Trong
quá
trình
tổ
chức
thi
hành
án
dân
sự,
việc
thu
phí
thi
hành
án
đối
với
các
bản
án,
quyết
định
công
nhận
hòa
giải
của
Tòa
án
thực
tế
có
các
cách
hiểu
và
áp
dụng
khác
nhau.
Từ
thực
tiễn
một
vụ
việc
cụ
thể,
bài
viết
trao
đổi
các
quy
định
pháp
luật
có
liên
quan,
phân
tích
những
quan
điểm
khác
nhau
và
nêu
ý
kiến
nhằm
góp
phần
thống
nhất
nhận
thức,
nâng
cao
hiệu
quả
áp
dụng
pháp
luật
trong
công
tác
thi
hành
án
dân
sự.
Tình
huống
pháp
lý:
Hiện
nay
Phòng
THADS
khu
vực
8
tỉnh
T
đang
tổ
chức
thi
hành
đối
với:
Bản
án
số
551/2020/HSPT
ngày
19/11/2020
của
Tòa
án
cấp
phúc
thẩm;
Bản
án
số
24/2020/HSST
ngày
22/7/2020
của
Tòa
án
cấp
sơ
thẩm
và
Quyết
định
công
nhận
kết
quả
hòa
giải
thành
số
173/2022/QĐCNHGT-DS
ngày
26/9/2022
của
Tòa
án
nhân
dân
huyện
B,
tỉnh
H
(nay
là
TAND
khu
vực
5
tỉnh
T).
Căn
cứ
vào
các
bản
án,
quyết
định
nêu
trên,
ngày
11/10/2023
Chi
cục
thi
hành
án
dân
sự
huyện
M,
tỉnh
H
(nay
là
Phòng
THADS
khu
vực
8
tỉnh
T)
đã
ban
hành
các
Quyết
định
thi
hành
án
số
06,
07,
08,
09,
10,
11,
12,
13/QĐ-CCTHADS
đối
với
người
phải
THA
là
Mông
Thị
TH
-
địa
chỉ:
thôn
Tân
T2,
xã
LH,
tỉnh
T
và
phải
thi
hành
cho
09
trường
hợp
người
được
THA
với
tổng
số
tiền
là:
1.953.150.000đ
(Một
tỷ
chín
trăm
năm
mươi
ba
triệu
một
trăm
năm
mươi
nghìn
đồng).
Qua
quá
trình
xác
minh,
giải
quyết
việc
thi
hành
án
vào
ngày
29/6/2026
Chấp
hành
viên
của
Phòng
Thi
hành
án
dân
sự
khu
vực
8
tỉnh
T
được
phân
công
giải
quyết
đối
với
vụ
việc
đã
thu
được
tổng
số
tiền
là
800.000.000đ
(tám
trăm
triệu
đồng)
từ
người
phải
THA
là
Mông
Thị
TH
để
bồi
thường
công
dân
cho
09
trường
hợp
người
được
THA.
Tuy
nhiên
do
thời
điểm
thu
được
tiền
(là
ngày
29/6/2026)
trước
ngày
Luật
thi
hành
án
dân
sự
2025
và
Thông
tư
số
72/2026/TT-BTC
ngày
23/6/2026
của
Bộ
Tài
chính
Quy
định
mức
thu,
miễn,
giảm,
chế
độ
thu,
nộp
phí
thi
hành
án
dân
sự
chưa
có
hiệu
lực
pháp
luật,
còn
thời
điểm
chi
tiền
lại
vào
thời
điểm
Luật
thi
hành
án
dân
sự
2025
và
Thông
tư
số
72/2026/TT-BTC
được
áp
dụng
thi
hành
kể
từ
ngày
01/7/2026,
nên
việc
áp
dụng
các
quy
định
của
pháp
luật
còn
chưa
có
sự
thống
nhất
và
có
hai
quan
điểm
trái
chiều
nhau
là
có
hay
không
có
việc
ban
hành
Quyết
định
thu
phí
đối
với
các
trường
hợp
trên.
Đối
với
vụ
việc
trên,
hiện
có
hai
quan
điểm:
1.
Quan
điểm
thứ
nhất:
Cho
rằng
phải
ban
hành
Quyết
định
thu
phí
và
thu
phí
thi
hành
án
khi
người
được
THA
nhận
tiền
tại
thời
điểm
được
nhận
tiền,
áp
dụng
theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
53
Luật
THADS
năm
2025
“Đương
sự
yêu
cầu
thi
hành
án
phải
nộp
phí
thi
hành
án
theo
quy
định
của
pháp
luật…”
và
Điều
2
Thông
tư
số
72/2026/TT-BTC
ngày
23/6/2026
của
Bộ
Tài
chính
“Đương
sự
(gồm
người
được
thi
hành
án
và
người
phải
thi
hành
án)
yêu
cầu
thi
hành
án
phải
nộp
phí
thi
hành
án
dân
sự,
trừ
trường
hợp
quy
định
tại
khoản
2
Điều
này…”
vì
người
có
đơn
yêu
cầu
THA
thì
phải
nộp
phí
THA
tại
thời
điểm
nhận
tiền.
Một
phần
cũng
do
Thông
tư
số
72/2026/TT-BTC
không
quy
định
về
điều
khoản
chuyển
tiếp
nên
tất
cả
các
quy
định
nêu
trên
đều
có
hiệu
lực
pháp
luật
và
áp
dụng
kể
từ
ngày
01/7/2026.
2.
Quan
điểm
thứ
hai:
Cho
rằng
không
cần
thiết
phải
ban
hành
Quyết
định
thu
phí
và
không
thu
phí
thi
hành
án
vì
thời
điểm
thu
được
tiền
THA
là
trước
ngày
01/7/2026
được
coi
là
kết
quả
đạt
được
và
cần
ghi
nhận
thực
hiện
theo
quy
định
của
Luật
thi
hành
án
dân
sự
năm
2008
(được
sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2014)
và
Thông
tư
số
216/2016/TT-BTC
ngày
10/11/2016
của
Bộ
tài
chính
Quy
định
mức
thu,
chế
độ
thu,
nộp,
quản
lý
và
sử
dụng
phí
thi
hành
án
dân
sự,
đảm
bảo
nguyên
tắc
có
lợi
cho
đương
sự.
Do
vậy
cần
áp
dụng
theo
khoản
4
Điều
116
Luật
THADS
năm
2025
“Cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
đã
thực
hiện
trình
tự,
thủ
tục
theo
quy
định
của
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
số
26/2008/QH12
trước
ngày
Luật
này
có
hiệu
lực
thi
hành
thì
không
phải
thực
hiện
lại
trình
tự,
thủ
tục
theo
quy
định
của
Luật
này”
quy
định
điều
khoản
chuyển
tiếp
để
thực
hiện.
Tác
giả
đồng
tình
với
quan
điểm
thứ
nhất:
Căn
cứ
vào
khoản
1
Điều
53
Luật
Thi
hành
án
dân
sự
năm
2025
và
Điều
2
Thông
tư
số
72/2026/TT-BTC
ngày
23/6/2026
của
Bộ
Tài
chính
để
áp
dụng
việc
thu
phí
thi
hành
án
dân
sự
và
thực
hiện
việc
thu
phí
thi
hành
án
đối
với
09
trường
hợp
người
được
THA
nêu
trên.
Bởi
lẽ:
Thứ
nhất:
Về
Bản
án
số
551/2020/HSPT
ngày
19/11/2020
của
Tòa
án
cấp
phúc
thẩm
và
Bản
án
số
24/2020/HSST
ngày
22/7/2020
của
Tòa
án
cấp
sơ
thẩm
không
tuyên
cụ
thể
khoản
tiền
án
phí
giá
ngạch
nhưng
nội
dung
Bản
án
có
phần
dân
sự,
nếu
bị
cáo
không
được
miễn
thì
vẫn
sẽ
phải
nộp
phần
án
phí
hình
sự
và
dân
sự
có
giá
ngạch,
vụ
việc
này
không
thuộc
khoản
6
Điều
6
Thông
tư
số
216/2016/TT-BTC
“Bản
án,
quyết
định
của
Tòa
án
xác
định
không
có
giá
ngạch
và
không
thu
án
phí
có
giá
ngạch
khi
xét
xử”,
do
vậy
vẫn
phải
nộp
phí
THA
theo
quy
định.
Thứ
hai:
Về
Quyết
định
công
nhận
kết
quả
hòa
giải
thành
số
173/2022/QĐCNHGT-DS
ngày
26/9/2022
của
Tòa
án
nhân
dân
huyện
B
tỉnh
H
(nay
là
TAND
khu
vực
5
tỉnh
T).
Trường
hợp
này
Tòa
án
không
thụ
lý
mà
do
các
hòa
giải
viên
giải
quyết,
Tòa
án
chỉ
công
nhận,
xét
thấy
không
nằm
trong
mục
được
miễn
nộp
phí
THA
vì
đây
là
quyết
định
căn
cứ
theo
Luật
hòa
giải
nên
không
thuộc
trường
hợp
của
Tòa
án
xác
định
là
có
án
phí
hay
không
có
án
phí
nên
vẫn
tiến
hành
thu
phí
THA
theo
quy
định.
Thứ
ba:
Việc
áp
dụng
quy
định
trên
là
phù
hợp
với
quy
định
pháp
luật
hiện
hành,
theo
quy
định
tại
Thông
tư
số
72/2026/TT-BTC
để
thực
hiện
là
bảo
đảm
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
các
đương
sự
tại
thời
điểm
người
được
thi
hành
án
nhận
tiền,
đồng
thời
tránh
thất
thoát
cho
ngân
sách
nhà
nước.
Thứ
tư:
Việc
áp
dụng
thu
phí
thi
hành
án
dân
sự
đối
với
09
trường
hợp
người
được
THA
nêu
trên
cần
phải
xem
xét
và
xác
định
xem
những
người
này
có
thuộc
đối
tượng
được
miễn,
giảm
phí
thi
hành
án
dân
sự
được
áp
dụng
theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
6,
Thông
tư
số
72/2026/TT-BTC
hay
không
từ
đó
ra
quyết
định
phù
hợp
với
từng
đương
sự.
Từ
thực
tiễn
nêu
trên,
việc
tiếp
tục
nghiên
cứu,
trao
đổi
và
có
hướng
dẫn
thống
nhất
trong
việc
thu
phí
thi
hành
án
dân
sự
đối
với
các
bản
án,
quyết
định
công
nhận
hòa
giải
của
Tòa
án
là
cần
thiết,
góp
phần
bảo
đảm
áp
dụng
pháp
luật
đúng
quy
định,
nhằm
nâng
cao
hiệu
quả
công
tác
thi
hành
án
dân
sự
và
công
tác
kiểm
sát
thi
hành
án
dân
sự
trong
thời
gian
tới.
Rất
mong
nhận
được
sự
trao
đổi
của
đồng
nghiệp
để
đi
đến
một
nhận
thức
đúng
trong
việc
áp
dụng
pháp
luật./.
Hoàng
Văn
Tự