Kiểm
sát
hoạt
động
tư
pháp
là
hoạt
động
của
VKSND
để
kiểm
sát
tính
hợp
pháp
của
các
hành
vi,
quyết
định
của
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
trong
hoạt
động
tư
pháp,
được
thực
hiện
ngay
từ
khi
tiếp
nhận
và
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm,
kiến
nghị
khởi
tố
và trong suốt
quá
trình
giải
quyết
vụ
án
hình
sự…nhằm
bảo
đảm
cho
việc
bắt,
tạm
giữ,
tạm
giam,
thi
hành
án
phạt
tù,
chế
độ
tạm
giữ,
tạm
giam,
quản
lý
và
giáo
dục
người
chấp
hành
án
phạt
tù
theo
đúng
quy
định
của
pháp
luật;
quyền
con
người
và
các
quyền,
lợi
ích hợp
pháp khác
của
người
bị
bắt,
tạm
giữ,
tạm
giam,
người
chấp
hành
án
phạt
tù
không
bị
luật
hạn
chế
phải
được
tôn
trọng
và
bảo
vệ;
Trong
thời
gian
qua,
thực
hiện
chức
năng
Kiểm
sát
hoạt
động
tư
pháp
trong
công
tác
kiểm
sát
tạm
giữ,
tạm
giam,
đã
được
VKSND
các
cấp
thực
hiện
thường
xuyên,
định
kỳ
và
đột
xuất
đối
với
nhà
tạm
giữ,
trại
tạm
giam;
góp
phần
bảo
đảm
mọi
trường
hợp
tạm
giữ,
tạm
giam
đều
có
căn
cứ
pháp
luật,
đúng
thẩm
quyền,
trình
tự,
thủ
tục.
Nhiều
vi
phạm
trong
công
tác
này
đã
được
phát
hiện
kịp
thời
và
ban
hành
kiến
nghị,
kháng
nghị,
yêu
cầu
cơ
quan
quản
lý
tạm
giữ,
tạm
giam,
trại
tạm
giam
khắc
phục.
Qua
thực
hiện
chức
năng
Kiểm
sát
hoạt
động
tư
pháp
trong
Kiểm
sát
Tạm
giữ,
tạm
giam
thời
gian
qua
tác
giả
thấy
rằng
giữa
quy
định
của
pháp
luật
và
thực
tiễn
còn
những
bất
cập
gây
khó
khăn
cho
công
tác
này,
do
đó
cần
thiết
phải
có
sự
bổ
sung,
hướng
dẫn
của
Cơ
quan
có
thẩm
quyền
để
thống
nhất
đường
lối
giải
quyết.
Tôi
xin
nêu
một
trường
hợp
trong
01
vụ
án
cụ
thể
như
sau
để
chúng
ta
cùng
nghiên
cứu,
xem
xét,
trao
đổi:
1.
Tại
khoản
4
Điều
110
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
năm
2015
(BLTTHS)
quy
định:
“Trong
thời
hạn
12
giờ
kể
từ
khi
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
hoặc
nhận
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
thì
Cơ
quan
điều
tra,
cơ
quan
được
giao
nhiệm
vụ
tiến
hành
một
số
hoạt
động
điều
tra
phải
lấy
lời
khai
ngay
và
những
người
quy
định
tại
điểm
a
và
điểm
b
khoản
2
Điều
này
phải
ra
quyết
định
tạm
giữ,
ra
lệnh
bắt
người
bị
giữ
hoặc
trả
tự
do
ngay
cho
người
đó…”
và
tại
khoản
1,
Điều
114
BLTTHS
quy
định
“Sau
khi
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp,
bắt
người
hoặc
nhận
người
bị
giữ,
bị
bắt,
Cơ
quan
điều
tra,
cơ
quan
được
giao
nhiệm
vụ
tiến
hành
một
số
hoạt
động
điều
tra
phải
lấy
lời
khai
ngay
và
trong
thời
hạn
12
giờ
phải
ra
quyết
định
tạm
giữ
hoặc
trả
tự
do
cho
người
bị
bắt.”;
2.
Tại
Điểm
b
Khoản
11
Điều
1
Luật
sửa
đổi,
bổ
sung
một
số
điều
của
BLTTHS
quy
định:
b)
Sửa
đổi,
bổ
sung khoản
4 Điều
110
như
sau:
“4.
Trong
thời
hạn
12
giờ
kể
từ
khi
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
hoặc
nhận
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
thì
Cơ
quan
điều
tra,
cơ
quan
được
giao
nhiệm
vụ
tiến
hành
một
số
hoạt
động
điều
tra
phải
lấy
lời
khai
ngay
và
những
người
quy
định
tại
điểm
a
và
điểm
b
khoản
2
Điều
này
phải
ra
quyết
định
tạm
giữ,
ra
lệnh
bắt
người
bị
giữ
hoặc
trả
tự
do
ngay
cho
người
đó.
Lệnh
bắt
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
phải
gửi
ngay
cho
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
kèm
theo
tài
liệu
liên
quan
đến
việc
giữ
người
để
xét
phê
chuẩn.
Sau
khi
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp,
những
người
quy
định
tại
điểm
c
khoản
2
Điều
này
phải
giải
ngay
người
bị
giữ
kèm
theo
tài
liệu
liên
quan
đến
việc
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
đến
Cơ
quan
điều
tra
nơi
có
sân
bay
hoặc
bến
cảng
đầu
tiên
tàu
trở
về.
Trong
thời
hạn
12
giờ
kể
từ
khi
tiếp
nhận
người
bị
giữ,
Cơ
quan
điều
tra
phải
lấy
lời
khai
ngay
và
những
người
quy
định
tại
điểm
a
khoản
2
Điều
này
phải
ra
quyết
định
tạm
giữ,
ra
lệnh
bắt
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
hoặc
trả
tự
do
ngay
cho
người
đó.
Lệnh
bắt
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
phải
gửi
ngay
cho
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
kèm
theo
tài
liệu
liên
quan
đến
việc
giữ
người
để
xét
phê
chuẩn.
Theo
quy
định
trên:
Trong
trường
hợp
sau
khi
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
hoặc
nhận
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
Cơ
quan
có
thẩm
quyền
điều
tra
thấy
không
cần
thiết
phải
ra
Quyết
định
tạm
giữ
hoặc
ra
Lệnh
bắt
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn,
do
đó
cơ
quan
điều
tra
có
thẩm
quyền
quyết
định
trả
tự
do
cho
người
bị
bắt,
bị
giữ.
Sau
khi
ra
quyết
định
trả
tự
do
cơ
quan
có
thẩm
quyền
điều
tra
không
thông
báo,
không
gửi
quyết
định,
hồ
sơ
trả
tự
do
cho
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền,
gây
khó
khăn
cho
Viện
kiểm
sát
trong
việc
kiểm
sát
tính
có
căn
cứ
và
tính
hợp
pháp
của
Quyết
định
trả
tự
do
của
Cơ
quan
điều
tra,
điều
này
có
thể
dẫn
đến
việc
bỏ
lọt
tội
phạm
và
người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội.
Tuy
nhiên
VKSND
không
thể
yêu
cầu,
Kiến
nghị
đối
với
việc
không
thông
báo,
không
gửi
quyết
định,
hồ
sơ
trả
tự
do
cho
VKS
của
Cơ
quan
điều
tra
vì
thiếu
căn
cứ
pháp
lý.
Qua
rà
soát
các
tài
liệu
và
các
quy
định
của
pháp
luật
tác
giả
thấy
chính
Bộ
luật
TTHS
cũng
chưa
có
quy
định
cụ
thể
về
trách
nhiệm
và
thời
hạn
Cơ
quan
điều
tra
phải
gửi
quyết
định,
hồ
sơ
trả
tự
do
đối
với
người
bị
bắt,
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
cho
Viện
KSND
có
thẩm
quyền.
Điều
này
dẫn
đến
khoảng
trống
pháp
lý,
gây
khó
khăn
rất
lớn
cho
công
tác
kiểm
sát
tạm
giữ,
tạm
giam.
(Đến
thời
điểm
hiện
tại
chỉ
có
Thông
tư
số
119/2021/TT-BCA
ngày
8/12/2021
của
Bộ
trưởng
Bộ
Công
an
quy
định
biểu
mẫu,
giấy
tờ,
sổ
sách
về
điều
tra
hình
sự,
trong
đó
có
Mẫu
Quyết
định
trả
tự
do
cho
người
bị
bắt
được
thực
hiện
theo
Mẫu
số
Mẫu
số
97,
trong
phần
nơi
nhận
có
quy
định
gửi
VKS)
3.
Vì
lẽ
đó,
tác
giả
cho
rằng
cần
kiến
nghị
bổ
sung
BLTTHS
như
sau:
3.1.
Bổ
sung
vào
cuối
Đoạn
1
và
Đoạn
2
Khoản
4
Điều
110
như
sau:
“4.
Trong
thời
hạn
12
giờ
kể
từ
khi
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
hoặc
nhận
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
thì
Cơ
quan
điều
tra,
cơ
quan
được
giao
nhiệm
vụ
tiến
hành
một
số
hoạt
động
điều
tra
phải
lấy
lời
khai
ngay
và
những
người
quy
định
tại
điểm
a
và
điểm
b
khoản
2
Điều
này
phải
ra
quyết
định
tạm
giữ,
ra
lệnh
bắt
người
bị
giữ
hoặc
trả
tự
do
ngay
cho
người
đó.
Lệnh
bắt
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
phải
gửi
ngay
cho
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
kèm
theo
tài
liệu
liên
quan
đến
việc
giữ
người
để
xét
phê
chuẩn.
Trường
hợp
ra
quyết
định
trả
tự
do
cho
người
bị
người
bị
giữ,
người
bị
bắt,
Quyết
định
trả
tự
do
phải
gửi
ngay
cho
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
kèm
theo
tài
liệu
liên
quan;
Sau
khi
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp,
những
người
quy
định
tại
điểm
c
khoản
2
Điều
này
phải
giải
ngay
người
bị
giữ
kèm
theo
tài
liệu
liên
quan
đến
việc
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
đến
Cơ
quan
điều
tra
nơi
có
sân
bay
hoặc
bến
cảng
đầu
tiên
tàu
trở
về.
Trong
thời
hạn
12
giờ
kể
từ
khi
tiếp
nhận
người
bị
giữ,
Cơ
quan
điều
tra
phải
lấy
lời
khai
ngay
và
những
người
quy
định
tại
điểm
a
khoản
2
Điều
này
phải
ra
quyết
định
tạm
giữ,
ra
lệnh
bắt
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
hoặc
trả
tự
do
ngay
cho
người
đó.
Lệnh
bắt
người
bị
giữ
trong
trường
hợp
khẩn
cấp
phải
gửi
ngay
cho
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
kèm
theo
tài
liệu
liên
quan
đến
việc
giữ
người
để
xét
phê
chuẩn.
Trường
hợp
ra
quyết
định
trả
tự
do
cho
người
bị
giữ,
người
bị
bắt,
Quyết
định
phải
gửi
ngay
cho
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
kèm
theo
tài
liệu
liên
quan;
3.2.
Bổ
sung
vào
cuối
Đoạn
1
Khoản
1
Điều
114
BLTTHS
năm
2015
như
sau:
“Sau
khi
giữ
người
trong
trường
hợp
khẩn
cấp,
bắt
người
hoặc
nhận
người
bị
giữ,
bị
bắt,
Cơ
quan
điều
tra,
cơ
quan
được
giao
nhiệm
vụ
tiến
hành
một
số
hoạt
động
điều
tra
phải
lấy
lời
khai
ngay
và
trong
thời
hạn
12
giờ
phải
ra quyết
định tạm
giữ
hoặc trả
tự
do
cho
người
bị
bắt.
Trường
hợp
trả
tự
do
cho
người
bị
bắt
thì
phải
gửi
ngay
Quyết
định
cho
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
kèm
theo
tài
liệu
liên
quan;
Để
tăng
cường
hiệu
quả
công
tác
của
Ngành
Kiểm
sát
kiểm
sát,
không
để
xảy
ra
oan,
sai
hoặc
bỏ
lọt
tội
phạm
theo
Chỉ
thị
01/CT-VKSTC
ngày
12/12/2024
của
Viện
trưởng
VKSND
Tối
cao
về
công
tác
của
ngành
Kiểm
sát
năm
2025
đó
là:
Thực
hành
quyền
công
tố
chủ
động
hơn
với
tinh
thần
4S“sớm
hơn,
sát
hơn,
sâu
hơn,
sắc
hơn”;
Thực
hiện
hiệu
quả
công
tác
kiểm
sát
hoạt
động
tư
pháp;
đổi
mới
phương
thức
kiểm
sát,
tăng
cường
kiểm
sát
đột
xuất
theo
chuyên
đề
đối
với
lĩnh
vực
nổi
cộm…nhằm
phát
hiện
kịp
thời
các
vi
phạm
pháp
luật
trong
hoạt
động
tư
pháp.
Nâng
cao
chất
lượng
kháng
nghị,
tăng
cường
kiến
nghị
góp
phần
bảo
đảm
pháp
chế
trong
hoạt
động
tư
pháp.
Với
tinh
thần
đó,
tác
giả
rất
mong
nhận
được
sự
trao
đổi,
góp
ý
của
các
đồng
nghiệp./.
Nguyễn
Hồng
Tư
-
Viện
KSND
Khu
vực
1-
Tuyên
Quang