫn
địa
lý...
được
Nhà
nước
bảo
hộ.
Điều
226
Bộ
luật
Hình
sự
năm
2015
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2017)
quy
định
về
tội
“Xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp”,
trong
đó
hành
vi
sử
dụng
trái
phép
nhãn
hiệu
hoặc
chỉ
dẫn
địa
lý
với
quy
mô
thương
mại
có
thể
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự.
Trong
thực
tiễn
giải
quyết
vụ
án
hình
sự
về
xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp,
đặc
biệt
là
khi
chủ
sở
hữu
quyền
là
tổ
chức
nước
ngoài,
việc
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
tổ
chức
được
ủy
quyền
thực
thi
bảo
vệ
quyền
sở
hữu
trí
tuệ
tại
Việt
Nam
cần
được
cấp
trên
hướng
dẫn,
thống
nhất
đường
lối
giải
quyết.
Trong
phạm
vi
bài
viết,
tác
giả
xin
đưa
ra
một
tình
huống
cụ
thể
để
chúng
ta
cùng
nghiên
cứu,
trao
đổi
như
sau:
Nội
dung
vụ
án:
Hồi
15
giờ
15
phút
ngày
15/12/2024,
tại
địa
điểm
kinh
doanh
của
Công
ty
TNHH
MTV
Vàng
bạc
trang
sức
GS
thuộc
tổ
dân
phố
X,
phường
Y,
thành
phố
Tuyên
Quang,
tỉnh
Tuyên
Quang;
T.T.T.G
(cư
trú
tại
địa
chỉ
trên,
là
Giám
đốc
Công
ty)
đã
có
hành
vi
Xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp
dưới
hình
thức
kinh
doanh
70
(Bảy
mươi)
sản
phẩm
đồ
trang
sức
giả
mạo
nhãn
hiệu
CHANEL
đang
được
bảo
hộ
tại
Việt
Nam,
hàng
hóa
vi
phạm
có
trị
giá
280.866.000
đồng
nhằm
mục
đích
bán
kiếm
lời.
Kết
quả
điều
tra
xác
định
nguồn
gốc
70
sản
phẩm
đồ
trang
sức
giả
mạo
nhãn
hiệu
trên
do
G
thu
mua
của
những
người
dân
(không
xác
định
được
tên,
tuổi,
địa
chỉ)
mang
đến
cửa
hàng
của
G
để
bán
từ
khoảng
tháng
11/2024,
khi
mua
G
biết
rõ
đây
là
hàng
hóa
giả
mạo
nhãn
hiệu
CHANEL.
Quá
trình
giải
quyết
vụ
án,
Công
ty
TNHH
Tư
Vấn
Sở
Hữu
Trí
Tuệ
IPT
(đại
diện
sở
hữu
công
nghiệp
theo
ủy
quyền
của
Chanel
trong
việc
thực
thi
bảo
vệ
quyền
sở
hữu
trí
tuệ
tại
Việt
Nam)
chưa
có
yêu
cầu
dân
sự
trong
vụ
án
này
và
sẽ
tiến
hành
khởi
kiện
trong
một
vụ
án
dân
sự
khác
để
yêu
cầu
bồi
thường
thiệt
hại
trong
trường
hợp
có
đủ
căn
cứ
để
chứng
minh
thiệt
hại
do
hành
vi
của
G
gây
ra.
Thực
tiễn
còn
có
nhiều
quan
điểm
khác
nhau
về
việc
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
tổ
chức
đại
diện
sở
hữu
công
nghiệp
theo
ủy
quyền
của
nhãn
hiệu
bị
xâm
phạm
trong
việc
thực
thi
bảo
vệ
quyền
sở
hữu
trí
tuệ
tại
Việt
Nam
(trong
tình
huống
này
là
Công
ty
TNHH
Tư
vấn
Sở
Hữu
Trí
Tuệ
IPT,
gọi
tắt
là
Công
ty
IPT),
cụ
thể
như
sau:
Quan
điểm
thứ
nhất
cho
rằng:
Công
ty
TNHH
Tư
vấn
Sở
Hữu
Trí
Tuệ
IPT
tham
gia
tố
tụng
với
tư
cách
bị
hại
do
khách
thể
của
tội
“Xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp”
là
quyền
sở
hữu
đối
với
nhãn
hiệu,
chỉ
dẫn
địa
lý.
Công
ty
IPT
là
tổ
chức
bị
thiệt
hại
trực
tiếp
về
uy
tín
và
đe
dọa
bị
thiệt
hại
về
tài
sản
do
hành
vi
cố
ý
xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp
đối
với
nhãn
hiệu
trang
sức
CHANEL
đang
được
bảo
hộ
tại
Việt
Nam
gây
ra.
Tuy
G
chưa
bán
được
sản
phẩm
nhưng
việc
thu
mua,
trưng
bày
hàng
hóa
giả
mạo
nhãn
hiệu
CHANEL
để
bán
với
quy
mô
thương
mại
nhằm
mục
đích
thu
lợi
nhuận
đã
dẫn
đến
việc
người
mua
hiểu
nhầm
về
chất
lượng
sản
phẩm,
làm
suy
giảm
niềm
tin
của
người
tiêu
dùng
gây
ảnh
hưởng
xấu
đến
uy
tín
của
nhãn
hiệu
trang
sức
CHANEL
và
nếu
bán
được
cho
khách
hàng
sẽ
gây
thiệt
hại
cho
Công
ty.
Quan
điểm
thứ
hai
cho
rằng:
Cần
đưa
Công
ty
TNHH
Tư
vấn
Sở
Hữu
Trí
Tuệ
IPT
tham
gia
tố
tụng
với
tư
cách
là
nguyên
đơn
dân
sự.
Do
hành
vi
phạm
tội
của
bị
cáo
đã
xâm
phạm
trực
tiếp
đến
khách
thể
là
trật
tự
quản
lý
Nhà
nước
về
kinh
tế
nhưng
cũng
gián
tiếp
gây
thiệt
hại
về
uy
tín
cho
Công
ty.
Quan
điểm
thứ
ba
cho
rằng:
Đối
với
tội
xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp,
tùy
vào
các
tình
tiết
của
vụ
án
mà
việc
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
tổ
chức
đại
diện
sở
hữu
công
nghiệp
theo
ủy
quyền
của
nhãn
hiệu
bị
xâm
phạm
trong
việc
thực
thi
bảo
vệ
quyền
sở
hữu
trí
tuệ
tại
Việt
Nam
khác
nhau.
Xét
về
khách
thể
của
tội
phạm,
hành
vi
xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp
đã
xâm
phạm
đến
hai
khách
thể
là
trật
tự
quản
lý
kinh
tế
của
Nhà
nước
và
quyền
sở
hữu
đối
với
nhãn
hiệu,
chỉ
dẫn
địa
lý
được
bảo
hộ
tại
Việt
Nam.
Vì
vậy,
khi
xem
xét
cần
phải
dựa
vào
các
yếu
tố
khác
nhau
như
ý
thức
chủ
quan
và
khách
quan,
hậu
quả
trực
tiếp
đã
gây
ra
để
xác
định
đâu
là
khách
thể
trực
tiếp,
từ
đó
xác
định
chính
xác
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
đương
sự.
Tác
giả
đồng
tình
với
quan
điểm
thứ
ba
bởi
những
lý
do
sau:
-
Hành
vi
phạm
tội
chủ
yếu
xâm
phạm
trật
tự
quản
lý
kinh
tế
của
Nhà
nước,
còn
chủ
sở
hữu
nhãn
hiệu
CHANEL
bị
xâm
phạm
về
quyền
sở
hữu
đối
với
nhãn
hiệu
nhưng
chưa
gây
thiệt
hại
về
tài
sản
do
G
chưa
bán
được
sản
phẩm,
không
có
đủ
căn
cứ
chứng
minh
cụ
thể
sẽ
gây
thiệt
hại
hay
thiệt
hại
về
uy
tín
do
không
chứng
minh
được
từ
khi
mua
sản
phẩm
giả
mạo
nhãn
hiệu
CHANEL
để
bày
bán
đến
khi
bị
cơ
quan
chức
năng
phát
hiện,
thu
giữ
đã
có
người
tiêu
dùng
tiếp
cận
với
70
sản
phẩm
trên
làm
suy
giảm
niềm
tin
vào
sản
phẩm
chính
hãng
chưa
nên
không
xác
định
được
thiệt
hại
xảy
ra.
Do
vậy,
không
thể
xác
định
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
đang
nắm
giữ
quyền
sở
hữu
về
nhãn
hiệu
trên
là
bị
hại.
-
Công
ty
IPT
chỉ
được
Công
ty
CHANEL
ủy
quyền
đăng
ký
và
thực
thi
bảo
vệ
quyền
sở
hữu
trí
tuệ
tại
Việt
Nam
đối
với
nhãn
hiệu
trang
sức
CHANEL,
phạm
vi
ủy
quyền
bao
gồm
xác
nhận
và
khẳng
định
hàng
hóa
khi
có
yêu
cầu
của
cơ
quan
chức
năng,
tham
gia
tố
tụng
để
bảo
vệ
quyền
sở
hữu
đối
với
nhãn
hiệu
CHANEL
nên
Công
ty
IPT
không
bị
thiệt
hại
về
tài
sản,
uy
tín
do
tội
phạm
gây
ra
hoặc
đe
dọa
gây
ra,
vì
vậy
không
phải
là
bị
hại
theo
quy
định
tại
Điều
62
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự.
-
Công
ty
IPT
không
bị
thiệt
hại
gì
nhưng
quyết
định
của
Tòa
án
lại
liên
quan
đến
quyền
và
nghĩa
vụ
của
Công
ty
trong
việc
thực
thi
bảo
vệ
quyền
sở
hữu
trí
tuệ
đối
với
nhãn
hiệu
CHANEL
tại
Việt
Nam
nên
khi
tham
gia
tố
tụng,
IPT
có
nhiệm
vụ
xác
nhận,
khẳng
định
hàng
hóa
vi
phạm
có
phải
là
hàng
hóa
giả
mạo
nhãn
hiệu
CHANEL
không,
việc
phán
quyết
của
Tòa
án,
nhất
là
liên
quan
đến
xử
lý
70
sản
phẩm
hàng
hóa
vi
phạm
(tịch
thu
hay
trả
lại
cho
bị
cáo)
sẽ
ảnh
hưởng
đến
quyền
lợi
của
Công
ty
IPT
trong
quá
trình
thực
hiện
hoạt
động
được
CHANEL
ủy
quyền.
Như
vậy,
có
thể
nói
trong
tình
huống
cụ
thể
trên,
bản
thân
G
nói
riêng
và
Công
ty
GS
nói
chung
không
được
nhượng
quyền,
ủy
quyền
kinh
doanh,
không
kinh
doanh
liên
kết
trang
sức
nhãn
hiệu
CHANEL
nên
đối
tượng
G
hướng
đến
trực
tiếp
là
trật
tự
quản
lý
nhà
nước
về
quyền
bảo
hộ
nhãn
hiệu
tại
Việt
Nam
nhằm
mục
đích
thu
lợi
nhuận.
Việc
kinh
doanh
hàng
hóa
(trang
sức)
giả
mạo
nhãn
hiệu
CHANEL
của
G
(tổng
trị
giá
280.866.000
đồng)
với
quy
mô
thương
mại
nhằm
mục
đích
hưởng
lợi
nhuận
đã
trực
tiếp
xâm
phạm
đến
trật
tự
quản
lý
nhà
nước
về
kinh
tế
nhưng
chưa
đủ
căn
cứ
chứng
minh
gây
thiệt
hại
về
tài
sản
cho
cá
nhân,
tổ
chức
khác;
Công
ty
CHANEL
(có
trụ
sở
ở
nước
ngoài)
không
bị
thiệt
hại
gì,
đã
ủy
quyền
cho
Công
ty
IPT
đăng
ký
quyền
bảo
hộ
nhãn
hiệu
CHANEL
và
thực
thi
pháp
luật
về
bảo
vệ
nhãn
hiệu
tại
Việt
Nam
nên
trong
tình
huống
cụ
thể
trên,
cần
xác
định
Công
ty
TNHH
Tư
vấn
Sở
Hữu
Trí
Tuệ
IPT
là
người
có
quyền
lợi
liên
quan
trong
vụ
án
hình
sự.
Tuy
nhiên,
do
chưa
có
văn
bản
hướng
dẫn
cụ
thể
của
liên
ngành
tố
tụng
trung
ương,
nên
thực
tiễn
vẫn
có
sự
không
thống
nhất.
Vì
vậy,
đề
nghị
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
phối
hợp,
trao
đổi
thống
nhất
việc
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
trong
các
vụ
án
xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp
để
bảo
đảm
áp
dụng
pháp
luật
thống
nhất
và
bảo
vệ
tốt
nhất
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
của
các
bên
liên
quan.
Trên
đây
là
quan
điểm
của
tác
giả
về
việc
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
trong
vụ
án
Xâm
phạm
quyền
sở
hữu
công
nghiệp,
rất
mong
nhận
được
ý
kiến
trao
đổi,
thảo
luận
của
các
đồng
chí,
đồng
nghiệp
và
hướng
dẫn
của
cấp
trên
nhằm
áp
dụng,
thực
hiện
thống
nhất
theo
quy
định./.
Trần
Đức
Hiệp
-
Nguyễn
Thị
Như
Ngọc
Viện
KSND
Khu
vực
1