1.
Sự
cần
thiết
của
chuyên
đề:
Hoạt
động
đối
chất,
là
một
trong
rất
nhiều
các
biện
pháp
mà
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
người
tiến
hành
tố
tụng
sử
dụng
trong
quá
trình
thu
thập
và
đánh
giá
chứng
cứ.
Hoạt
động
thu
thập
chứng
cứ
nêu
trên
chỉ
có
giá
trị
sử
dụng
và
chứng
minh
khi
nó
được
cơ
quan,
người
có
thẩm
quyền
thu
thập
theo
đúng
trình
tự,
thủ
tục
mà
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
quy
định,
vì
vậy
đòi
hỏi
Kiểm
sát
viên
trong
quá
trình
kiểm
sát
việc
đối
chất
phải
có
kiến
thức
và
kỹ
năng
để
kiểm
sát
chặt
chẽ
các
hoạt
động
điều
tra
nói
chung
cũng
như
hoạt
động
đối
chất
nói
riêng,
tránh
làm
oan
sai
hoặc
bỏ
lọt
tội
phạm.
Tôi
nhận
thấy
để
nâng
cao
kiến
thức
về
lý
luận
cũng
như
kỹ
năng
và
thực
tiễn
trong
quá
trình
thực
hiện
nhiệm
vụ
KSĐT
các
vụ
án
hình
sự
được
phân
công,
cần
xây
dựng
Chuyên
đề
để
theo
dõi,
tổng
hợp,
đánh
giá
hoạt
động
thu
thập
chứng
cứ
liên
quan
đến
biện
pháp
đối
chất
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án
hình
sự
trên
địa
bàn
huyện
Chiêm
Hóa
trong
thời
gian
qua,
từ
đó
đánh
giá
thực
trạng,
tìm
ra
những
tồn
tại,
hạn
chế
và
đưa
ra
những
giải
pháp
để
thực
hiện
tốt
công
tác
kiểm
sát
hoạt
động
đối
chất
trong
quá
trình
KSĐT
vụ
án
hình
sự.
2.
Về
thực
trạng
hoạt
động
thu
thập
chứng
cứ
liên
quan
đến
biện
pháp
đối
chất
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án
hình
sự
trên
địa
bàn
huyện
Chiêm
Hóa:
Trong
năm
2017,
VKSND
huyện
Chiêm
Hóa
đã
THQCT
và
KSĐT
71
vụ
án
hình
sự
khởi
tố
mới.
Trong
số
71
vụ
án
đã
khởi
tố
thì
hoạt
động
điều
tra
thông
qua
biện
pháp
đối
chất
được
thực
hiện
34
lượt,
tập
trung
chủ
yếu
ở
các
vụ
án
về
tội
Đánh
bạc,
Cố
ý
gây
thương
tích.
Mâu
thuẫn
trong
các
vụ
án
rất
đa
dạng
như
mâu
thuẫn
về
động
tác,
tư
thế,
vị
trí
gây
thương
tích
giữa
lời
khai
bị
can
và
người
bị
hại,
bị
can
và
nhân
chứng;
mâu
thuẫn
về
lời
khai
giữa
bị
can
với
bị
can,
bị
can
với
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan
về
vai
trò
của
bị
can,
số
tiền
bị
can
sử
dụng
vào
việc
đánh
bạc
với
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan
trong
vụ
án
đánh
bạc.
Trong
đó:
-
Số
lần
đối
chất
có
hiệu
quả
là
27
lượt/34
lượt
chiếm
79,5%;
-
Số
lần
đối
chất
chưa
đạt
yêu
cầu
là
07
lượt/34
lượt
chiếm
20,5%.
Đối
với
việc
kiểm
sát
hoạt
động
đối
chất,
Kiểm
sát
viên
chưa
trực
tiếp
tham
gia
vào
buổi
đối
chất
để
kiểm
sát
hoạt
động
đối
chất,
mà
chỉ
kiểm
sát
nội
dung
biên
bản
đối
chất
trong
quá
trình
nghiên
cứu
hồ
sơ.
Theo
nội
dung
biên
bản
đối
chất,
Điều
tra
viên
đặt
câu
hỏi
liên
quan
đến
các
nội
dung
còn
mâu
thuẫn,
các
bên
tham
gia
đối
chất
thường
trả
lời
mang
tính
phủ
định
lẫn
nhau,
bên
nào
cũng
khẳng
định
lời
khai
của
mình
là
đúng,
còn
bên
kia
(bên
được
đối
chất
với
mình)
là
khai
báo
sai,
chưa
đúng
sự
thật.
Nội
dung
biên
bản
đối
chất
chỉ
ghi
nhận
lời
khai
báo
của
các
bên,
Điều
tra
viên
chưa
chú
trọng
việc
đưa
ra
các
chứng
cứ,
tài
liệu,
đồ
vật
có
liên
quan
để
đấu
tranh
hoặc
cho
những
người
đối
chất
tự
đặt
câu
hỏi
lẫn
nhau
trong
quá
trình
đối
chất,
do
đó
hiệu
quả
của
biện
pháp
này
trong
một
số
vụ
án
còn
hạn
chế,
chưa
giải
quyết
triệt
để
được
mâu
thuẫn,
do
đó
giá
trị
chứng
minh,
bổ
trợ
chứng
cứ
của
hoạt
động
đối
chất
chưa
cao.
3.
Những
điểm
mới
của
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
năm
2015
về
hoạt
động
đối
chất:
So
với
BLTTHS
2003,
hoạt
động
đối
chất
theo
quy
định
của
BLTTHS
2015
có
nhiều
điểm
mới
như:
Trước
khi
tiến
hành
đối
chất,
Điều
tra
viên
phải
thông
báo
cho
Viện
kiểm
sát
cùng
cấp
để
cử
Kiểm
sát
viên
kiểm
sát
việc
đối
chất.
Kiểm
sát
viên
phải
có
mặt
để
kiểm
sát
việc
đối
chất.
Bổ
sung
quy
định
về
nội
dung,
cách
thức
đối
chất
“Trong
quá
trình
đối
chất,
Điều
tra
viên
có
thể
đưa
ra
chứng
cứ,
tài
liệu,
đồ
vật
có
liên
quan”.
Bổ
sung
thêm
về
hình
thức
lập
biên
bản
là
ghi
âm
hoặc
ghi
hình
có
âm
thanh
khi
tiến
hành
đối
chất.
4.
Kỹ
năng
kiểm
sát
hoạt
động
đối
chất:
Để
kiểm
sát
chặt
chẽ
hoạt
động
đối
chất,
Kiểm
sát
viên
cần
thực
hiện
các
nội
dung
sau:
4.1.
Kiểm
sát
căn
cứ,
tính
hợp
pháp
của
hoạt
động
đối
chất.
-
Bảo
đảm
hoạt
động
đối
chất
chỉ
có
thể
được
tiến
hành
giữa
những
người
tham
gia
tố
tụng
trong
vụ
án
hình
sự
được
khởi
tố
và
đồng
thời
phải
là
những
người
đã
được
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
người
tiến
hành
tố
tụng
ghi
lời
khai
về
các
tình
tiết
của
vụ
án
theo
đúng
quy
định
của
pháp
luật tố
tụng
hình
sự
nhưng
lời
khai
có
mâu
thuẫn
giữa
hai
hay
nhiều
người
về
những
tình
tiết,
những
vấn
đề
có
ý
nghĩa
đối
với
việc
giải
quyết
vụ
án:
Mâu
thuẫn
ở
đây
được
hiểu
là
sự
trái
ngược
nhau,
phủ
định
lẫn
nhau
giữa
những
lời
khai
mang
nội
dung
thông
tin
về
cùng
một
hoặc
một
số
tình
tiết
có
ý
nghĩa
đối
với
việc
giải
quyết
vụ
án
theo
quy
định
tại
khoản
1,
Điều
189,
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự.
Việc
đối
chất
có
thể
tiến
hành
giữa
bị
can
với
bị
can;
giữa
bị
can
với
người
bị
tình
nghi,
người
bị
tạm
giữ,
người
làm
chứng,
người
bị
hại;
giữa
người
bị
hại
với
người
làm
chứng;
giữa
người
làm
chứng
với
nhau…Kiểm
tra
việc
tiến
hành
đối
chất
được
thực
hiện
ở
giai
đoạn
nào
(theo
quy
định
tại
điều
147
của
BLTTHS
2015,
giai
đoạn
giải
quyết
tố
giác,
tin
báo
về
tội
phạm
không
được
tiến
hành
đối
chất);
Việc
giải
quyết
vụ
án
đã
được
Điều
tra
viên
thực
hiện
đầy
đủ,
toàn
diện
tất
cả
các
biện
pháp
điều
tra
chưa?
Chỉ
tiến
hành
đối
chất
khi
Cơ
quan
điều
tra
đã
tiến
hành
tất
cả
các
hoạt
động
điều
tra,
thu
thập
chứng
cứ
khác
nhưng
chưa
giải
quyết
được
mâu
thuẫn.
-
Kiểm
sát
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
những
người
tham
gia
đối
chất
là
ai
(bị
can,
người
bị
hại,
người
làm
chứng...),
những
người
tham
gia
đối
chất
có
lời
khai
mâu
thuẫn
với
nhau
không?
-
Kiểm
sát
việc
Điều
tra
viên
đã
hỏi
họ
về
mối
quan
hệ
giữa
những
người
tham
gia
đối
chất
với
nhau
chưa?
Thành
phần
tiến
hành,
tham
gia
đối
chất
đã
đầy
đủ
chưa?
Lưu
ý:
Đối
với
bị
hại
là
người
chưa
thành
niên
việc
đối
chất
phải
có
người
đại
diện,
giám
hộ
của
họ
tham
dự
và
chỉ
tiến
hành
đối
chất
giữa
bị
hại
là
người
chưa
thành
niên
với
bị
can,
bị
cáo
để
làm
sáng
tỏ
tình
tiết
của
vụ
án
trong
trường
hợp
nếu
không
đối
chất
thì
không
thể
giải
quyết
được
vụ
án.
Nếu
có
người
làm
chứng
hoặc
người
bị
hại
tham
gia
đối
chất
thì
trước
tiên
Điều
tra
viên
phải
giải
thích
cho
họ
biết
trách
nhiệm
về
việc
từ
chối
khai
báo
hoặc
cố
tình
khai
báo
gian
dối.
Bởi
vì
hậu
quả
pháp
lý
của
việc
từ
chối
khai
báo
hoặc
trốn
tránh
khai
báo
của
họ
nếu
không
có
lý
do
chính
đáng
có
thể
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
theo
Điều
382,
383
của
Bộ
luật
hình
sự.
Việc
giải
thích
về
quyền
và
nghĩa
vụ
của
người
bị
hại
(Điều
62
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự),
người
làm
chứng
(Điều
66
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự),
tham
gia
đối
chất
phải
được
ghi
vào
biên
bản.
-
Kiểm
sát
việc
Điều
tra
viên
đọc
lại
nội
dung
biên
bản
đối
chất
cho
những
người
có
mặt
cùng
nghe.
Các
thành
phần
tham
gia
đối
chất
ký
vào
biên
bản
như
thế
nào,
có
ai
sửa
chữa,
ghi
thêm
nội
dung
nào
vào
biên
bản
không?
Biên
bản
đối
chất
có
tuân
theo
đúng
quy
định
tại
điều
178
của
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
không?
4.2.
Kiểm
sát
về
nội
dung
đối
chất:
-
Kiểm
sát
nội
dung
câu
hỏi
của
Điều
tra
viên
về
những
tình
tiết
cần
làm
sáng
tỏ,
những
mâu
thuẫn
nào
đã
được
đối
chất
giải
quyết;
những
mâu
thuẫn
hoặc
nội
dung
nào
chưa
được
giải
quyết,
nội
dung
nào
đã
làm
sáng
tỏ,
nội
dung
nào
chưa
được
làm
sáng
tỏ?
Điều
tra
viên
không
được
gợi
ý,
nhắc
nội
dung
lời
khai
trước
đó
của
họ
hoặc
mớm
cung,
dụ
cung.
Chỉ
sau
khi
các
bên
đối
chất
đã
khai
xong
thì
Điều
tra
viên
mới
được
nhắc
lại
lời
khai
trước
đó
của
họ
có
trong
hồ
sơ
vụ
án
nhằm
đấu
tranh
làm
rõ
mâu
thuẫn
lời
khai
của
họ
tại
buổi
đối
chất.
Kiểm
sát
việc
Điều
tra
viên
đưa
ra
những
chứng
cứ,
tài
liệu,
đồ
vật
có
liên
quan
đến
vụ
án
để
đấu
tranh
với
các
bên
tham
gia
đối
chất
nhằm
làm
rõ
những
mâu
thuẫn
đối
với
lời
khai
của
họ
trước
đó
và
tại
buổi
đối
chất.
-
Kiểm
sát
nội
dung
trả
lời
của
những
người
tham
gia
đối
chất,
họ
đã
trình
bày
và
giải
thích
về
những
mâu
thuẫn
giữa
lời
khai
của
họ
tại
buổi
đối
chất
với
lời
khai
trước
đây
hoặc
giữa
lời
khai
của
họ
với
lời
khai
của
những
người
khác
như
thế
nào
?
Sau
khi
nghe
đối
chất
xong,
Điều
tra
viên
có
thể
hỏi
thêm
đối
với
từng
người
đối
chất
và
yêu
cầu
họ
giải
thích
thêm
về
những
mâu
thuẫn
so
với
lời
khai
trước
đây.
Tất
cả
những
điều
đó
phải
được
ghi
rõ
trong
biên
bản
đối
chất.
-
Kiểm
sát
việc
lập,
ghi
chép
biên
bản
đối
chất
một
cách
trung
thực,
đúng
nội
dung
câu
hỏi
và
lời
khai
của
các
bên;
việc
sửa
chữa,
thay
đổi,
bổ
xung
lời
khai
trong
biên
bản
phải
được
thực
hiện
đúng
theo
quy
định.
-
Nếu
qua
việc
đối
chất,
Kiểm
sát
viên
phát
hiện
thấy
việc
tiến
hành
đối
chất
của
Điều
tra
viên
thực
hiện
không
đúng
quy
định
hoặc
việc
đối
chất
chưa
đạt
yêu
cầu
đề
ra
thì
tùy
từng
trường
hợp
cụ
thể,
Kiểm
sát
viên
có
thể
trực
tiếp
trao
đổi
yêu
cầu
Điều
tra
viên
khắc
phục
ngay
hoặc
báo
cáo
lãnh
đạo
Viện
để
tiếp
tục
ra
yêu
cầu
điều
tra
hoặc
kiến
nghị
Cơ
quan
điều
tra
khắc
phục
vi
phạm
hoặc
yêu
cầu
Cơ
quan
điều
tra
tiến
hành
đối
chất
lại
hoặc
đối
chất
bổ
sung.
Trong
nội
dung
bản
yêu
cầu
điều
tra
đối
chất
lại
hoặc
đối
chất
bổ
sung,
Kiểm
sát
viên
phải
chỉ
rõ
lý
do
và
những
vấn
đề
cụ
thể
cần
đối
chất
để
làm
rõ
khi
tiến
hành
đối
chất
lại,
đối
chất
bổ
sung
hoặc
cần
thiết
phải
thu
thập
thêm
chứng
cứ
để
phục
vụ
việc
đối
chất
tiếp
theo.
Trường
hợp
Viện
kiểm
sát
đã
yêu
cầu
đối
chất
mà
Điều
tra
viên
không
thực
hiện,
thực
hiện
chưa
đầy
đủ
hoặc
kết
quả
đối
chất
chưa
rõ
hoặc
sau
khi
kết
thúc
điều
tra,
Viện
kiểm
sát
nhận
hồ
sơ
vụ
án,
Kiểm
sát
viên
tiến
hành
phúc
cung
bị
can
và
những
người
tham
gia
tố
tụng
khác
trong
giai
đoạn
truy
tố
họ
phản
cung,
thay
đổi
nội
dung
lời
khai
trước
đó,
Kiểm
sát
viên
cần
phối
hợp
với
Điều
tra
viên
hoặc
tự
mình
tiến
hành
đối
chất
và
lập
biên
bản
đối
chất
theo
quy
định
tại Điều
178
và
Điều
189
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự.
Biên
bản
đối
chất
và
đĩa
CD
lưu
hình
ảnh,
file
âm
thanh
phải
được
lưu
vào
hồ
sơ
vụ
án
và
hồ
sơ
kiểm
sát
theo
quy
định.
5.
Một
số
giải
pháp
nâng
cao
chất
lượng
công
tác
kiểm
sát
hoạt
động
đối
chất.
Để
nâng
cao
chất
lượng,
hiệu
quả
trong
việc
kiểm
sát
hoạt
động
đối
chất,
Kiểm
sát
viên
cần
thực
hiện
một
số
nội
dung
sau:
Thứ
nhất:
Kiểm
sát
viên
cần
nêu
cao
ý
thức
tự
giác,
tinh
thần
trách
nhiệm,
tích
cực
học
hỏi
kinh
nghiệm
của
đồng
chí,
đồng
nghiệp,
chủ
động
nghiên
cứu,
học
tập
để
nâng
cao
trình
độ
và
tích
lũy
kiến
thức,
kỹ
năng
nghề
nghiệp;
nắm
vững
các
quy
định
của
pháp
luật
tố
tụng
hình
sự
về
trình
tự,
thủ
tục
khi
tiến
hành
hoạt
động
đối
chất
cũng
như
các
hoạt
động
điều
tra
thu
thập
chứng
cứ
khác
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án.
Thứ
hai:
Trước
khi
tiến
hành
đối
chất,
Kiểm
sát
viên
cần
nghiên
cứu
kỹ
hồ
sơ
vụ
án,
xác
định
những
vấn
đề,
những
nội
dung
cần
đối
chất
để
báo
cáo
Lãnh
đạo
Viện
đề
ra
yêu
cầu
điều
tra;
đồng
thời
chủ
động
trao
đổi,
thống
nhất
với
Điều
tra
viên
về
phương
pháp,
cách
thức
đối
chất
dựa
trên
tâm
lý,
đặc
điểm
nhân
thân
của
những
người
tham
gia
đối
chất,
từ
đó
đưa
ra
chiến
thuật
phù
hợp
trong
quá
trình
đối
chất;
chuẩn
bị
đầy
đủ
những
tài
liệu,
chứng
cứ
để
đấu
tranh
với
những
người
tham
gia
đối
chất
cố
tình
không
hợp
tác
với
Cơ
quan
điều
tra,
trốn
tránh
khai
báo
hoặc
khai
báo
gian
dối.
Thứ
ba:
Trường
hợp
khó
khăn,
phức
tạp,
Kiểm
sát
viên
cần
chủ
động
xin
ý
kiến
Lãnh
đạo
viện,
họp
Tổ
tư
vấn
kiểm
sát
viên
của
đơn
vị
hoặc
phối
hợp
với
Điều
tra
viên
báo
cáo,
đề
xuất
họp
liên
ngành
xin
ý
kiến
chỉ
đạo
thống
nhất;
đồng
thời
trao
đổi,
xin
ý
kiến
chỉ
đạo
của
Phòng
nghiệp
vụ
Viện
tỉnh
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án
nói
chung
cũng
như
hoạt
động
đối
chất
nói
riêng.
Trên
đây
là
Chuyên
đề
“Nâng
cao
kỹ
năng
kiểm
sát
việc
đối
chất”
của
tôi.
Rất
mong
các
đồng
chí
tham
gia
đóng
góp
ý
kiến
để
tôi
tiếp
tục
hoàn
thiện
chuyên
đề.
Hoàng
Minh
Tú.