Trong
thực
tiễn
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
án
hình
sự
có
nhiều
khó
khăn
vướng
mắc
về
đánh
giá
chứng
cứ,
xác
định
tội
danh;
tôi
xin
trao
đổi
về
việc
xác
định
tội
danh
trong
trường
hợp
cụ
thể
như
sau:
Khoảng
20
giờ
ngày
22/01/2019,
Lương
Văn
D,
Nguyễn
Văn
P,
Triệu
Văn
B
cùng
nhau
đến
quán
Karaoke
thuộc
tổ
11,
thị
trấn
Y
để
hát
Karaoke.
Khoảng
23
giờ
30
phút
cùng
ngày,
B
đi
về
trước
còn
lại
D
và
P
ở
lại
phòng
hát.
Do
không
có
đủ
tiền
để
trả
tiền
hát
nên
D
gọi
điện
thoại
cho
B
quay
lại
góp
tiền
thanh
toán
và
đón
P,
nhưng
B
không
đồng
ý
và
nói
chỉ
đón
P
ở
khu
vực
trung
tâm
thị
trấn.
Bực
tức
trước
thái
độ
của
B
nên
D
đã
nảy
sinh
ý
định
đánh
cho
B
một
trận
cho
bõ
tức.
Sau
đó,
D
chở
P
đến
khu
vực
trung
tâm
thị
trấn
gặp
B
đang
ngồi
chờ
trên
xe
mô
tô
biển
kiểm
soát
22K5-xxxx
(xe
của
B),
D
liền
tiến
đến
dùng
chân
phải
đạp
một
phát
trúng
vào
hông
bên
trái
của
B
làm
B
ngã
và
xe
mô
tô
đổ
xuống
đường.
Sau
đó,
D
tiếp
tục
dùng
chân
đạp
liên
tiếp
hai
phát
vào
sườn
phía
bên
trái
và
dùng
tay
tát
liên
tiếp
hai
phát
vào
vùng
mặt
B
và
nói
“có
tiền
để
trả
tiền
hát
không?”
B
nói
“không
có”.
Lúc
này,
D
nảy
sinh
ý
định
chiếm
đoạt
xe
mô
tô
của
B
mang
đi
cầm
cố
để
lấy
tiền
trả
tiền
hát,
D
nói
“không
có
tiền
thì
mang
xe
đi
cắm”,
B
trả
lời
“xe
không
có
giấy
tờ”,
D
tiếp
tục
nói
“thế
thì
mày
đi
theo
tao
để
viết
giấy”.
Sau
đó,
D
dựng
xe
mô
tô
của
B
lên,
một
mình
điều
khiển
xe
mô
tô
của
B
đi
về
hướng
thị
trấn
Y.
Đi
được
khoảng
10m,
D
quay
lại
thấy
B
không
đi,
D
tiếp
tục
đe
dọa
“mày
không
đi
tao
đánh
cho
một
trận
nữa
bây
giờ”
và
tiếp
tục
điều
khiển
xe
mô
tô
của
B
đi
trước.
Sợ
bị
đánh
tiếp,
B
nhờ
P
điều
khiển
xe
mô
tô
chở
đi
cùng
D.
Đi
được
một
đoạn,
B
xin
P
điều
khiển
xe,
P
đồng
ý,
B
đã
điều
khiển
xe
đi
thẳng
đến
Công
an
huyện
Y
trình
báo
sự
việc.
Khi
biết
việc
B
đã
báo
Công
an,
lo
sợ
bị
bắt
nên
D
đã
đưa
xe
mô
tô
của
B
cho
P
để
trả
lại
cho
B
nhưng
do
xe
hết
xăng
không
nổ
được
máy
nên
P
đã
gửi
xe
mô
tô
vào
quán
Karaoke
rồi
đi
về.
Quá
trình
điều
tra,
Hoàng
Văn
B
từ
chối
giám
định
thương
tích; Kết
luận
định
giá
tài
sản
của
Hội
đồng
định
giá
tài
sản
trong
tố
tụng
hình
sự
huyện
Y,
kết
luận:
xe
mô
tô
biển
kiểm
soát
22K5-xxxx
tại
thời
điểm
có
giá
trị
là:
4.200.000đ
(Bốn
triệu
hai
trăm
nghìn
đồng).
Trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án,
hiện
có
nhiều
quan
điểm
khác
nhau
về
việc
xác
định
tội
danh
đối
với
Lương
Văn
D:
-
Quan
điểm
thứ
nhất: D
phạm
tội
Cưỡng
đoạt
tài
sản,
quy
định
tại
khoản
1
Điều
170
BLHS.
Vì
hành
vi
của
D
được
tách
làm
hai
giai
đoạn
riêng
biệt,
giai
đoạn
đầu
bực
tức
trước
thái
độ
của
B
nên
đánh
cho
bõ
tức;
giai
đoạn
hai
là
chiếm
đoạt
xe
mô
tô,
D
chỉ
đe
dọa
“mày
không
đi
tao
đánh
cho
một
trận
nữa
bây
giờ”.
-
Quan
điểm
thứ
hai: D
phạm
tội
Cướp
tài
sản,
quy
định
tại
khoản
1,
Điều
168
BLHS.
Vì
D
đã
dùng
vũ
lực
và
tiếp
tục
đe
dọa
dùng
vũ
lực
ngay
tức
khắc
đối
với
B
làm
cho
B
lâm
vào
tình
trạng
không
chống
cự
được
để
chiếm
đoạt
tài
sản.
Tôi
nhất
trí
với
quan
điểm
thứ
hai,
vì: Trước
hết,
để
xác
định
tội
danh
cần
quan
tâm
và
làm
rõ
dấu
hiệu
đặc
trưng
của
hành
vi
khách
quan
cấu
thành
tội
Cướp
tài
sản
và
tội
Cưỡng
đoạt
tài
sản.
Đối
với
tội
Cướp
tài
sản
(Điều
168
BLHS):
Dấu
hiệu
đặc
trưng
là
hành
vi
“Dùng
vũ
lực,
đe
dọa
dùng
vũ
lực
ngay
tức
khắc
hoặc
có
hành
vi
khác
làm
cho
người
bị
tấn
công
lâm
vào
tình
trạng
không
thể
chống
cự
được
nhằm
chiếm
đoạt
tài
sản".
Tức
là
người
phạm
tội
đã
thực
hiện
dùng
sức
mạnh
vật
chất
tác
động
vào
cơ
thể
của
nạn
nhân
như
(đấm,
đá,
tát
…)
đe
dọa
dùng
vũ
lực
ngay
tức
khắc…làm
cho
ý
trí
của
nạn
nhân
bị
tê
liệt
không
thể
chống
cự
được
nhằm
chiếm
đoạt
tài
sản.
Đối
với
tội
Cưỡng
đoạt
tài
sản
(Điều
170
BLHS):
Dấu
hiệu
đặc
trưng
là
hành
vi
“Đe
dọa
sẽ
dùng
vũ
lực
hoặc
có
thủ
đoạn
khác
uy
hiếp
tinh
thần
nhằm
chiếm
đoạt
tài
sản”.
Ở
cả
hai
tội
danh
đều
có
hành
vi
đe
dọa
dùng
vũ
lực
nhưng
tính
chất
đe
dọa
có
sự
khác
nhau:
Đối
với
tội
cướp
tài
sản,
đe
dọa
dùng
vũ
lực
là
ngay
tức
khắc,
làm
cho
người
bị
đe
dọa
thấy
rằng
nguy
hiểm
sẽ
xảy
ra
ngay
và
họ
không
thể
tránh
khỏi
nếu
không
giao
tài
sản
ngay
tức
khắc.
Người
bị
đe
dọa
không
có
điều
kiện
để
suy
nghĩ,
cân
nhắc
hay
tìm
biện
pháp
ngăn
chặn
đối
với
hành
vi
mà
người
phạm
tội
đang
đe
dọa,
sức
mãnh
liệt
của
sự
đe
dọa
làm
cho
ý
chí
chống
cự
của
người
bị
đe
dọa
tê
liệt.
Đối
với
tội
cưỡng
đoạt
tài
sản,
hành
vi
đe
dọa
dùng
vũ
lực
là
tại
một
thời
điểm
trong
tương
lai,
không
có
nguy
cơ
xảy
ra
ngay.
Trong
trường
hợp
này,
người
bị
đe
dọa
vẫn
có
một
khoảng
thời
gian
để
cân
nhắc,
suy
nghĩ,
tìm
biện
pháp
ngăn
chặn.
Trở
lại
vụ
án
trên,
hành
vi
của
Lương
Văn
D
thể
hiện
đã
dùng
vũ
lực
và
đe
dọa
dùng
vũ
lực
đối
với
B
như:
dùng
chân
đạp
vào
hông
bên
trái
của
B
làm
cho
B
ngã
và
mô
tô
đổ
xuống
đường,
sau
đó
tiếp
tục
dùng
chân
đạp
hai
phát
vào
sườn
và
dùng
tay
tát
liên
tiếp
vào
mặt
của
B.
Liền
ngay
sau
đó,
D
đã
nảy
sinh
ý
định
chiếm
đoạt
xe
mô
tô
của
B;
khi
thấy
B
không
đi,
D
tiếp
tục
đe
dọa
dùng
vũ
lực
ngay
tức
khắc“mày
không
đi
tao
đánh
cho
một
trận
nữa
bây
giờ”.
Thực
tế
vừa
bị
D
đánh
xong,
do
sợ
bị
đánh
tiếp
nên
B
buộc
phải
đi
theo;
đồng
thời
một
nội
dung
cần
hết
sức
lưu
ý,
ngay
sau
khi
D
dùng
vũ
lực
đối
với
B
thì
D
thực
hiện
hành
vi
lấy
xe
mô
tô
của
B
để
mang
đi
cầm
cố,
chỉ
khi
biết
B
báo
Công
an
D
mới
trả
lại
xe
mô
tô,
việc
trả
lại
xe
là
nằm
ngoài
ý
muốn
của
D.
Như
vậy:
Hành
vi
của
D
đã
dùng
vũ
lực
và
tiếp
tục
đe
dọa
dùng
vũ
lực
ngay
tức
khắc
đối
với
B
làm
cho
B
lâm
vào
tình
trạng
không
chống
cự
được
để
chiếm
đoạt
tài
sản.
Vì
vậy,
hành
vi
của
D
đủ
yếu
tố
cấu
thành
tội
Cướp
tài
sản,
quy
định
tại
khoản
1,
Điều
168
Bộ
luật
hình
sự.
Do
vụ
án
còn
nhiều
quan
điểm
chưa
thống
nhất
để
xác
định
tội
danh
đối
với
Lương
Văn
D,
rất
mong
được
sự
quan
tâm
cùng
trao
đổi
của
các
đồng
chí,
đồng
nghiệp.