Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 18

   GIẢI QUYẾT YÊU CẦU LY HÔN KHI BỊ ĐƠN CÓ DẤU HIỆU VỀ NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ


Thứ sáu - 23/10/2026 14:13
 
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình, việc giải quyết yêu cầu ly hôn trong trường hợp bị đơn có dấu hiệu về tình trạng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa có quyết định của Tòa án xác định tình trạng năng lực hành vi dân sự còn có cách hiểu khác nhau. Có quan điểm cho rằng Tòa án phải xác định trước tình trạng năng lực hành vi dân sự của bị đơn và chỉ giải quyết vụ án ly hôn sau khi đã có quyết định của Tòa án về tình trạng năng lực hành vi dân sự; ngược lại, có quan điểm cho rằng vẫn phải giải quyết yêu cầu ly hôn theo thủ tục chung. Tác giả xin đưa ra một vụ án cụ thể để trao đổi như sau:

 
1. Nội dung vụ án
 
Bà L và ông S đăng ký kết hôn ngày 14/5/1995 tại UBND xã Q trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Từ năm 2013, bà L và ông S đã sống ly thân cho đến nay. Bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác minh và thu thập tài liệu thể hiện ông S từng bị tai biến do chấn thương sọ não, có tình trạng bệnh lý ảnh hưởng đến sức khỏe. Tòa án cho rằng ông S có dấu hiệu mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có quyết định của Tòa án tuyên bố ông S mất năng lực hành vi dân sự. Tòa án đã giải thích cho bà L và anh T (con chung đã thành niên của ông S và bà L) về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông S mất năng lực hành vi dân sự nhưng bà L và anh T không yêu cầu. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông S không tham gia làm việc và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.
 
2. Quan điểm về việc giải quyết vụ án
 
Quan điểm thứ nhất, cho rằng chưa đủ căn cứ để giải quyết yêu cầu ly hôn theo thủ tục thông thường bởi lẽ ông S từng bị tai biến, chấn thương sọ não và có dấu hiệu ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, trước khi giải quyết yêu cầu ly hôn, Tòa án cần xác minh, làm rõ tình trạng năng lực hành vi dân sự của ông S. Trường hợp có căn cứ xác định ông S mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải thực hiện thủ tục theo quy định của Điều 22, 23 Bộ luật Dân sự và các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để xác định tình trạng pháp lý của ông S, người đại diện, người giám hộ trước khi tiếp tục giải quyết vụ án. Nếu chưa làm rõ tình trạng năng lực hành vi dân sự mà Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án, trong khi bị đơn không trực tiếp tham gia đầy đủ quá trình tố tụng, có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
 
Quan điểm thứ hai, cho rằng Tòa án có căn cứ giải quyết yêu cầu ly hôn theo thủ tục chung. Theo quan điểm này, bà L là người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Việc ông S không có ý kiến hoặc không đồng ý với yêu cầu ly hôn không làm mất quyền yêu cầu của bà L. Tòa án phải xem xét căn cứ ly hôn trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp pháp. Mặc dù hồ sơ có tài liệu thể hiện ông S từng bị tai biến, chấn thương sọ não nhưng chưa có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố ông S mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, không thể mặc nhiên xác định ông S mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Trường hợp Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, triệu tập và giải thích quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định nhưng ông S không tham gia, không đưa ra ý kiến thì việc không tham gia tố tụng của ông S được xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự về sự có mặt, vắng mặt của đương sự. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà L.
 
3. Quan điểm của tác giả
 
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai vì có cơ sở hơn cả về phương diện pháp lý và thực tiễn giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình.
 
Quyền yêu cầu ly hôn của một bên vợ hoặc chồng không phụ thuộc vào việc bên còn lại có đồng ý hay không.
 
Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, pháp luật ghi nhận quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của mỗi bên vợ, chồng và không đặt điều kiện phải có sự đồng ý của cả hai bên.
 
Đối với trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ xác định hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
 
Do đó, việc ông S không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà L không phải là căn cứ để Tòa án không thụ lý hoặc không giải quyết yêu cầu khởi kiện. Vấn đề cần xem xét là tình trạng hôn nhân thực tế và các điều kiện luật định để giải quyết cho ly hôn.
 
Phân biệt dấu hiệu về tình trạng sức khỏe, nhận thức với tình trạng pháp lý về năng lực hành vi dân sự.
 
Điều 22 Bộ luật Dân sự quy định trường hợp một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Điều 23 Bộ luật Dân sự cũng quy định đối với người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì việc xác định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được Tòa án quyết định trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
 
Như vậy, cần phân biệt giữa tình trạng bệnh lý hoặc dấu hiệu về khả năng nhận thức trên thực tế với tình trạng pháp lý về năng lực hành vi dân sự đã được Tòa án xác định. Việc một người từng bị tai biến, chấn thương sọ não hoặc có bệnh lý ảnh hưởng đến sức khỏe là tình tiết để xem xét, xác minh nhưng chưa đủ căn cứ để mặc nhiên xác định người đó là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Đặc biệt, khoản 3 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự; đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân sự được xác định theo quyết định của Tòa án.

 
Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án. Khi chưa có quyết định của Tòa án xác định ông S là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì không thể chỉ dựa vào bệnh án hoặc nhận định chủ quan về tình trạng sức khỏe để mặc nhiên xác định ông S không có năng lực hành vi tố tụng dân sự.
 
Thứ ba, chưa có quyết định của Tòa án xác định tình trạng năng lực hành vi dân sự thì không có căn cứ thay đổi địa vị tố tụng của bị đơn.
 
Khoản 1 Điều 27 và Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là một vấn đề dân sự được Tòa án xem xét, giải quyết theo trình tự, thủ tục luật định. Theo Điều 22, Điều 23 Bộ luật Dân sự, việc xác định tình trạng này phải được Tòa án quyết định trên cơ sở căn cứ pháp luật và, đối với trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
 
Do đó, việc ông S từng bị tai biến, chấn thương sọ não và có bệnh lý ảnh hưởng đến sức khỏe chỉ là tình tiết để xem xét, xác minh, chưa đủ căn cứ để mặc nhiên xác định ông S mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trường hợp Tòa án đã bảo đảm việc tống đạt, triệu tập và giải thích quyền, nghĩa vụ tố tụng mà ông S không tham gia thì sự vắng mặt của ông S được xử lý theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
 
Việc bị đơn không tham gia tố tụng không làm mất quyền yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
 
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định cơ chế bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự, đồng thời cũng quy định việc giải quyết vụ án trong trường hợp đương sự vắng mặt. Theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, sau khi Tòa án đã triệu tập hợp lệ, việc đương sự vắng mặt được xử lý theo các trường hợp mà pháp luật quy định.
 
Vì vậy, Tòa án phải bảo đảm việc tống đạt, triệu tập, giải thích đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng cho bị đơn. Trường hợp các thủ tục này đã được thực hiện hợp lệ nhưng bị đơn vẫn không tham gia thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung là có cơ sở.
 
Trên đây là nội dung trao đổi về việc giải quyết yêu cầu ly hôn khi bị đơn có dấu hiệu về năng lực hành vi dân sự. Tác giả rất mong nhận được ý kiến góp ý, trao đổi của các đồng chí, đồng nghiệp./.
 
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Dung – Viện KSND khu vực 7

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top