Việc
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
theo
yêu
cầu
của
bị
hại
được
quy
định
tại
Điều
155
Bộ
luật
Tố
tụng
Hình
sự
năm
2015
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2021)
quy
định
việc
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
theo
yêu
cầu
của
bị
hại,
cho
phép
người
bị
hại,
người
đại
diện
của
bị
hại
có
quyền
quyết
định
việc
có
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
hay
không
thông
qua
yêu
cầu
khởi
tố.
Đồng
thời
nếu
tại
các
giai
đoạn
tố
tụng
việc
khởi
tố,
điều
tra,
truy
tố
đã
diễn
ra
và
trước
khi
xét
xử
hoặc
tại
phiên
toà,
bị
hại
thấy
không
muốn
xử
lý
người
phạm
tội
nữa
thì
pháp
luật
cho
phép
họ
được
quyền
rút
yêu
cầu
này
và
vụ
án
phải
được
đình
chỉ. Nhưng
thực
tiễn
khi
tiến
hành
khởi
tố,
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
vụ
án
theo
yêu
cầu
của
nhiều
bị
hại
gặp
phải
những
vướng
mắc
trong
áp
dụng
căn
cứ
pháp
luật
tố
tụng;
ví
dụ
như
vụ
án
Cố
ý
gây
thương
tích
hoặc
gây
tổn
hại
cho
sức
khoẻ
của
người
khác
quy
định
tại
Điều
134
Bộ
luật
Hình
sự
2015:
Đỗ
Văn
T
và
Nguyễn
Ngọc
H
đến
quán
ăn
của
vợ
chồng
Tạ
Mạnh
N
để
ăn,
sau
khi
ăn
và
thanh
toán
tiền
hai
bên
mâu
thuẫn
về
giá
cả
dẫn
đến
cãi
chửi
nhau;
Tạ
Mạnh
N
vào
nhà
lấy
dao
đập
1
nhát
vào
bên
trái
đầu
Nguyễn
Ngọc
H
gây
thương
tích;
sau
đó
nhìn
thấy
Đỗ
Văn
T
đang
đứng
ngoài
đường,
nên
N
cầm
dao
đuổi
theo
chém
hai
nhát
trúng
vào
chân
và
tay
của
Đỗ
Văn
T
gây
thương
tích;
lúc
này
mọi
người
can
ngăn
nên
sự
việc
chấm
dứt,
T
và
H
được
đưa
đi
cấp
cứu
tại
bệnh
viện.
Sau
đó
Nguyễn
Ngọc
H
trình
báo
cơ
quan
điều
tra
và
có
đơn
yêu
cầu
khởi
tố
đối
với
Tạ
Mạnh
N.
Kết
luận
giám
định
pháp
y
về
thương
tích
đối
với
Nguyễn
Ngọc
H
tổn
hại
2%
sức
khoẻ;
đối
với
Đỗ
Văn
T
tổn
hại
19%
sức
khoẻ.
Trong
vụ
án
này
Cơ
quan
tố
tụng
cấp
sơ
thẩm
đã
tiếp
nhận
đơn
yêu
cầu
khởi
tố
của
bị
hại
và
tiến
hành
khởi
tố,
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
sơ
thẩm
đối
với
N
theo
quy
định
tại
điểm
c,
đ,
khoản
2,
Điều
134
BLHS.
Tại
phiên
toà
xét
xử
phúc
thẩm
bị
hại
Nguyễn
Ngọc
H
người
đã
yêu
cầu
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
đã
có
đơn
rút
yêu
cầu
khởi
tố
đối
với
bị
cáo
N.
Như
vậy
việc
bị
hại
H
có
đơn
rút
yêu
cầu
khởi
tố
tại
phiên
toà
xét
xử
phúc
thẩm
đặt
ra
vấn
đề
vướng
mắc
có
nhiều
quan
điểm,
nhận
thức
khác
nhau
giữa
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
và
người
tiến
hành
tố
tụng,
cụ
thể
đó
là:
Hội
đồng
xét
xử
chấp
nhận
hay
không
chấp
nhận
việc
rút
yêu
cầu
khởi
tố.
Quan
điểm
thứ
nhất:
không
chấp
nhận
việc
bị
hại
H
rút
yêu
cầu
khởi
tố.
Quan
điểm
này
cho
rằng
tại
khoản
1
Điều
155
BLTTHS
năm
2015
quy
định:
“Chỉ
được
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
về
tội
phạm
quy
định
tại
khoản
1
các
Điều
134,
135,
136,
138,
139,
141,
143,
155,
156
và
226
của
Bộ
luật
hình
sự
khi
có
yêu
cầu
của
bị
hại
hoặc
người
đại
diện
của
bị
hại
là
người
dưới
18
tuổi,
người
có
nhược
điểm
về
tâm
thần
hoặc
thể
chất
hoặc
đã
chết”
trong
khi
vụ
án
này
khởi
tố,
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
sơ
thẩm
theo
điểm
c,
đ,
khoản
2,
Điều
134
BLHS
như
vậy
không
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
khoản
1,
Điều
155
BLTTHS
nên
không
chấp
nhận
việc
rút
yêu
cầu
khởi
tố
Quan
điểm
này
cho
rằng
Cơ
quan
tố
tụng
đã
tiến
hành
khởi
tố,
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
sơ
thẩm
đối
với
N
theo
quy
định
tại
điểm
c,
đ,
khoản
2,
Điều
134
BLHS
là
đúng
quy
định
của
pháp
luật
bởi
trong
vụ
án
này
Tạ
Mạnh
N
dùng
hung
khí
gây
thương
tích
cho
Nguyễn
Ngọc
H
tổn
hại
2%
sức
khoẻ,
sau
đó
tiếp
tục
gây
thương
tích
cho
Đỗ
Văn
T
tổn
hại
19%
sức
khoẻ,
như
vậy
thoả
mãn
yếu
tố
cấu
thành
độc
lập
tội
cố
ý
gây
thương
tích
hoặc
gây
tổn
hại
cho
sức
khoẻ
của
người
khác
quy
định
tại
điểm
a,
khoản
1,
Điều
134
BLHS;
đồng
thời
H
đã
có
đơn
yêu
cầu
khởi
tố
được
cơ
quan
điều
tra
tiếp
nhận,
giải
quyết
do
đó
trong
vụ
án
này
việc
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
theo
điểm
c,
đ,
khoản
2,
Điều
134
là
có
căn
cứ,
đúng
quy
định
của
pháp
luật,
không
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
khoản
1,
Điều
155
BLTTHS.
Tuy
nhiên
quan
điểm
này
đặt
ra
một
vấn
đề
bất
cập,
mâu
thuẫn
trong
giải
quyết,
gây
bất
lợi,
làm
mất
quyền
của
bị
hại,
bởi
trong
vụ
án
này
cơ
quan
tố
tụng
cấp
sơ
thẩm
một
mặt
cho
rằng
H
bị
N
dùng
hung
khí
tấn
công
gây
tổn
hại
2%
sức
khoẻ,
đủ
yếu
tố
cấu
thành
độc
lập
tội
cố
ý
gây
thương
tích
hoặc
gây
tổn
hại
cho
sức
khoẻ
của
người
khác
quy
định
tại
điểm
a,
khoản
1,
Điều
134
BLHS;
H
đã
có
đơn
yêu
cầu
khởi
tố
được
cơ
quan
điều
tra
tiếp
nhận,
giải
quyết.
Nhưng
mặt
khác
lại
không
chấp
nhận
việc
H
rút
yêu
cầu
khởi
tố
vì
cho
rằng
vụ
án
này
việc
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
theo
điểm
c,
đ,
khoản
2,
Điều
134
không
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
khoản
1,
Điều
155
BLTTHS.
Quan
điểm
thứ
hai:
Chấp
nhận
việc
bị
hại
H
rút
yêu
cầu
khởi
tố.
Theo
quan
điểm
này
thì
trong
vụ
án
trên
có
2
bị
hại
cùng
bị
Tạ
Mạnh
N
gây
thương
tích
là
H
tổn
hại
2%
và
T
tổn
hại
19%
sức
khoẻ,
H
và
T
đã
có
đơn
trình
báo,
yêu
cầu
khởi
tố
được
cơ
quan
điều
tra
tiếp
nhận,
giải
quyết.
Trong
vụ
án
này
căn
cứ
kết
luận
giám
định
pháp
y
về
thương
tích,
T
tổn
hại
19%
sức
khoẻ,
Cơ
quan
tố
tụng
đã
tiến
hành
khởi
tố,
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
sơ
thẩm
đối
với
N
theo
quy
định
tại
điểm
c,
đ,
khoản
2,
Điều
134
BLHS.
Việc
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
của
cấp
sơ
thẩm
đặt
ra
vấn
đề
vướng
mắc
như
sau:
Ý
kiến
thứ
nhất:
việc
áp
dụng
điểm
c,
khoản
2,
điều
134
BLHS
“Phạm
tội
02
lần
trở
lên”
là
chưa
phù
hợp;
bởi
hành
vi
phạm
tội
của
Tạ
Mạnh
N
đối
với
Nguyễn
Ngọc
H
và
Đỗ
Văn
T
thực
hiện
liên
tiếp,
trong
cùng
một
thời
điểm
nên
không
thoả
mãn
yếu
tố
cấu
thành
“Phạm
tội
02
lần
trở
lên”
và
chỉ
là
một
lần
phạm
tội;
do
đó
cần
sửa
bản
án
sơ
thẩm.
Ý
kiến
thứ
hai:
việc
áp
dụng
điểm
c,
khoản
2,
điều
134
BLHS
“Phạm
tội
02
lần
trở
lên”
là
thoả
mãn
yếu
tố
cấu
thành
độc
lập
tội
cố
ý
gây
thương
tích
hoặc
gây
tổn
hại
cho
sức
khoẻ
của
người
khác
quy
định
tại
điểm
a,
khoản
1,
Điều
134
BLHS;
như
vậy
việc
áp
dụng
điểm
c,
khoản
2,
điều
134
BLHS
là
có
căn
cứ.
Tuy
nhiên
như
vậy
không
có
nghĩa
là
bị
hại
H
không
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
khoản
1
Điều
155
BLTTHS:
“Chỉ
được
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
về
tội
phạm
quy
định
tại
khoản
1
các
Điều
134,
…
của
Bộ
luật
hình
sự
…”
bởi
đối
với
việc
T
gây
thương
tích
cho
H
nếu
tách
ra
một
vụ
án
độc
lập
thì
đã
đủ
yếu
tố
cấu
thành
tội
cố
ý
gây
thương
tích
hoặc
gây
tổn
hại
cho
sức
khoẻ
của
người
khác
quy
định
tại
điểm
a,
khoản
1,
Điều
134
BLHS;
mặt
khác
việc
rút
yêu
cầu
khởi
tố
của
H
là
hoàn
toàn
tự
nguyện,
không
bị
ép
buộc.
Do
đó
H
hoàn
toàn
đủ
điều
kiện
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
khoản
1
Điều
155
BLTTHS
khởi
tố
theo
yêu
cầu
bị
hại,
như
vậy
H
chính
là
chủ
thể
có
quyền
rút
yêu
cầu
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
và
là
người
đã
yêu
cầu
khởi
tố;
người
đã
yêu
cầu
khởi
tố
là
người
bị
hại
có
quyền
rút
yêu
cầu;
Tại
giai
phiên
toà
xét
xử
phúc
thẩm
H
đã
có
đơn
rút
yêu
cầu
khởi
tố,
đây
là
quyền
được
pháp
luật
cho
phép
được
quy
định
tại
Khoản
2
Điều
155 Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
năm
2015: “Trường
hợp
người
đã
yêu
cầu
khởi
tố
rút
yêu
cầu
thì
vụ
án
phải
được
đình
chỉ,
trừ
trường
hợp
có
căn
cứ
xác
định
người
đã
yêu
cầu
rút
yêu
cầu
khởi
tố
trái
với
ý
muốn
của
họ
do
bị
ép
buộc,
cưỡng
bức
thì
tuy
người
đã
yêu
cầu
khởi
tố
rút
yêu
cầu, Cơ
quan
điều
tra,
Viện
kiểm
sát,
Tòa
án
vẫn
tiếp
tục
tiến
hành
tố
tụng
đối
với
vụ
án”.
Do
đó
cần
chấp
nhận
việc
rút
yêu
cầu
khởi
tố
và
sửa
bản
án
sơ
thẩm.
Tuy
nhiên
quan
điểm
này
gặp
phải
vấn
đề
vướng
mắc
trong
việc
xác
định
căn
cứ
để
áp
dụng.
Theo
nội
dung
công
văn
số
254/TANDTC-PC
ngày
26/11/2018
của
Toà
án
Tối
cao,
tại
giai
đoạn
xét
xử
phúc
thẩm:
Trường
hợp
có
kháng
cáo,
kháng
nghị
mà
tại
giai
đoạn
xét
xử
phúc
thẩm
người
đã
yêu
cầu
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
rút
yêu
cầu
thì
Hội
đồng
xét
xử
hoặc
Thẩm
phán
chủ
tọa
phiên
tòa
xét
xử
theo
thủ
tục
rút
gọn
căn
cứ
vào khoản
2
Điều
155
và
Điều
359
của
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự hủy
bản
án
sơ
thẩm
và
đình
chỉ
vụ
án.
Trong
bản
án
phúc
thẩm,
Tòa
án
phải
nhận
định
rõ
lý
do
hủy
bản
án
sơ
thẩm
và
đình
chỉ
vụ
án
là
do
người
đã
yêu
cầu
khởi
tố
vụ
án
hình
sự
rút
yêu
cầu,
không
phải
do
lỗi
của
Tòa
án
cấp
sơ
thẩm;
đây
là
hướng
dẫn
thuộc
trường
hợp
vụ
án
khởi
tố
theo
yêu
cầu
bị
hại
đơn
thuần,
có
bị
hại
thuộc
khoản
1,
Điều
155
BLTTHS
rút
yêu
cầu
khởi
tố.
Còn
trong
trường
hợp
ví
dụ
vụ
án
nêu
trên,
có
một
bị
hại
có
mức
tổn
hại
sức
khoẻ
thuộc
khoản
1,
một
bị
hại
có
mức
tổn
hại
sức
khoẻ
thuộc
khoản
2
và
vụ
án
được
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
theo
khoản
2,
Điều
134
BLHS;
do
vậy
về
nguyên
tắc
Hội
đồng
xét
xử
không
thể
áp
dụng
khoản
2
Điều
155
và
Điều
359
BLTTHS
để
tuyên hủy
bản
án
sơ
thẩm
và
đình
chỉ
vụ
án
được.
Trong
trường
hợp
vụ
án
nêu
trên,
theo
quan
điểm
của
tác
giả,
Hội
đồng
xét
xử
vận
dụng
khoản
2,
Điều
155
BLTTHS
chấp
nhận
đơn
rút
yêu
cầu
khởi
tố
của
bị
hại
Nguyễn
Ngọc
H
với
hành
vi
cố
ý
gây
thương
tích
của
bị
cáo
Tạ
Mạnh
N
và
nêu
rõ
trong
phần
nhận
định
của
Toà
án;
căn
cứ
điểm
b,
khoản
1,
Điều
355;
điểm
c,
khoản
1,
Điều
357
BLTTHS
để
sửa
bản
án
sơ
thẩm,
theo
hướng
huỷ
bỏ
tình
tiết
định
khung
tăng
nặng
quy
định
tại
điểm
c,
khoản
2,
Điều
134
“Phạm
tội
02
lần
trở
lên”.
Trên
đây
là
một
số
quan
điểm
về
việc
áp
dụng
căn
cứ
pháp
luật
trong
giai
đoạn
xét
xử
phúc
thẩm
vụ
án
cố
ý
gây
thương
tích
có
một
trong
hai
bị
hại
rút
yêu
cầu
khởi
tố,
rất
mong
được
bạn
đọc
chia
sẻ
và
thảo
luận,
phản
ánh
trong
quá
trình
góp
ý
xây
dựng
pháp
luật,
đề
nghị
Liên
ngành
Tư
pháp
Trung
ương
sớm
có
Hướng
dẫn
cụ
thể,
phù
hợp
với
thực
tiễn
nhằm
tháo
gỡ
những
vướng
mắc,
bất
cập
để
việc
nhận
thức
và
áp
dụng
pháp
luật
được
thực
hiện
đảm
bảo
đúng
quy
định
của
pháp
luật.
Trần
Đức
Hiệp
-
P7