Giải
quyết
khiếu
nại,
tố
cáo
và
kiểm
sát
việc
giải
quyết
KNTC
trong
hoạt
động
tư
pháp
là
một
trong
những
chức
năng,
nhiệm
vụ
quan
trọng
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân.
Công
tác
này
góp
phần
bảo
đảm
quyền
tự
do,
dân
chủ,
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
công
dân,
tăng
cường
pháp
chế
xã
hội
chủ
nghĩa
và
phòng
chống
tiêu
cực,
sai
phạm
trong
hoạt
động
của
các
cơ
quan
tư
pháp.
Những
năm
gần
đây,
hệ
thống
pháp
luật
về
tư
pháp
và
tố
tụng
không
ngừng
được
hoàn
thiện.
Đặc
biệt,
sự
ra
đời
của
Luật
sửa
đổi,
bổ
sung
một
số
điều
của
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
(Luật
số
99/2025/QH15),
cùng
hệ
thống
các
Thông
tư
quy
định
chi
tiết
của
VKSND
Tối
cao
(như
Thông
tư
số
02/2025/TT-VKSTC,
Thông
tư
số
03/2025/TT-VKSTC)
và
các
Thông
tư
liên
tịch
phối
hợp
liên
ngành
đã
tạo
hành
lang
pháp
lý
đồng
bộ,
tăng
cường
thẩm
quyền
và
trách
nhiệm
của
Kiểm
sát
viên
trong
kiểm
sát
hoạt
động
tư
pháp.
Tuy
nhiên,
từ
thực
tiễn
công
tác
giải
quyết
và
kiểm
sát
giải
quyết
KNTC
trong
hoạt
động
tư
pháp
tại
VKSND
hai
cấp
tỉnh
Tuyên
Quang
cho
thấy,
quá
trình
triển
khai
các
quy
định
mới
vẫn
phát
sinh
nhiều
khó
khăn,
vướng
mắc
cần
được
nhận
diện
chính
xác
để
đề
ra
giải
pháp
khắc
phục
kịp
thời.
I/
MỘT
SỐ
KHÓ
KHĂN,
VƯỚNG
MẮC
1.
Khó
khăn,
vướng
mắc
trong
việc
xác
định
đúng
thẩm
quyền
giải
quyết
đơn
Đơn
thư
có
nội
dung
đan
xen
phức
tạp:
Hoạt
động
tư
pháp
mang
tính
chuỗi
và
liên
tục.
Một
vụ
án,
vụ
việc
có
thể
trải
qua
nhiều
giai
đoạn
và
chịu
sự
tác
động
của
nhiều
cơ
quan
(Cơ
quan
điều
tra,
Viện
kiểm
sát,
Tòa
án,
Thi
hành
án),
đơn
thư
công
dân
gửi
cùng
lúc
tố
cáo/khiếu
nại
hành
vi
của
cán
bộ
thuộc
nhiều
cơ
quan
khác
nhau.
Thực
tế
người
dân
thường
"gửi
đơn
diện
rộng"
(gửi
nhiều
cơ
quan).
Việc
phân
loại,
chuyển
đơn
và
xác
định
cơ
quan
nào
thụ
lý
giải
quyết
lần
đầu,
còn
gặp
nhiều
vướng
mắc,
dễ
dẫn
đến
việc
chuyển
đơn
lòng
vòng
hoặc
trùng
lặp
giữa
các
đơn
vị.
2.
Khó
khăn
trong
phân
biệt
bản
chất
pháp
lý
của
đơn
thư
Ranh
giới
giữa
KNTC
với
Kiến
nghị,
Phản
ánh
và
Đề
nghị
xem
xét,
nhiều
đơn
thư
có
tiêu
đề
là
"KNTC"
nhưng
nội
dung
thực
chất
lại
là
kiến
nghị
xem
xét
lại
bản
án,
quyết
định
đã
có
hiệu
lực
pháp
luật
theo
thủ
tục
Giám
đốc
thẩm
hoặc
Tái
thẩm;
hoặc
đề
nghị
giải
thích,
đánh
giá
lại
chứng
cứ.
Kiểm
sát
viên
không
phân
định
kỹ
nội
dung
đơn
sẽ
rất
dễ
có
nguy
cơ
vi
phạm
thẩm
quyền,
biến
việc
giải
quyết
khiếu
nại
thành
việc
"xem
xét
lại
toàn
bộ
vụ
án",
vượt
quá
thẩm
quyền
của
người
giải
quyết
khiếu
nại
do
Bộ
luật
Tố
tụng
quy
định.
3.
Khó
khăn
trong
công
tác
thu
thập,
kiểm
tra
và
đánh
giá
tài
liệu,
chứng
cứ
Để
giải
quyết
đơn
KNTC
trong
hoạt
động
tư
pháp
(nhất
là
khiếu
nại
lần
hai)
hoặc
thực
hiện
quyền
trực
tiếp
kiểm
sát,
Viện
kiểm
sát
phải
nghiên
cứu
hồ
sơ
gốc.
Tuy
nhiên,
hồ
sơ
tài
liệu
lại
đang
do
Cơ
quan
điều
tra
hoặc
Tòa
án
lưu
giữ
để
phục
vụ
quá
trình
tố
tụng.
Việc
rút
hồ
sơ,
sao
chép
tài
liệu
thường
mất
nhiều
thời
gian
do
quy
trình
phối
hợp
liên
ngành
còn
bất
cập.
Trong
một
số
trường
hợp,
người
khiếu
nại/tố
cáo
không
cung
cấp
đủ
chứng
cứ,
còn
người
bị
tố
cáo
là
người
tiến
hành
tố
tụng
có
chuyên
môn
pháp
lý
cao.
Việc
thu
thập
chứng
cứ
để
chứng
minh
có
hay
không
có
sai
phạm
tố
tụng
đòi
hỏi
Kiểm
sát
viên
phải
có
kỹ
năng
nghiệp
vụ
rất
cao
và
quy
trình
xác
minh
chặt
chẽ.
4.
Áp
lực
gia
tăng
đơn
thư
và
bất
cập
trong
ứng
dụng
công
nghệ
thông
tin
Số
lượng
đơn
thư
trong
hoạt
động
tư
pháp
có
xu
hướng
tăng
qua
từng
năm.
Một
số
trường
hợp
người
dân
bị
kích
động,
lợi
dụng
quyền
KNTC
để
kéo
dài
thời
gian
thi
hành
án
hoặc
gây
áp
lực
cho
lực
lượng
chức
năng.
Việc
ứng
dụng
CNTT
trong
công
tác
quản
lý,
phân
loại
đơn
thư
bước
đầu
đã
được
triển
khai
nhưng
chưa
kết
nối
liên
thông
giữa
các
cơ
quan
tư
pháp
trên
địa
bàn
dẫn
đến
nguy
cơ
bỏ
sót,
trùng
lặp
hoặc
chậm
phát
hiện
đơn
quá
hạn
giải
quyết.
II/
GIẢI
PHÁP
VÀ
KIẾN
NGHỊ
1.
Nâng
cao
trách
nhiệm
và
kỹ
năng
phân
loại,
xác
minh
đơn
Kiểm
sát
viên
được
phân
công
giải
quyết
KNTC
phải
tuyệt
đối
tuân
thủ
pháp
luật,
thực
hiện
nghiêm
nguyên
tắc
khách
quan,
toàn
diện
chủ
động
kiểm
tra,
đối
chiếu
trực
tiếp
tài
liệu
tố
tụng
trong
hồ
sơ
vụ
án.
Tăng
cường
giải
thích
pháp
luật
tại
khâu
tiếp
công
dân,
giải
thích
rõ
cho
người
khiếu
nại/tố
cáo
hiểu
đúng
quy
định
về
thẩm
quyền,
thời
hạn,
phân
biệt
rõ
giữa
khiếu
nại
hành
vi
tố
tụng
với
việc
đề
nghị
kháng
nghị
Giám
đốc
thẩm/Tái
thẩm
để
hướng
dẫn
công
dân
thực
hiện
đúng
quyền.
2.
Tăng
cường
và
nâng
cao
chất
lượng
công
tác
Kiểm
sát
việc
giải
quyết
KNTC
Chuyển
từ
"kiểm
sát
thụ
động"
sang
"kiểm
sát
chủ
động":
Viện
kiểm
sát
hai
cấp
cần
chủ
động
theo
dõi,
kiểm
sát
chặt
chẽ
việc
tiếp
nhận,
thụ
lý
và
giải
quyết
KNTC
của
Cơ
quan
điều
tra,
Tòa
án
và
Cơ
quan
THADS.
Khi
phát
hiện
cơ
quan
tư
pháp
chậm
giải
quyết,
không
thụ
lý
đúng
luật
hoặc
giải
quyết
không
có
căn
cứ,
cần
phải
kiên
quyết
ban
hành
Kiến
nghị
hoặc
Kháng
nghị
để
khắc
phục,
phòng
ngừa
sai
phạm.
3.
Tăng
cường
ứng
dụng
Công
nghệ
thông
tin
và
chuyển
đổi
số
trong
quản
lý
đơn
Đẩy
mạnh
ứng
dụng
phần
mềm
quản
lý
đơn
thư
KNTC
trong
toàn
ngành
Kiểm
sát
Tuyên
Quang;
hướng
tới
xây
dựng
cơ
chế
chia
sẻ
dữ
liệu
số
giữa
VKSND
với
Công
an
và
Tòa
án
tỉnh
để
quản
lý
chặt
chẽ
mã
định
danh
đơn
thư,
thời
hạn
giải
quyết
và
kết
quả
xử
lý.
Sử
dụng
công
nghệ
để
tự
động
cảnh
báo
các
đơn
thư
sắp
đến
hạn
hoặc
quá
hạn
giải
quyết,
đặc
biệt
là
các
vụ
việc
phức
tạp,
dư
luận
xã
hội
quan
tâm.
4.
Hoàn
thiện
và
thực
hiện
hiệu
quả
Quy
chế
phối
hợp
liên
ngành
Tăng
cường
hiệu
lực
thực
thi
của
các
Thông
tư
liên
tịch
quy
định
về
phối
hợp
giải
quyết
KNTC
trong
hoạt
động
tư
pháp.
Định
kỳ
tổ
chức
các
phiên
họp
giao
ban
liên
ngành
để
rà
soát,
thống
nhất
hướng
xử
lý
đối
với
các
đơn
thư
phức
tạp,
kéo
dài,
có
quan
điểm
khác
nhau
giữa
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng.
5.
Chú
trọng
công
tác
đào
tạo,
bồi
dưỡng
cán
bộ
làm
công
tác
kiểm
sát
KNTC
Định
kỳ
tổ
chức
tập
huấn,
bồi
dưỡng
kỹ
năng
nghiệp
vụ
chuyên
sâu
về
xử
lý
đơn
thư,
kỹ
năng
giải
quyết
khiếu
nại
và
kỹ
năng
trực
tiếp
kiểm
sát
cho
Kiểm
sát
viên.
Bố
trí
các
Kiểm
sát
viên
có
bản
lĩnh
chính
trị
vững
vàng,
nắm
chắc
pháp
luật
tố
tụng
và
có
kỹ
năng
dân
vận
tốt
làm
công
tác
tiếp
công
dân
và
giải
quyết
KNTC.
Tác
giả
rất
mong
nhận
được
sự
góp
ý
và
phản
hồi
của
các
đồng
chí,
đồng
nghiệp./.
Tạ
Văn
Thiển,
TT-KT