Gia
đình
là
tế
bào
của
xã
hội,
là
nền
tảng
hình
thành
nhân
cách
con
người
và
giữ
gìn
trật
tự
an
toàn
xã
hội.
Hiến
pháp
năm
2013
cùng
Luật
Hôn
nhân
và
Gia
đình
năm
2014
xác
định
nguyên
tắc
nhất
quán:
Bảo
đảm
chế
độ
hôn
nhân
tự
nguyện,
tiến
bộ,
một
vợ
một
chồng,
vợ
chồng
bình
đẳng
và
có
trách
nhiệm
xây
dựng
gia
đình
ấm
no,
hạnh
phúc.
Tuy
nhiên,
qua
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
việc
dân
sự,
hôn
nhân
và
gia
đình
(HNGĐ)
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
khu
vực
4,
tỉnh
Tuyên
Quang,
thấy
rằng
số
lượng
các
vụ
án
xin
ly
hôn
đang
tăng
nhanh
qua
từng
năm.
Điểm
đáng
chú
ý
trong
bức
tranh
hiện
nay
là
tỷ
lệ
các
cặp
vợ
chồng
đưa
nhau
ra
tòa
vì
lý
do
“xa
quê
mưu
sinh”
chiếm
tỷ
lệ
rất
cao.
Số
vụ
hòa
giải
đoàn
tụ
thành
công
rất
thấp;
phần
lớn
các
vụ
án
khi
Tòa
án
thụ
lý
đều
đã
ở
trong
tình
trạng
mâu
thuẫn
sâu
sắc,
vợ
chồng
đã
sống
ly
thân
trên
thực
tế
một
thời
gian
dài,
mục
đích
của
hôn
nhân
hoàn
toàn
không
đạt
được.
Trong
tổng
số
các
vụ
án
xin
ly
hôn
được
thụ
lý
hàng
năm,
các
vụ
việc
có
một
bên
đương
sự
(vợ
hoặc
chồng)
hoặc
cả
hai
bên
đi
làm
công
ty
trên
địa
bàn
các
tỉnh
Bắc
Ninh,
Bắc
Giang,
Hưng
Yên,
Thái
Nguyên
chiếm
từ
65
%
đến
70%.
Đa
số
các
vụ
án
thuộc
nhóm
này
rơi
vào
độ
tuổi
từ
20
đến
35
tuổi
-
độ
tuổi
sung
sức
nhất
về
lao
động
và
là
giai
đoạn
then
chốt
để
củng
cố
nền
tảng
gia
đình.
Nhiều
cặp
vợ
chồng
mới
kết
hôn,
con
cái
còn
nhỏ,
nhưng
đã
xin
ly
hôn.
Tình
trạng
diễn
ra
ở
các
xã
vùng
sâu,
vùng
xa,
vùng
đồng
bào
dân
tộc
thiểu
số
như:
xã
Phú
Linh,
xã
Bạch
Ngọc,
xã
Thượng
Sơn,
xã
Thuận
Hòa...
Phần
lớn
các
đương
sự
trong
các
vụ
án
này
sinh
sống
ở
các
xã
vùng
cao,
có
trình
độ
học
vấn
không
đồng
đều,
hiểu
biết
pháp
luật
còn
nhiều
hạn
chế:
nhiều
cặp
đôi
kết
hôn
khi
vừa
đủ
tuổi,
chưa
có
sự
chuẩn
bị
về
kỹ
năng
xây
dựng
gia
đình.
Khi
phát
sinh
mâu
thuẫn
do
xa
cách,
họ
nhanh
chóng
nộp
đơn
ly
hôn
mà
không
nỗ
lực
tìm
kiếm
giải
pháp
hàn
gắn.
Khái
niệm
nghĩa
vụ
chung
thủy,
nghĩa
vụ
cùng
nhau
chia
sẻ
công
việc
gia
đình,
chăm
sóc
con
cái
quy
định
tại
các
Điều
17,
18,
19
Luật
HNGĐ
năm
2014
được
hiểu
một
cách
mơ
hồ.
Nhiều
người
cho
rằng
chỉ
cần
gửi
tiền
về
quê
là
đã
hoàn
thành
100%
trách
nhiệm
của
người
làm
cha,
làm
mẹ,
làm
vợ,
làm
chồng.
Quá
trình
kiểm
sát
việc
tuân
theo
pháp
luật
tố
tụng
dân
sự
của
Tòa
án
trong
các
vụ
án
HNGĐ
loại
này
gặp
phải
nhiều
khó
khăn.
Theo
Bộ
luật
Tố
tụng
Dân
sự
(BLTTDS)
năm
2015,
việc
giải
quyết
vụ
án
phải
tuân
thủ
chặt
chẽ
thời
hạn
tố
tụng
và
quyền
tiếp
cận
chứng
cứ
của
đương
sự.
Tuy
nhiên,
đương
sự
đi
làm
xa
thường
xuyên
thay
đổi
nhà
trọ,
chuyển
đổi
công
ty
nhưng
không
làm
thủ
tục
đăng
ký
tạm
trú,
tạm
vắng
theo
Luật
Cư
trú.
Tòa
án
gặp
rất
nhiều
khó
khăn
khi
tống
đạt
thông
báo
thụ
lý,
giấy
triệu
tập,
buộc
phải
thực
hiện
thủ
tục
niêm
yết
công
khai
hoặc
xác
minh
qua
chính
quyền
địa
phương,
gây
kéo
dài
thời
hạn
giải
quyết.
Nhiều
đương
sự
gửi
đơn
xin
xét
xử
vắng
mặt
vì
không
thể
nghỉ
việc
để
về
quê
tham
gia
phiên
tòa,
làm
mất
đi
cơ
hội
hòa
giải
trực
tiếp,
đây
là
thủ
tục
mang
ý
nghĩa
nhân
văn
cốt
lõi
của
BLTTDS
2015
(Điều
205).
Khó
khăn
trong
việc
xác
định
người
trực
tiếp
nuôi
con
và
việc
cấp
dưỡng
nuôi
con
chung:
Khoản
2
Điều
81
Luật
HNGĐ
năm
2014
quy
định:
“Vợ,
chồng
thỏa
thuận
về
người
trực
tiếp
nuôi
con,
nghĩa
vụ,
quyền
của
mỗi
bên
sau
khi
ly
hôn
đối
với
con;
trường
hợp
không
thỏa
thuận
được
thì
Tòa
án
quyết
định
giao
con
cho
một
bên
trực
tiếp
nuôi
căn
cứ
vào
quyền
lợi
về
mọi
mặt
của
con”.
Trong
các
vụ
án
có
yếu
tố
đi
làm
ăn
xa,
việc
xác
định
"quyền
lợi
của
con"
là
một
vấn
đề
nan
giải.
Nguyên
đơn
hoặc
bị
đơn,
người
yêu
cầu
đi
làm
công
ty
có
thu
nhập
hàng
tháng
ổn
định
từ
lương
công
ty
(có
bảng
lương
chứng
minh
tài
chính
tốt),
nhưng
không
có
thời
gian
trực
tiếp
chăm
sóc
con
vì
phải
tăng
ca,
ở
nhà
trọ
chật
chội,
môi
trường
khu
công
nghiệp
không
bảo
đảm
cho
việc
học
tập
lâu
dài
của
con
trẻ.
Nguyên
đơn,
bị
đơn,
người
yêu
cầu
ở
lại
địa
phương
có
thời
gian
chăm
sóc
con,
môi
trường
sống
quen
thuộc,
có
sự
hỗ
trợ
của
họ
hàng,
nhưng
điều
kiện
kinh
tế,
thu
nhập
không
ổn
định.
Kiểm
sát
viên
khi
tham
gia
phiên
tòa
phải
cân
nhắc
kỹ
lưỡng
giữa
điều
kiện
kinh
tế
và
điều
kiện
tình
cảm,
thời
gian
chăm
sóc
để
đưa
ra
quan
điểm
chuẩn
xác,
bảo
đảm
tối
đa
lợi
ích
phát
triển
thể
chất
và
tinh
thần
của
trẻ
chưa
thành
niên.
Bên
cạnh
đó,
việc
thực
hiện
nghĩa
vụ
cấp
dưỡng
sau
ly
hôn
(Điều
110,
116
Luật
HNGĐ
2014)
thường
xuyên
bị
trốn
tránh.
Khi
bản
án
có
hiệu
lực,
người
phải
thi
hành
nghĩa
vụ
cấp
dưỡng
lại
tiếp
tục
chuyển
nơi
làm
việc,
gây
khó
khăn
lớn
cho
cơ
quan
Thi
hành
án
dân
sự
trong
việc
xác
minh
điều
kiện
thi
hành
án
và
khấu
trừ
thu
nhập.
Để
từng
bước
ngăn
chặn
tình
trạng
ly
hôn
do
nguyên
nhân
lao
động
xa
nhà,
cần
triển
khai
đồng
bộ
các
giải
pháp
mang
tính
pháp
lý
và
kinh
tế
-
xã
hội:
Nâng
cao
chất
lượng
kiểm
sát
và
kiên
trì
hòa
giải:
Kiểm
sát
viên
cần
nghiên
cứu
kỹ
hồ
sơ,
phân
tích
rõ
bản
chất
mâu
thuẫn
để
định
hướng
hòa
giải
nếu
có
khả
năng
đoàn
tụ.
Khi
đưa
ra
quan
điểm
giải
quyết
tranh
chấp
quyền
nuôi
con,
phải
lấy
việc
bảo
đảm
môi
trường
học
tập
và
an
toàn
của
trẻ
làm
tiêu
chí
ưu
tiên
hàng
đầu,
đồng
thời
đề
xuất
mức
cấp
dưỡng
sát
với
thu
nhập
thực
tế.
Chủ
động
ban
hành
kiến
nghị
phòng
ngừa:
Căn
cứ
Điều
5
Luật
Tổ
chức
VKSND
năm
2014,
VKSND
hai
cấp
tỉnh
Tuyên
Quang
cần
thường
xuyên
tổng
hợp
số
liệu,
phân
tích
nguyên
nhân
và
ban
hành
Kiến
nghị
phòng
ngừa
vi
phạm
pháp
luật
gửi
UBND
cùng
cấp,
đề
xuất
các
chính
sách
giải
quyết
việc
làm
tại
chỗ
và
hỗ
trợ
vay
vốn
sản
xuất
cho
thanh
niên.
Chính
quyền
các
cấp
cần
tăng
cường
thu
hút
đầu
tư
vào
các
cụm
công
nghiệp
trên
địa
bàn
tỉnh,
phát
triển
nông
nghiệp
công
nghệ
cao
và
kinh
tế
rừng
để
người
lao
động
có
thể
làm
giàu
ngay
trên
mảnh
đất
quê
hương.
Hội
Phụ
nữ,
Đoàn
Thanh
niên
và
các
Tổ
hòa
giải
thôn
bản
cần
chủ
động
nắm
bắt
tâm
tư
các
gia
đình
có
người
đi
làm
ăn
xa;
đổi
mới
hình
thức
tuyên
truyền
Luật
HNGĐ,
trang
bị
cho
các
cặp
vợ
chồng
trẻ
kỹ
năng
ứng
xử
và
giữ
gìn
ngọn
lửa
gia
đình
trong
hoàn
cảnh
xa
cách.
Mưu
sinh
để
xây
dựng
cuộc
sống
ấm
no
là
quyền
lợi
chính
đáng
của
mỗi
người
dân
vùng
cao
Tuyên
Quang,
nhưng
phát
triển
kinh
tế
không
thể
đánh
đổi
bằng
sự
rạn
nứt
của
tế
bào
xã
hội.
Pháp
luật
có
thể
định
khung
quyền
và
nghĩa
vụ,
tòa
án
có
thể
phân
định
đúng
sai
bằng
một
bản
án,
nhưng
không
một
phán
quyết
nào
có
thể
hàn
gắn
trọn
vẹn
vết
thương
của
những
đứa
trẻ
thiếu
vắng
tình
thân.
Để
những
mái
ấm
nơi
rẻo
cao
không
bị
khoảng
cách
địa
lý
chia
lìa,
giải
pháp
không
chỉ
nằm
ở
những
điều
luật
định,
mà
khởi
nguồn
từ
ý
thức
trách
nhiệm
của
mỗi
cá
nhân
và
sự
đồng
hành
kịp
thời
của
các
chính
sách
an
sinh
việc
làm
tại
địa
phương.
Tác
giả:
Đỗ
Thị
Phương
Thảo