1.
Bối
cảnh:
Từ
ngày
01/7/2025,
việc
áp
dụng
mô
hình
chính
quyền
địa
phương
02
cấp
gắn
với
hệ
thống
cơ
quan
THADS
01
cấp
đã
tạo
ra
bước
thay
đổi
căn
bản
trong
tổ
chức
và
hoạt
động:
Các
Chi
cục
THADS
cấp
huyện
chính
thức
chuyển
đổi,
tổ
chức
lại
thành
các
Phòng
THADS
khu
vực
trực
thuộc
THADS
cấp
tỉnh.
THADS
cấp
tỉnh
trở
thành
đầu
mối
duy
nhất
ra
Quyết
định
thi
hành
án
(QĐTHA)
đối
với
toàn
bộ
bản
án,
quyết
định
của
TAND
cấp
tỉnh
và
TAND
các
khu
vực,
sau
đó
mới
phân
công
cho
các
Phòng
THADS
khu
vực
trực
thuộc
hoặc
ủy
thác
thi
hành.
Trưởng
Phòng
THADS
khu
vực
không
còn
thẩm
quyền
ban
hành
đầy
đủ
các
QĐTHA
như
trước
đây
mà
chủ
yếu
đóng
vai
trò
tổ
chức
thực
hiện
theo
sự
phân
công
hoặc
ủy
quyền.
Việc
một
bản
án
có
thể
bị
chia
nhỏ
để
giao
cho
nhiều
Phòng
THADS
khu
vực
khác
nhau
cùng
thực
hiện
đã
khiến
một
Phòng
THADS
khu
vực
phải
thi
hành
cả
các
bản
án
ngoài
địa
bàn.
Sự
thay
đổi
này
trực
tiếp
tác
động,
làm
phát
sinh
nhiều
bất
cập
mới
đối
với
công
tác
kiểm
sát
thi
hành
án
của
VKSND.
2.
Khó
khăn,
bất
cập
trong
công
tác
kiểm
sát
Không
kiểm
sát
được
toàn
diện
bản
án:
VKSND
khu
vực
chỉ
kiểm
sát
các
Quyết
định
THA
do
THADS
tỉnh
giao
về
địa
bàn
mình.
Nếu
1
bản
án
có
nhiều
người
phải
THA
ở
nhiều
nơi,
VKSND
khu
vực
không
thể
biết
THADS
tỉnh
đã
ra
đủ
QĐTHA
cho
tất
cả
đương
sự
chưa,
dẫn
đến
nguy
cơ
bỏ
lọt
người
phải
THA.
Một
bản
án
bị
chia
nhỏ
cho
nhiều
Phòng
THADS
thi
hành
và
nhiều
VKSND
khu
vực
cùng
kiểm
sát.
Không
VKSND
khu
vực
nào
nắm
được
tổng
thể
toàn
bộ
bản
án,
gây
khó
xác
định
trách
nhiệm
khi
xảy
ra
sai
sót.
Thiếu
cơ
chế
liên
thông
dữ
liệu:
Kiểm
sát
viên
không
có
công
cụ
tra
cứu
xem
các
phần
nghĩa
vụ
khác
trong
cùng
bản
án
đã
được
xử
lý,
ủy
thác
hay
bỏ
sót.
Tình
trạng
này
khiến
công
tác
nắm
bắt
tiến
độ
thi
hành
án
không
đầy
đủ,
Kiểm
sát
viên
hoàn
toàn
thụ
động
trong
việc
đối
chiếu
hồ
sơ.
Thiếu
cơ
chế
liên
thông
dữ
liệu:
Kiểm
sát
viên
không
có
công
cụ
tra
cứu
xem
các
phần
nghĩa
vụ
khác
trong
cùng
bản
án
đã
được
xử
lý,
ủy
thác
hay
bỏ
sót.
3.
Ví
dụ
thực
tế
Quyết
định
HNGĐ
số
230/2026
(TAND
Khu
vực
2):
Toà
án
tuyên
chị
Qu
(ở
Tuyên
Quang)
và
anh
L
(ở
Hưng
Yên)
mỗi
người
phải
chịu
150.000đ
án
phí.
Khi
thụ
lý,
VKSND
khu
vực
2
chỉ
nhận
được
QĐTHA
đối
với
chị
Qu
do
THADS
tỉnh
chuyển
giao.
Do
không
có
thông
tin
về
anh
L,
VKSND
khu
vực
2
không
thể
xác
định
THADS
tỉnh
đã
ra
QĐTHA
đối
với
anh
L
hay
đã
ủy
thác
về
Hưng
Yên,
dẫn
đến
rủi
ro
bỏ
sót
nghĩa
vụ
thi
hành
án
mà
VKS
không
thể
kiểm
sát.
Bản
án
hình
sự
số
29/2026
(TAND
Khu
vực
2):
Tòa
tuyên
5
bị
cáo
phải
chịu
án
phí
và
xử
lý
vật
chứng.
THADS
tỉnh
chỉ
chuyển
giao
phần
việc
của
3
bị
cáo
cư
trú
trên
địa
bàn
cho
Phòng
THADS
khu
vực
2
thi
hành.
VKSND
khu
vực
2
không
thể
biết
2
bị
cáo
còn
lại
đã
được
ra
QĐTHA
chưa
và
ai
chịu
trách
nhiệm
nếu
bị
bỏ
sót.
4.
Kiến
nghị,
đề
xuất
-
Thứ
nhất,
bổ
sung
quy
định
bắt
buộc
Thi
hành
án
dân
sự
cấp
tỉnh
khi
ban
hành
QĐTHA
đối
với
những
vụ
việc
có
nhiều
người
phải
thi
hành
án
được
tổ
chức
THA
trên
nhiều
địa
bàn
khu
vực
khác
nhau
phải
lập
danh
mục
tổng
hợp
toàn
bộ
QĐTHA
đã
ban
hành
và
gửi
cho
VKSND
khu
vực
đã
THQCT
kiểm
sát
xét
xử
vụ
án
biết
và
kiểm
sát.
-
Thứ
hai,
chuyển
đổi
số
&
Kết
nối
dữ
liệu:
Xây
dựng
hệ
thống
cơ
sở
dữ
liệu
điện
tử
dùng
chung
giữa
THADS
và
VKSND
để
Kiểm
sát
viên
tra
cứu
tiến
độ
ban
hành
QĐTHA
theo
từng
bản
án.
-
Thứ
ba,
Viện
KSND
tối
cao
cần
có
hướng
dẫn
nghiệp
vụ
cụ
thể
về
thẩm
quyền,
phân
công
trách
nhiệm
kiểm
sát
đối
với
các
vụ
việc
phân
chia
về
nhiều
địa
bàn
hoặc
ủy
thác
liên
tỉnh.
Phạm
Anh
Tuấn,
Nguyễn
Hồng
Tư,
VKS
Khu
vực
2