VIỆN
KIỂM
SÁT
NHÂN
DÂN
TỈNH
TUYÊN
QUANG
-
Đã
xem:
530
Một
số
vấn
đề
chung
về
tội
phạm
công
nghệ
cao
và
chứng
cứ
điện
tử
Thứ
tư
-
19/11/2025
08:37
1.
Tội
phạm
công
nghệ
cao
1.1.
Khái
niệm
về
tội
phạm
công
nghệ
cao
Công
nghệ
cao
(CNC)
là
công
nghệ
có
hàm
lượng
cao
về
nghiên
cứu
khoa
học
và
phát
triển
công
nghệ;
được
tích
hợp
từ
thành
tựu
khoa
học
và
công
nghệ
hiện
đại;
tạo
ra
sản
phẩm
có
chất
lượng,
tính
năng
vượt
trội,
giá
trị
gia
tăng
cao,
thân
thiện
với
môi
trường;
có
vai
trò
quan
trọng
đối
với
việc
hình
thành
ngành
sản
xuất,
dịch
vụ
mới
hoặc
hiện
đại
hóa
ngành
sản
xuất,
dịch
vụ
hiện
có[1].
Trong
phòng
chống
tội
phạm
ở
Việt
Nam,
CNC
được
hiểu
theo
nghĩa
hẹp
hơn,
chỉ
bao
gồm
02
lĩnh
vực
là
công
nghệ
thông
tin
và
viễn
thông[2].
Tội
phạm
sử
dụng
CNC
là
hành
vi
nguy
hiểm
cho
xã
hội
được
quy
định
trong
Bộ
luật
Hình
sự
(BLHS)
có
sử
dụng
CNC[3].
Tội
phạm
mạng
là
hành
vi
sử
dụng
không
gian
mạng,
công
nghệ
thông
tin
hoặc
phương
tiện
điện
tử
để
thực
hiện
tội
phạm
được
quy
định
tại
BLHS.
Như
vậy,
tội
phạm
CNC
được
hiểu
là
dạng
thức
tội
phạm
được
tiến
hành
thông
qua
việc
cố
ý
sử
dụng
tri
thức,
kỹ
năng,
công
cụ,
phương
tiện
và
thành
tựu
của
công
nghệ
thông
tin
và
viễn
thông
ở
trình
độ
cao,
tác
động
trái
pháp
luật
đến
thông
tin
số
và
các
dữ
liệu
điện
tử
được
lưu
trữ,
xử
lý,
truyền
tải
trong
hệ
thống
máy
tính,
mạng
viễn
thông
và
các
thiết
bị
công
nghệ
cao,
xâm
phạm
đến
trật
tự
an
toàn
thông
tin,
gây
tổn
hại
nghiêm
trọng
đến
lợi
ích
của
nhà
nước,
quyền
và
các
lợi
ích
hợp
pháp
của
các
tổ
chức,
cá
nhân.
1.2.
Đặc
điểm
của
tội
phạm
công
nghệ
cao
Đặc
điểm
của
tội
phạm
CNC
là
những
đặc
trưng
riêng
biệt
để
phân
biệt,
so
sánh
với
các
loại
hình
tội
phạm
trong
các
lĩnh
vực
khác.
Tội
phạm
CNC
có
đầy
đủ
các
tính
chất,
đặc
điểm
giống
như
mọi
tội
phạm
truyền
thống
khác,
nghĩa
là
cũng
được
coi
là
những
hành
vi
nguy
hiểm
cho
xã
hội,
sự
tương
đồng
trong
các
cấu
thành
cơ
bản
của
một
tội
phạm,...Tuy
nhiên,
khác
với
tội
phạm
truyền
thống,
tội
phạm
CNC
có
những
đặc
điểm
thể
hiện
sự
khác
biệt
và
phức
tạp
hơn,
đó
là:
Thứ
nhất,
khách
thể
của
tội
phạm
CNC
là
trật
tự
an
toàn
thông
tin,
tác
động
đến
tính
bảo
mật
của
hệ
thống
máy
tính,
mạng
viễn
thông,
tính
toàn
vẹn
và
tính
khả
dụng
của
thông
tin,
gây
ra
các
tổn
thất,
tổn
hại
cho
lợi
ích
nhà
nước,
quyền
và
các
lợi
ích
hợp
pháp
của
tổ
chức,
cá
nhân.
Tội
phạm
CNC
không
bị
giới
hạn
bởi
ranh
giới
địa
lý
hoặc
vật
lý,
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
bất
cứ
khi
nào,
bất
cứ
nơi
đâu.
Thứ
hai,
công
nghệ
máy
tính,
mạng
viễn
thông,
các
hình
thức
công
nghệ
truyền
thông
thông
tin
khác
có
vai
trò,
mức
độ
quyết
định;
là
công
cụ,
phương
tiện
quan
trọng
không
thể
thiếu
trong
quá
trình
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội.
Công
nghệ
thông
tin
và
truyền
thông
(ICT)
có
thể
là
mục
tiêu
của
hành
vi
phạm
tội
nhưng
cũng
có
thể
là
phương
thức
thực
hiện
tội
phạm.
Thứ
ba,
tội
phạm
CNC
cố
ý
sử
dụng
tri
thức,
kỹ
năng,
công
cụ,
phương
tiện
và
thành
tựu
của
công
nghệ
thông
tin
và
viễn
thông
ở
trình
độ
cao,
tác
động
trái
pháp
luật
một
cách
bất
hợp
pháp
đến
thông
tin
số
và
các
dữ
liệu
điện
tử.
Tội
phạm
CNC
khi
thực
hiện
thường
dễ
dàng
hơn,
nhanh
hơn
và
mất
ít
công
sức
thực
hiện
hơn,
tinh
vi,
tinh
xảo
hơn
so
với
tội
phạm
truyền
thống.
Thứ
tư,
chủ
thể
trực
tiếp
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
là
những
người
có
kiến
thức,
kỹ
năng
sử
dụng
công
nghệ
thông
tin
với
trình
độ
cao
để
trực
tiếp
khai
thác,
sử
dụng
các
công
cụ,
phương
tiện,
máy
móc
hiện
đại.
1.3.
Quy
định
của
Bộ
luật
Hình
sự
về
tội
phạm
công
nghệ
cao
Hiện
nay,
tội
phạm
CNC
chưa
được
pháp
luật
quy
định
là
tội
danh
độc
lập,
nhưng
đó
là
tổ
hợp
của
những
tội
phạm
sử
dụng
tri
thức
về
CNC
để
xâm
phạm
đến
các
quan
hệ
xã
hội
được
pháp
luật
bảo
vệ.
BLHS
quy
định
về
tội
phạm
CNC
tại
Mục
2
Chương
21
gồm
09
điều,
từ
điều
285
đến
điều
294
(Điều
292
đã
được
bãi
bỏ)
quy
định
về
tội
phạm
trong
lĩnh
vực
công
nghệ
thông
tin,
mạng
viễn
thông
và
được
chia
thành
02
nhóm
sau:
-
Nhóm
tội
phạm
sử
dụng
công
nghệ
cao
thuần
túy[4]:
Nhóm
tội
phạm
này
có
mục
tiêu
chính
là
mạng
máy
tính
và
các
thiết
bị
điện
tử,
xâm
phạm
tính
bảo
mật,
tính
toàn
vẹn
và
tính
khả
dụng
của
dữ
liệu
máy
tính,
hệ
thống
mạng
máy
tính,
mạng
viễn
thông,
xâm
phạm
trật
tự
an
toàn
thông
tin.
Các
hành
vi
phạm
tội
thuộc
nhóm
tội
phạm
này
bao
gồm:
Sản
xuất,
mua
bán,
trao
đổi
hoặc
tặng
cho
các
công
cụ,
thiết
bị
để
sử
dụng
vào
mục
đích
trái
pháp
luật.
Phát
tán
các
chương
trình
tin
học
gây
hại
cho
hoạt
động
của
máy
tính,
mạng
viễn
thông,
các
phương
tiện
điện
tử.
Cản
trở,
gây
rối
loạn
các
hoạt
động
của
mạng
máy
tính,
mạng
viễn
thông
các
phương
tiện
điện
tử.
Đưa,
sử
dụng
trái
phép
thông
tin
mạng
máy
tính,
mạng
viễn
thông.
Xâm
phạm
trái
phép
vào
mạng
máy
tính,
mạng
viễn
thông
hoặc
các
phương
tiện
điện
tử
của
người
khác.
-
Nhóm
tội
phạm
sử
dụng
máy
tính,
thiết
bị
số,
mạng
máy
tính
làm
công
cụ,
phương
tiện
để
thực
hiện
tội
phạm
truyền
thống[5]:
Nhóm
này
gồm
các
tội
phạm
truyền
thống
nhưng
được
thực
hiện
với
thủ
đoạn
tinh
vi
hơn
đó
là
sử
dụng
công
nghệ
thông
tin
và
mạng
viễn
thông
làm
công
cụ
để
thực
hiện,
hỗ
trợ
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội,
bao
gồm
các
hành
vi:
Sử
dụng
mạng
máy
tính,
mạng
viễn
thông,
phương
tiện
điện
tử
để
thực
hiện
hành
vi
chiếm
đoạt
tài
sản.
Thu
thập,
tàng
trữ,
trao
đổi,
mua
bán,
công
khai
hóa
trái
phép
thông
tin
về
tài
khoản
ngân
hàng.
Sử
dụng
trái
phép
tần
số
vô
tuyến
điện
dành
riêng
cho
mục
đích
cấp
cứu,
an
toàn,
tìm
kiếm,
cứu
hộ,
cứu
nạn,
quốc
phòng,
an
ninh.
Cố
ý
gây
nhiễu
có
hại.
2.
Chứng
cứ
điện
tử
2.1.
Dữ
liệu
điện
tử
Dữ
liệu
điện
tử
(electronic
data)
là
ký
hiệu,
chữ
viết,
chữ
số,
hình
ảnh,
âm
thanh
hoặc
dạng
tương
tự
được
tạo
ra,
lưu
trữ,
truyền
đi
hoặc
nhận
được
bởi
phương
tiện
điện
tử[6].
Dựa
vào
cách
thức
khởi
tạo,
dữ
liệu
điện
tử
gồm:
-
Dữ
liệu
điện
tử
do
con
người
tạo
ra:
Là
bản
ghi
hoặc
dữ
liệu
do
hành
động
của
con
người
ra
và
được
lưu
trữ
trên
các
thiết
bị
điện
tử.
Ví
dụ:
Email,
trang
web,
nội
dung
trò
chuyện
(chat),
bình
luận
(comment)
trên
mạng
xã
hội,
tài
liệu
word...
-
Dữ
liệu
điện
tử
do
máy
tính,
thiết
bị
điện
tử
tạo
ra:
Là
sản
phẩm
đầu
ra
của
chương
trình
máy
tính,
thiết
bị
điện
tử
được
thiết
kế
để
xử
lý
dữ
liệu
đầu
vào
theo
thuật
toán
đã
xây
dựng
từ
trước.
Ví
dụ:
Nhật
ký
chuyển
FTP,
nhật
ký
IP
từ
nhà
cung
cấp
dịch
vụ
internet
(ISP),
bản
ghi
các
cuộc
gọi,
dữ
liệu
thu
phát
sóng
trên
điện
thoại
(cell
tower),
bản
ghi
GPS...
-
Dữ
liệu
điện
tử
do
cả
con
người
và
máy
tính,
thiết
bị
điện
tử
tạo
ra:
Hầu
hết
các
dữ
liệu
điện
tử
hiện
nay
đều
có
các
thành
phần
do
cả
con
người
và
máy
tính
tạo
ra
trong
quá
trình
con
người
sử
dụng,
tương
tác
với
các
thiết
bị
điện
tử
và
phần
mềm
được
cài
đặt
trong
các
thiết
bị
điện
tử.
Ví
dụ:
Email
logs,
web
server/silent
logs,
cookies,
ULR,
upload,
download...
Dữ
liệu
điện
tử
có
các
thuộc
tính
(đặc
điểm)
đó
là:
-
Được
tạo
ra
một
cách
khách
quan
(độc
lập
với
ý
chí
của
thủ
phạm)
và
luôn
gắn
với
thiết
bị,
phương
tiện
điện
tử.
-
Có
thể
chỉnh
sửa,
bổ
sung
sau
khi
khởi
tạo;
có
thể
xóa
bỏ,
sao
chép;
có
thể
khôi
phục
sau
khi
bị
xóa
bỏ.
-
Có
thể
truyền
trong
không
gian,
chuyển
hóa
thành
thông
tin
khi
có
thiết
bị,
phương
tiện,
phần
mềm
thích
hợp.
2.2.
Chứng
cứ
điện
tử
Tội
phạm
CNC
sử
dụng
công
nghệ
thông
tin
và
viễn
thông
làm
phương
thức
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
nên
luôn
để
lại
dấu
vết,
đó
là
những
dữ
liệu
điện
tử
(dấu
vết
điện
tử)
tồn
tại
khách
quan
trong
quá
trình
thực
hiện
tội
phạm.
BLTTHS[7]
quy
định
dữ
liệu
điện
tử
là
một
trong
các
nguồn
chứng
cứ
để
xác
định
có
hay
không
có
hành
vi
phạm
tội,
người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
và
những
tình
tiết
khác
có
ý
nghĩa
trong
việc
giải
quyết
vụ
án.
Chứng
cứ
điện
tử
(electronic
envidence
hoặc
digital
evidence)
là
dạng
chứng
cứ
được
hình
thành
hoặc
gắn
với
nguồn
dữ
liệu
điện
tử,
đảm
bảo
có
đầy
đủ
các
thuộc
tính
của
chứng
cứ,
được
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
thu
thập
theo
trình
tự,
thủ
tục
quy
định
để
chứng
minh
tội
phạm
và
người
phạm
tội.
Giá
trị
chứng
cứ
của
dữ
liệu
điện
tử
được
xác
định
căn
cứ
vào
cách
thức
khởi
tạo,
lưu
trữ
hoặc
truyền
gửi
dữ
liệu
điện
tử;
cách
thức
bảo
đảm
và
duy
trì
tính
toàn
vẹn
của
dữ
liệu
điện
tử;
cách
thức
xác
định
người
khởi
tạo
và
các
yếu
tố
phù
hợp
khác[8].
Chứng
cứ
điện
tử
có
các
thuộc
tính
(đặc
điểm)
đó
là:
-
Luôn
gắn
với
dữ
liệu
điện
tử,
thiết
bị
hoặc
phương
tiện
điện
tử
nhất
định.
-
Có
thuộc
tính
sao
chép
(copy-paste)
y
nguyên.
-
Có
thể
bị
xóa
bỏ
(delete)
bằng
thiết
bị
máy
tính,
phương
tiện
điện
tử.
Chứng
cứ
điện
tử
có
thể
được
khôi
phục
(restore)
lại
sau
khi
bị
xóa
bỏ.
-
Chứng
cứ
điện
tử
không
những
được
thu
trong
các
thiết
bị,
phương
tiện
điện
tử
và
còn
có
thể
thu
trong
không
gian.
Để
những
dữ
liệu
điện
tử
có
thể
trở
thành
chứng
cứ
điện
tử,
đòi
hỏi
những
dữ
liệu
đó
phải
đảm
bảo
03
thuộc
tính
của
chứng
cứ
pháp
lý
đó
là:
Tính
khách
quan
(có
thật,
tồn
tại
khách
quan);
tính
liên
quan
(có
mối
quan
hệ,
có
giá
trị
chứng
minh);
tính
hợp
pháp
(được
thu
thập
theo
đúng
trình
tự,
thủ
tục
quy
định).
Ngoài
ra,
vì
chứng
cứ
điện
tử
được
lưu
trữ
trong
các
thiết
bị
điện
tử
nên
để
thành
chứng
cứ
pháp
lý
cần
phải
đảm
bảo
thêm
03
thuộc
tính
khác
đó
là:
+
Tính
khách
quan
nghĩa
là
chứng
minh
được
dữ
liệu
đó
là
sản
phẩm
tất
yếu,
được
thiết
bị
điện
tử
sản
sinh
ra
và
lưu
giữ
tự
động,
hoặc
là
sản
phẩm
của
chính
đối
tượng
tạo
ra
trong
quá
trình
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội.
+
Tính
nguyên
trạng
(nguyên
vẹn)
nghĩa
là
chứng
minh
được
không
có
sự
can
thiệp
từ
bên
ngoài
nào
vào
nội
dung
của
dữ
liệu
để
thay
đổi
hoặc
xóa
bỏ.
+
Tính
kiểm
chứng
được
nghĩa
là
khi
cần
thiết
có
thể
lặp
lại
quá
trình
khai
thác,
thu
thập,
phục
hồi,
giám
định,
chuyển
hóa
dữ
liệu
điện
tử
thành
chứng
cứ.