Luật
Đất
đai
năm
2024
thay
thế
Luật
Đất
đai
năm
2013,
có
hiệu
lực
từ
ngày
01/08/2024,
đánh
dấu
một
bước
tiến
quan
trọng
trong
việc
hoàn
thiện
hệ
thống
pháp
luật
về
đất
đai
của
Việt
Nam.
Luật
được
xây
dựng
trên
cơ
sở
thực
tiễn,
nhằm
điều
chỉnh
các
quy
định,
mối
quan
hệ
pháp
luật
đất
đai,
đáp
ứng
yêu
cầu
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội,
nâng
cao
hiệu
quả
quản
lý
và
sử
dụng
đất
đai,
tạo
động
lực
đưa
nước
ta
trở
thành
nước
phát
triển
có
thu
nhập
cao.
Có
thể
nói,
Luật
Đất
đai
năm
2024
với
nhiều
điểm
mới,
quy
định
chi
tiết
hơn
về
các
vấn
đề
liên
quan
đến
đất
đai,
đặt
ra
yêu
cầu
cao
hơn
đối
với
Kiểm
sát
viên
trong
việc
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chấp
đất
đai.
Để
đảm
bảo
tính
công
bằng,
khách
quan
và
đúng
pháp
luật,
Kiểm
sát
viên
cần
nắm
rõ
các
điểm
mới
này
để
làm
tốt
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
vụ
án
tranh
chấp
về
đất
đai
một
cách
hiệu
quả
nhất.
1.
Một
số
điểm
mới
nổi
bật
của
Luật
Đất
đai
năm
2024
*
Phân
loại
đất:
Theo
Điều
9
Luật
Đất
đai
năm
2024,
đất
được
phân
loại
dựa
trên
mục
đích
sử
dụng,
được
phân
thành
ba
nhóm
chính:
Đất
nông
nghiệp:
Bao
gồm
đất
trồng
cây
hàng
năm
(lúa
và
cây
khác),
đất
trồng
cây
lâu
năm,
đất
lâm
nghiệp
(rừng
đặc
dụng,
phòng
hộ,
sản
xuất),
đất
nuôi
trồng
thủy
sản,
đất
chăn
nuôi
tập
trung,
đất
làm
muối,
và
các
loại
đất
nông
nghiệp
khác.
Đất
phi
nông
nghiệp:
Bao
gồm
đất
ở
(nông
thôn
và
đô
thị),
đất
xây
dựng
trụ
sở
cơ
quan,
đất
quốc
phòng
và
an
ninh,
đất
xây
dựng
công
trình
sự
nghiệp
(văn
hóa,
xã
hội,
y
tế,
giáo
dục,
thể
thao,
khoa
học,
công
nghệ,
môi
trường,
ngoại
giao),
đất
sản
xuất
kinh
doanh
phi
nông
nghiệp
(khu
công
nghiệp,
thương
mại,
dịch
vụ),
đất
công
cộng
(giao
thông,
thủy
lợi,
cấp
nước,
thoát
nước,
di
tích,
xử
lý
chất
thải,
năng
lượng,
hạ
tầng
bưu
chính,
viễn
thông,
chợ,
khu
vui
chơi),
đất
tôn
giáo,
đất
tín
ngưỡng,
đất
nghĩa
trang,
đất
có
mặt
nước
chuyên
dùng,
và
các
loại
đất
phi
nông
nghiệp
khác.
Đất
chưa
sử
dụng:
Là
đất
chưa
được
xác
định
mục
đích
sử
dụng,
chưa
giao,
chưa
cho
thuê.
*
Quy
định
về
thu
hồi,
trưng
dụng
đất:
Luật
Đất
đai
năm
2024
đã
đưa
ra
các
quy
định
chi
tiết
về
thu
hồi,
trưng
dụng
đất
và
bồi
thường
khi
Nhà
nước
thu
hồi
đất.
Theo
đó,
từ
Điều
95
đến
Điều
101
Luật
Đất
đai
năm
2024
quy
định
rõ
các
trường
hợp
và
điều
kiện
để
được
bồi
thường
về
đất.
Nhà
nước
thu
hồi
đất
có
thể
vì
các
mục
đích
như
quốc
phòng,
an
ninh,
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
vì
lợi
ích
quốc
gia,
công
cộng.
Điều
kiện
để
được
bồi
thường
gồm
các
trường
hợp
như
hộ
gia
đình,
cá
nhân
đang
sử
dụng
đất
không
phải
là
đất
thuê,
cộng
đồng
dân
cư
sử
dụng
đất
cho
các
công
trình
tôn
giáo
và
tín
ngưỡng,
người
Việt
Nam
định
cư
ở
nước
ngoài,
tổ
chức
tôn
giáo,
tổ
chức
kinh
tế
được
Nhà
nước
giao
đất
có
thu
tiền
sử
dụng
đất
hoặc
cho
thuê
đất
một
lần.
Đặc
biệt,
khi
thu
hồi
đất
nông
nghiệp
của
hộ
gia
đình,
cá
nhân,
nếu
có
đủ
điều
kiện,
người
dân
sẽ
được
bồi
thường
bằng
đất
nông
nghiệp,
tiền,
đất
có
mục
đích
sử
dụng
khác
hoặc
nhà
ở.
Đối
với
đất
ở
và
đất
phi
nông
nghiệp
không
phải
là
đất
ở,
Nhà
nước
sẽ
bồi
thường
bằng
đất
ở,
nhà
ở,
tiền
hoặc
đất
có
mục
đích
sử
dụng
khác
tùy
theo
từng
trường
hợp
cụ
thể.
*
Quy
định
về
giao
đất,
cho
thuê
đất,
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất:
Đây
là
vấn
đề
được
quy
định
tại
Điều
116
của
Luật
Đất
đai
năm
2024
có
một
số
điểm
mới
so
với
Điều
52
của
Luật
Đất
Đai
2013,
cụ
thể:
Giao
đất,
cho
thuê
đất
thông
qua
đấu
giá
quyền
sử
dụng
đất:
Điểm
này
đã
được
cụ
thể
hóa
trong
Luật
Đất
đai
năm
2024
với
yêu
cầu
về
văn
bản
phê
duyệt
kết
quả
trúng
đấu
giá
của
cơ
quan
nhà
nước
có
thẩm
quyền,
điều
này
đảm
bảo
tính
minh
bạch
và
rõ
ràng
hơn
so
với
quy
định
chung
của
Luật
Đất
Đai
2013.
Giao
đất,
cho
thuê
đất
thông
qua
đấu
thầu
lựa
chọn
nhà
đầu
tư:
Quy
định
mới
yêu
cầu
văn
bản
phê
duyệt
kết
quả
lựa
chọn
nhà
đầu
tư
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
đấu
thầu.
Điều
này
nhằm
tạo
ra
sự
cạnh
tranh
công
bằng
và
minh
bạch
hơn
trong
quá
trình
lựa
chọn
nhà
đầu
tư.
Giao
đất,
cho
thuê
đất
không
qua
đấu
giá,
đấu
thầu:
Điểm
mới
trong
Luật
Đất
đai
năm
2024
là
quy
định
cụ
thể
về
căn
cứ
giao
đất
cho
các
dự
án
thuộc
danh
mục
quy
định
tại
Điều
67
của
Luật
Đất
đai
năm
2024.
Điều
này
tạo
ra
khung
pháp
lý
rõ
ràng
hơn
cho
việc
quản
lý
và
sử
dụng
đất.
Giao
đất,
cho
thuê
đất
theo
tiến
độ
dự
án:
Quy
định
mới
này
cho
phép
giao
đất,
cho
thuê
đất
dựa
trên
tiến
độ
của
dự
án
đầu
tư,
tiến
độ
thu
hồi
đất,
bồi
thường,
hỗ
trợ,
tái
định
cư.
Điều
này
linh
hoạt
hơn
và
phù
hợp
với
thực
tế
triển
khai
các
dự
án
đầu
tư.
Chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
nông
nghiệp
sang
đất
ở:
Luật
Đất
đai
năm
2024
bổ
sung
quy
định
về
căn
cứ
cho
phép
chuyển
mục
đích
sử
dụng
đất
dựa
trên
quy
hoạch
sử
dụng
đất
cấp
huyện
hoặc
quy
hoạch
chung,
quy
hoạch
phân
khu.
Điều
này
đảm
bảo
sự
phù
hợp
với
quy
hoạch
tổng
thể
và
quy
hoạch
chi
tiết.
*
Quy
định
về
đăng
ký
đất
đai,
quyền
sở
hữu
tài
sản
gắn
liền
với
đất:
Luật
Đất
đai
năm
2024
đã
có
những
quy
định
chi
tiết
và
cụ
thể
về
việc
cấp
giấy
chứng
nhận
sử
dụng
đất
và
quyền
sở
hữu
tài
sản
gắn
liền
với
đất
tại
các
Điều
134
đến
Điều
152.
Luật
đã
quy
định
rõ
thẩm
quyền
cấp
Giấy
chứng
nhận
sử
dụng
đất,
tách
biệt
giữa
vai
trò
quản
lý
nhà
nước
và
cung
cấp
dịch
vụ
công.
Điều
này
giúp
cải
thiện
công
tác
cấp
Giấy
chứng
nhận
và
thống
nhất
quản
lý
hồ
sơ
địa
chính
từ
trung
ương
tới
địa
phương.
Quy
định
giao
cho
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
tỉnh
bổ
sung
các
loại
giấy
tờ
về
quyền
sử
dụng
đất
có
trước
ngày
15/10/1993,
và
quy
định
hạn
mức
đất
ở
tại
thời
điểm
nộp
hồ
sơ.
Đăng
ký
đất
đai
và
biến
động
đất
đai
là
bắt
buộc,
có
chế
tài
cụ
thể
để
ngăn
chặn
giao
dịch
không
đăng
ký.
Việc
đăng
ký
có
thể
thực
hiện
trên
giấy
hoặc
môi
trường
điện
tử
với
giá
trị
pháp
lý
như
nhau.
Quy
định
cũng
bao
gồm
việc
cấp
Giấy
chứng
nhận
cho
tài
sản
gắn
liền
với
đất
như
nhà
ở
và
công
trình
xây
dựng,
cũng
như
đăng
ký
biến
động
đất
đai
khi
có
thay
đổi
về
quyền
sử
dụng
đất
xây
dựng
công
trình
ngầm.
*
Quy
định
về
tài
chính
về
đất
đai,
giá
đất:
Quy
định
về
tài
chính
về
đất
đai,
giá
đất
được
quy
định
tại
chương
XI
Luật
Đất
đai
năm
2024
từ
Điều
162
Luật
Đất
đai
năm
2024.
Những
quy
định
này
bao
gồm
việc
đăng
ký
đất
đai,
cấp
giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất,
tài
chính
về
đất
đai,
giá
đất,
và
bảng
giá
đất.
Đặc
biệt,
Luật
Đất
đai
năm
2024
không
còn
quy
định
khung
giá
đất
như
trước
đây,
mà
thay
vào
đó
là
các
bảng
giá
đất
được
xây
dựng
và
công
bố.
Một
điểm
mới
trong
Luật
Đất
đai
năm
2024
là
quy
định
về
9
khoản
thu
ngân
sách
từ
đất
đai.
Chính
sách
này
nhằm
đảm
bảo
nguồn
thu
ổn
định
cho
ngân
sách
nhà
nước.
Bên
cạnh
đó,
Luật
cũng
đưa
ra
chính
sách
ổn
định
tiền
thuê
đất
hàng
năm,
và
các
chính
sách
miễn
giảm
tiền
sử
dụng
đất,
tiền
thuê
đất
nhằm
hỗ
trợ
các
đối
tượng
sử
dụng
đất.
Các
phương
pháp
định
giá
đất
cũng
được
quy
định
rõ
ràng
trong
Luật
Đất
đai
năm
2024.
Bảng
giá
đất
lần
đầu
sẽ
được
công
bố
và
thực
hiện
từ
ngày
01/01/2026,
do
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
tỉnh
trình
Hội
đồng
nhân
dân
cùng
cấp
quyết
định.
Bảng
giá
đất
này
sẽ
được
điều
chỉnh,
sửa
đổi
và
bổ
sung
hàng
năm
để
áp
dụng
từ
ngày
01/01
của
năm
tiếp
theo.
Một
thay
đổi
quan
trọng
khác
là
hạn
mức
nhận
chuyển
quyền
sử
dụng
đất
nông
nghiệp
của
cá
nhân
được
nâng
lên
không
quá
15
lần
hạn
mức
giao
đất
nông
nghiệp
của
cá
nhân,
so
với
quy
định
trước
đây
trong
Luật
Đất
đai
2013
là
không
quá
10
lần.
Điều
này
giúp
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
hơn
cho
các
cá
nhân
và
doanh
nghiệp
trong
việc
tích
tụ
đất
đai,
phát
triển
nông
nghiệp
quy
mô
lớn.
2.
Một
số
lưu
ý
đối
với
Kiểm
sát
viên
khi
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chấp
đất
đai
khi
Luật
Đất
đai
năm
2024
có
hiệu
lực
*
Bắt
buộc
hòa
giải
mọi
tranh
chấp
đất
đai
tại
UBND
cấp
xã
trước
khi
đề
nghị
cơ
quan
Nhà
nước
có
thẩm
quyền
giải
quyết:
Thực
tiễn
thi
hành
Luật
đất
đai
năm
2013
còn
có
bất
cập,
thiếu
sự
đồng
bộ
giữa
các
văn
bản
pháp
luật
như:
Theo
quy
định
của
Điều
203
Luật
đất
đai
năm
2013
quy
định:
Tranh
chấp
đất
đai
đã
được
hòa
giải
tại
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã
mà
không
thành
thì
được
giải
quyết
theo
từng
trường
hợp
đã
được
quy
định.
Tuy
nhiên,
tại
Nghị
quyết
số
04/2017/HĐTP-TANDTC
lại
quy
định
chỉ
tranh
chấp
về
quyền
sử
dụng
đất
mới
bắt
buộc
phải
hòa
giải
tại
UBND
cấp
xã,
trong
khi
các
tranh
chấp
khác
liên
quan
đến
quyền
sử
dụng
đất
như
giao
dịch,
thừa
kế,
chia
tài
sản
chung
không
cần
thông
qua
thủ
tục
hòa
giải
này.
Sự
thiếu
đồng
bộ
giữa
các
văn
bản
pháp
luật
đã
dẫn
đến
việc
áp
dụng
không
thống
nhất.
Với
sự
ra
đời
của
Luật
Đất
đai
năm
2024,
đã
giúp
hoàn
thiện
hơn
vấn
đề
này
khi
quy
định
tại
khoản
2
Điều
235
Luật
Đất
đai
năm
2024
cụ
thể
là:
“Trước
khi
cơ
quan
Nhà
nước
có
thẩm
quyền
giải
quyết
tranh
chấp
đất
đai
theo
Điều
236
của
Luật
này,
các
bên
tranh
chấp
phải
thực
hiện
hòa
giải
tại
UBND
cấp
xã
nơi
có
đất
tranh
chấp.”
Quy
định
mới
đã
làm
rõ
ràng
hơn,
thống
nhất
hơn
về
quy
trình
hòa
giải
trước
khi
yêu
cầu
cơ
quan
có
thẩm
quyền
giải
quyết
tranh
chấp
đất
đai.
Đồng
thời,
Kiểm
sát
viên
cần
lưu
ý,
Luật
này
cũng
bổ
sung
quy
định
về
trường
hợp
địa
bàn
không
có
đơn
vị
hành
chính
cấp
xã
trực
thuộc
UBND
cấp
huyện,
thì
các
bên
tranh
chấp
có
thể
trực
tiếp
yêu
cầu
cơ
quan
có
thẩm
quyền
giải
quyết
mà
không
cần
qua
hòa
giải
tại
cấp
xã,
nhằm
khắc
phục
vướng
mắc
tại
những
địa
bàn
chưa
tổ
chức
chính
quyền
địa
phương
cấp
xã.
*
Quy
định
về
thẩm
quyền
giải
quyết
tranh
chấp
đất
đai
theo
Luật
Đất
đai
năm
2024:
-
Thẩm
quyền
của
Tòa
án
nhân
dân:
Điều
236
Luật
Đất
đai
năm
2024
ghi
nhận
thẩm
quyền
giải
quyết
tranh
chấp
đất
đai
của
Tòa
án,
cụ
thể
là:
“Tòa
án
có
thẩm
quyền
giải
quyết
tranh
chấp
về
tài
sản
gắn
liền
với
đất
và
tranh
chấp
đất
đai
khi
các
bên
có
Giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất
hoặc
các
loại
giấy
tờ
liên
quan.
Đối
với
tranh
chấp
mà
đương
sự
không
có
Giấy
chứng
nhận,
các
bên
có
thể
lựa
chọn
giải
quyết
tại
Tòa
án
hoặc
UBND
cấp
có
thẩm
quyền.”
Quy
định
này
làm
rõ
hơn
về
các
loại
Giấy
chứng
nhận
cần
thiết
mà
các
bên
tranh
chấp
phải
có
và
có
ý
nghĩa
quan
trọng
trong
việc
xác
định
thẩm
quyền
giải
quyết,
khắc
phục
tình
trạng
đùn
đẩy,
né
tránh
trong
thụ
lý
giải
quyết
tranh
chấp
đất
đai.
Tuy
nhiên,
Luật
Đất
đai
năm
2024
vẫn
chưa
có
quy
định
cụ
thể
cho
trường
hợp
một
bên
lựa
chọn
Tòa
án
và
một
bên
lựa
chọn
UBND
cấp
có
thẩm
quyền
thì
cơ
quan
nào
mới
là
cơ
quan
có
thẩm
quyền
giải
quyết.
-
Thẩm
quyền
của
Ủy
ban
Nhân
dân
các
cấp
có
thẩm
quyền:
Khoản
3
Điều
236
Luật
Đất
đai
năm
2024
ghi
nhận
thẩm
quyền
của
Ủy
ban
Nhân
dân
các
cấp
trong
giải
quyết
tranh
chấp
đất
đai.
Đối
với
các
trường
hợp
tranh
chấp
mà
đương
sự
không
có
Giấy
chứng
nhận
quyền
sử
dụng
đất
hoặc
các
giấy
tờ
tương
đương,
các
bên
tranh
chấp
được
lựa
chọn
giải
quyết
tại
UBND
cấp
có
thẩm
quyền.
Cụ
thể,
Chủ
tịch
UBND
cấp
huyện
giải
quyết
tranh
chấp
giữa
hộ
gia
đình,
cá
nhân,
cộng
đồng
dân
cư
với
nhau;
còn
Chủ
tịch
UBND
cấp
tỉnh
giải
quyết
tranh
chấp
có
một
bên
là
tổ
chức,
tổ
chức
tôn
giáo,
người
gốc
Việt
Nam
định
cư
ở
nước
ngoài,
hoặc
tổ
chức
kinh
tế
có
vốn
đầu
tư
nước
ngoài.
Để
đảm
bảo
quyền
lợi
của
đương
sự
và
nâng
cao
trách
nhiệm
của
Chủ
tịch
UBND,
Luật
Đất
đai
năm
2024
bổ
sung
quy
định
về
thời
hạn
đương
sự
được
quyền
khởi
kiện
hoặc
khiếu
nại
quyết
định
giải
quyết
tranh
chấp
(trong
vòng
30
ngày
kể
từ
khi
nhận
được
quyết
định).
Nếu
hết
thời
hạn
này
mà
đương
sự
không
khởi
kiện
hoặc
khiếu
nại,
quyết
định
sẽ
có
hiệu
lực
thi
hành.
Ngoài
ra,
khoản
4
Điều
236
cũng
bổ
sung
quy
định
về
thời
hạn
thực
hiện
cưỡng
chế
thi
hành
quyết
định
có
hiệu
lực
của
Chủ
tịch
UBND
cấp
huyện,cấp
tỉnh
và
Bộ
trưởng
Bộ
Tài
nguyên
và
Môi
trường.
Sau
30
ngày
kể
từ
khi
quyết
định
giải
quyết
tranh
chấp
có
hiệu
lực
mà
các
bên
không
chấp
hành,
sẽ
bị
cưỡng
chế
thi
hành.
Chủ
tịch
UBND
cấp
huyện
nơi
có
đất
tranh
chấp
sẽ
ban
hành
quyết
định
cưỡng
chế
và
tổ
chức
thực
hiện.
Những
quy
định
này
có
ý
nghĩa
quan
trọng
trong
việc
giải
quyết
dứt
điểm
các
tranh
chấp
đất
đai.
-
Thẩm
quyền
của
trọng
tài
thương
mại:
Tại
khoản
5
Điều
236
Luật
Đất
đai
năm
2024,
thẩm
quyền
của
Trọng
tài
thương
mại
trong
việc
giải
quyết
tranh
chấp
phát
sinh
từ
hoạt
động
thương
mại
liên
quan
đến
đất
đai
đã
được
bổ
sung.
Cụ
thể,
tranh
chấp
giữa
các
bên
phát
sinh
từ
hoạt
động
thương
mại
liên
quan
đến
đất
đai
có
thể
được
giải
quyết
bởi
Tòa
án
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
tố
tụng
dân
sự
hoặc
bởi
Trọng
tài
thương
mại
Việt
Nam
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
trọng
tài
thương
mại.
Việc
bổ
sung
này
phù
hợp
với
thực
tiễn,
tuy
nhiên,
Luật
Đất
đai
năm
2024
vẫn
chưa
làm
rõ
khái
niệm
“tranh
chấp
phát
sinh
từ
hoạt
động
thương
mại
liên
quan
đến
đất
đai.”
Để
đảm
bảo
sự
thống
nhất
trong
quá
trình
lựa
chọn
cơ
quan
giải
quyết
tranh
chấp
và
phát
huy
tốt
vai
trò
của
Trọng
tài
thương
mại,
cần
có
văn
bản
hướng
dẫn
về
việc
xác
định
những
loại
tranh
chấp
này.
Theo
quan
điểm
của
tác
giả,
tranh
chấp
phát
sinh
từ
hoạt
động
thương
mại
liên
quan
đến
đất
đai
là
những
xung
đột,
mâu
thuẫn
phát
sinh
từ
các
hoạt
động
mua
bán
hàng
hóa,
cung
ứng
dịch
vụ,
đầu
tư,
xúc
tiến
thương
mại
và
các
hoạt
động
sinh
lợi
khác
có
đối
tượng
trực
tiếp
là
quyền
sử
dụng
đất.
Trên
đây
là
một
số
điểm
mới
nổi
bật
của
Luật
Đất
đai
năm
2024
mà
các
Kiểm
sát
viên
cần
lưu
ý
trong
quá
trình
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chấp
về
đất
đai,
nhằm
đảm
bảo
việc
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chếp
về
đất
đai
của
Toà
án
đúng
quy
định
của
pháp
luật./.
PHẠM
TẤT
LỢI
–
VKSND
huyện
Lâm
Bình