Tạm
giam
là
01
trong
08
biện
pháp
ngăn
chặn
theo
quy
định
tại
khoản
1,
Điều
109
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
2015
(BLTTHS),
các
biện
pháp
ngăn
chặn
gồm:
Giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp,
bắt,
tạm
giữ,
tạm
giam,
bảo
lĩnh,
đặt
tiền
để
bảo
đảm,
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú,
tạm
hoãn
xuất
cảnh.
Tạm
giam
là
biện
pháp
ngăn
chặn
nghiêm
khắc
nhất
và
có
tầm
quan
trọng
đặc
biệt
trong
công
tác
đấu
tranh
phòng,
chống
tội
phạm.
Việc
áp
dụng
biện
pháp
tạm
giam
nhằm
ngăn
chặn
bị
can,
bị
cáo
bỏ
trốn
hoặc
tiếp
tục
phạm
tội,
ngoài
ra
biện
pháp
ngăn
chặn
này
còn
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
người
tiến
hành
tố
tụng
trong
việc
giải
quyết
các
vụ
án
trong
mỗi
giai
đoạn
tố
tụng
(điều
tra,
truy
tố,
xét
xử,
thi
hành
án).
Biện
pháp
ngăn
chặn
tạm
giam
theo
quy
định
tại
Điều
119
BLTTHS
2015
có
rất
nhiều
điểm
mới
và
quy
định
chặt
chẽ
hơn
về
căn
cứ
áp
dụng
biện
pháp
tạm
giam
so
với
Điều
88
BLTTHS
2003.
Tuy
nhiên,
qua
thời
gian
thực
hiện
BLTTHS
2015
thấy
còn
có
vướng
mắc,
bất
cập
cần
được
tháo
gỡ
trong
việc
áp
dụng
biện
pháp
tạm
giam
theo
quy
định
tại
các
điểm
b,
c,
d
khoản
2,
Điều
119
BLTTHS.
Điều
119
BLTTHS
quy
định:
1.
…
2.
Tạm
giam
có
thể
áp
dụng
đối
với
bị
can,
bị
cáo
về
tội
nghiêm
trọng,
tội
ít
nghiêm
trọng
mà
Bộ
luật
hình
sự
quy
định
hình
phạt
tù
trên
02
năm
khi
có
căn
cứ
xác
định
người
đó
thuộc
một
trong
các
trường
hợp:
a)
Đã
bị
áp
dụng
biện
pháp
ngăn
chặn
khác
nhưng
vi
phạm;
b)
Không
có
nơi
cư
trú
rõ
ràng
hoặc
không
xác
định
được
lý
lịch
của
bị
can;
c)
Bỏ
trốn
và
bị
bắt
theo
quyết
định
truy
nã
hoặc
có
dấu
hiệu
bỏ
trốn;
d)
Tiếp
tục
phạm
tội
hoặc
có
dấu
hiệu
tiếp
tục
phạm
tội;
đ)
Có
hành
vi
mua
chuộc,
cưỡng
ép,
xúi
giục
người
khác
khai
báo
gian
dối,
cung
cấp
tài
liệu
sai
sự
thật;
tiêu
hủy,
giả
mạo
chứng
cứ,
tài
liệu,
đồ
vật
của
vụ
án,
tẩu
tán
tài
sản
liên
quan
đến
vụ
án;
đe
dọa,
khống
chế,
trả
thù
người
làm
chứng,
bị
hại,
người
tố
giác
tội
phạm
và
người
thân
thích
của
những
người
này.
3.
…
Từ
những
quy
định
nêu
trên
đã
có
rất
nhiều
ý
kiến
khác
nhau
giữa
các
Cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
và
Người
tiến
hành
tố
tụng
trong
việc
áp
dụng
biện
pháp
này
đối
với
bị
can,
bị
cáo
về
tội
nghiêm
trọng,
tội
ít
nghiêm
trọng,
cụ
thể:
-
Về
quy
định
“Không
có
nơi
cư
trú
rõ
ràng”:
Có
ý
kiến
cho
rằng
để
xác
định
được
bị
can,
bị
cáo
không
có
nơi
cư
trú
rõ
ràng
thì
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
người
tiến
hành
tố
tụng
phải
căn
cứ
vào
các
quy
định
của
Luật
Cư
trú
và
các
văn
bản
quy
phạm
pháp
luật
có
liên
quan
hướng
dẫn
thi
hành
Luật
Cư
trú
để
áp
dụng.
Điều
12,
Luật
Cư
trú
quy
định:
“1.
Nơi
cư
trú
của
công
dân
là
chỗ
ở
hợp
pháp
mà
người
đó
thường
xuyên
sinh
sống.
Nơi
cư
trú
của
công
dân
là
nơi
thường
trú
hoặc
nơi
tạm
trú.
Chỗ
ở
hợp
pháp
là
nhà
ở,
phương
tiện
hoặc
nhà
khác
mà
công
dân
sử
dụng
để
cư
trú.
Chỗ
ở
hợp
pháp
có
thể
thuộc
quyền
sở
hữu
của
công
dân
hoặc
được
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
cho
thuê,
cho
mượn,
cho
ở
nhờ
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Nơi
thường
trú
là
nơi
công
dân
sinh
sống
thường
xuyên,
ổn
định,
không
có
thời
hạn
tại
một
chỗ
ở
nhất
định
và
đã
đăng
ký
thường
trú.
Nơi
tạm
trú
là
nơi
công
dân
sinh
sống
ngoài
nơi
đăng
ký
thường
trú
và
đã
đăng
ký
tạm
trú.
2.
Trường
hợp
không
xác
định
được
nơi
cư
trú
của
công
dân
theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
này
thì
nơi
cư
trú
của
công
dân
là
nơi
người
đó
đang
sinh
sống.
Nếu
chiếu
theo
các
quy
định
này
thì
việc
xác
định
một
công
dân
có
nơi
cư
trú
rõ
ràng
phải
thuộc
một
trong
các
trường
hợp:
là
nơi
thường
trú,
nơi
tạm
trú
hoặc
nơi
người
đó
đang
sinh
sống.
Trên
thực
tế
có
rất
nhiều
vụ
án
để
xác
định
được
bị
can,
bị
cáo
có
nơi
cư
trú
rõ
ràng
còn
gặp
nhiều
khó
khăn,
vướng
mắc,
như:
Bị
can,
bị
cáo
là
người
ngoại
tỉnh
hoặc
bị
can,
bị
cáo
vừa
có
nơi
thường
trú
vừa
có
nơi
tạm
trú
lại
có
nơi
đang
sinh
sống
thì
việc
xác
định
nơi
cư
trú
như
thế
nào?…
ví
dụ:
Bị
can,
bị
cáo
là
người
ngoại
tỉnh
có
nơi
thường
trú
cụ
thể,
đến
địa
bàn
tỉnh
nơi
thực
hiện
tội
phạm
đăng
ký
tạm
trú
sau
đó
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội…
-
Về
các
quy
định
“…
có
dấu
hiệu
bỏ
trốn…
có
dấu
hiệu
tiếp
tục
phạm
tội…”.
Trong
quá
trình
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
để
xác
định
được
bị
can,
bị
cáo
có
dấu
hiệu
bỏ
trốn
hoặc
có
dấu
hiệu
tiếp
tục
phạm
tội
thì
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
người
tiến
hành
tố
tụng
phải
dựa
vào
các
tài
liệu,
chứng
cứ
có
trong
hồ
sơ
vụ
án
để
xem
xét
đánh
giá.
Nhưng
thực
tế
việc
xem
xét,
đánh
giá
lại
gặp
nhiều
vướng
mắc,
vì:
muốn
xem
xét
các
dấu
hiệu
trên
phải
dựa
vào
yếu
tố
thời
gian,
ý
thức
chủ
quan,
diễn
biến
hành
vi
của
bị
can,
bị
cáo…
để
xác
định.
Ví
dụ:
Trường
hợp
01
người
nghiện
ma
túy
bị
bắt
quả
tang
về
hành
vi
tàng
trử
trái
phép
chất
ma
túy
(đủ
khối
lượng
để
xử
lý
hình
sự
theo
khoản
1,
Điều
249
BLHS),
CQĐT
đã
áp
dụng
biện
pháp
tạm
giữ.
Hết
thời
hạn
tạm
giữ
do
có
đủ
yếu
tố
cấu
thành
tội
phạm
CQĐT
đã
ra
quyết
định
khởi
tố
vụ
án,
bị
can,
tuy
nhiên
đã
có
nhiều
quan
điểm
khác
nhau
trong
việc
có
áp
dụng
biện
pháp
tạm
giam
hay
không:
Quan
điểm
1.
Không
áp
dụng
biệp
pháp
tạm
giam
nếu
không
thuộc
một
trong
các
căn
cứ
quy
định
tại
khoản
2,
Điều
119
BLTTHS.
Quan
điểm
2.
Phải
áp
dụng
biện
pháp
tạm
giam
vì
trong
trường
hợp
này
bị
can
là
người
nghiện
ma
túy
nếu
không
áp
dụng
biện
pháp
tạm
giam
bị
can
sẽ
tiếp
tục
phạm
tội.
Từ
ví
dụ
trên
cho
thấy:
Việc
áp
dụng
biện
pháp
tạm
giam
phải
đảm
bảo
tính
có
căn
cứ,
phải
thực
hiện
đúng
quy
định
của
pháp
luật.
Như
nội
dung
đã
đề
cập
muốn
xem
xét
các
dấu
hiệu
bỏ
trốn,
tiếp
tục
phạm
tội
phải
dựa
vào
yếu
tố
thời
gian,
ý
thức
chủ
quan,
diễn
biến
hành
vi
của
bị
can…
nhưng
trong
trường
hợp
cụ
thể
nêu
trên
đã
không
có
yếu
tố
thời
gian
và
diễn
biến
hành
vi
của
bị
can
để
Người
tiến
hành
tố
tụng
xem
xét
các
dấu
hiệu
bỏ
trốn
hoặc
tiếp
tục
phạm
tội
(vì
đang
tạm
giữ).
Về
yếu
tố
chủ
quan:
Trên
thực
tế
rất
ít
bị
can
thừa
nhận
hoặc
khai
nhận
là
mình
sẽ
tiếp
tục
phạm
tội
hoặc
bỏ
trốn,
từ
đó
việc
áp
dụng
biện
pháp
tạm
giam
dựa
trên
các
dấu
hiệu
này
sẽ
rất
khó
áp
dụng.
Hiện
nay
trên
địa
bàn
thành
phố
Tuyên
Quang
tình
hình
tội
phạm
về
ma
túy
và
tội
phạm
xâm
phạm
sở
hữu
(do
đối
tượng
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
là
người
ngoại
tỉnh)
thuộc
tội
nghiêm
trọng,
tội
ít
nghiêm
trọng
còn
xảy
ra
nhiều
và
diễn
biến
phức
tạp.
Trong
quá
trình
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử,
việc
áp
dụng
biện
pháp
ngăn
chặn
tạm
giam
đối
với
02
loại
tội
phạm
này
đã
được
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
xem
xét
thận
trọng,
do
đó
trong
quá
trình
điều
tra
nhiều
bị
can
các
Cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
không
áp
dụng
biện
pháp
ngăn
chặn
tạm
giam
(sau
khi
đã
áp
dụng
biện
tạm
giữ)
mà
áp
dụng
biện
pháp
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú.
Từ
đó
gây
khó
khăn
trong
hoạt
động
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử,
ảnh
hưởng
đến
việc
xử
lý
tội
phạm,
như:
việc
triệu
tập
bị
can
đến
CQĐT,
VKS,
TA
để
làm
việc
hoặc
giao
nhận
các
quyết
định
tố
tụng,
kéo
dài
thời
hạn
xử
lý
vụ
án…
riêng
tội
phạm
về
ma
túy
việc
không
áp
dụng
biện
pháp
ngăn
chặn
tạm
giam
đối
với
các
bị
can
là
những
người
nghiện
ma
túy
thì
chưa
được
dư
luận
đồng
tình,
ủng
hộ.
Đề
nghị
Liên
ngành
trung
ương
xem
xét
sớm
ban
hành
thông
tư
liên
tịch
hướng
dẫn
việc
áp
dụng
biện
pháp
ngăn
chặn
tạm
giam
để
việc
thực
hiện
được
thống
nhất
nhằm
đáp
ứng
công
tác
đấu
tranh,
phòng
chống
tội
phạm
trong
tình
hình
hiện
nay.
Đinh
Quốc
Hưng