Trong
thực
tiễn
giải
quyết
các
vụ
án
hôn
nhân
và
gia
đình,
việc
giải
quyết
yêu
cầu
ly
hôn
trong
trường
hợp
bị
đơn
có
dấu
hiệu
về
tình
trạng
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
nhưng
chưa
có
quyết
định
của
Tòa
án
xác
định
tình
trạng
năng
lực
hành
vi
dân
sự
còn
có
cách
hiểu
khác
nhau.
Có
quan
điểm
cho
rằng
Tòa
án
phải
xác
định
trước
tình
trạng
năng
lực
hành
vi
dân
sự
của
bị
đơn
và
chỉ
giải
quyết
vụ
án
ly
hôn
sau
khi
đã
có
quyết
định
của
Tòa
án
về
tình
trạng
năng
lực
hành
vi
dân
sự;
ngược
lại,
có
quan
điểm
cho
rằng
vẫn
phải
giải
quyết
yêu
cầu
ly
hôn
theo
thủ
tục
chung.
Tác
giả
xin
đưa
ra
một
vụ
án
cụ
thể
để
trao
đổi
như
sau:
1.
Nội
dung
vụ
án
Bà
L
và
ông
S
đăng
ký
kết
hôn
ngày
14/5/1995
tại
UBND
xã
Q
trên
cơ
sở
tự
nguyện.
Quá
trình
chung
sống,
vợ
chồng
phát
sinh
mâu
thuẫn
do
tính
cách
không
hòa
hợp,
không
có
tiếng
nói
chung
trong
cuộc
sống
gia
đình.
Từ
năm
2013,
bà
L
và
ông
S
đã
sống
ly
thân
cho
đến
nay.
Bà
L
khởi
kiện
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
cho
bà
được
ly
hôn
với
ông
S.
Quá
trình
giải
quyết
vụ
án,
Tòa
án
xác
minh
và
thu
thập
tài
liệu
thể
hiện
ông
S
từng
bị
tai
biến
do
chấn
thương
sọ
não,
có
tình
trạng
bệnh
lý
ảnh
hưởng
đến
sức
khỏe.
Tòa
án
cho
rằng
ông
S
có
dấu
hiệu
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
nhưng
chưa
có
quyết
định
của
Tòa
án
tuyên
bố
ông
S
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự.
Tòa
án
đã
giải
thích
cho
bà
L
và
anh
T
(con
chung
đã
thành
niên
của
ông
S
và
bà
L)
về
việc
yêu
cầu
Tòa
án
tuyên
bố
ông
S
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
nhưng
bà
L
và
anh
T
không
yêu
cầu.
Trong
suốt
quá
trình
giải
quyết
vụ
án,
ông
S
không
tham
gia
làm
việc
và
không
có
ý
kiến
đối
với
yêu
cầu
khởi
kiện
của
bà
L.
2.
Quan
điểm
về
việc
giải
quyết
vụ
án
Quan
điểm
thứ
nhất,
cho
rằng
chưa
đủ
căn
cứ
để
giải
quyết
yêu
cầu
ly
hôn
theo
thủ
tục
thông
thường
bởi
lẽ
ông
S
từng
bị
tai
biến,
chấn
thương
sọ
não
và
có
dấu
hiệu
ảnh
hưởng
đến
khả
năng
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi.
Do
đó,
trước
khi
giải
quyết
yêu
cầu
ly
hôn,
Tòa
án
cần
xác
minh,
làm
rõ
tình
trạng
năng
lực
hành
vi
dân
sự
của
ông
S.
Trường
hợp
có
căn
cứ
xác
định
ông
S
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
hoặc
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
thì
phải
thực
hiện
thủ
tục
theo
quy
định
của
Điều
22,
23
Bộ
luật
Dân
sự
và
các
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
để
xác
định
tình
trạng
pháp
lý
của
ông
S,
người
đại
diện,
người
giám
hộ
trước
khi
tiếp
tục
giải
quyết
vụ
án.
Nếu
chưa
làm
rõ
tình
trạng
năng
lực
hành
vi
dân
sự
mà
Tòa
án
vẫn
tiến
hành
giải
quyết
vụ
án,
trong
khi
bị
đơn
không
trực
tiếp
tham
gia
đầy
đủ
quá
trình
tố
tụng,
có
thể
ảnh
hưởng
đến
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
bị
đơn.
Quan
điểm
thứ
hai,
cho
rằng
Tòa
án
có
căn
cứ
giải
quyết
yêu
cầu
ly
hôn
theo
thủ
tục
chung.
Theo
quan
điểm
này,
bà
L
là
người
có
quyền
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
ly
hôn.
Việc
ông
S
không
có
ý
kiến
hoặc
không
đồng
ý
với
yêu
cầu
ly
hôn
không
làm
mất
quyền
yêu
cầu
của
bà
L.
Tòa
án
phải
xem
xét
căn
cứ
ly
hôn
trên
cơ
sở
các
tài
liệu,
chứng
cứ
đã
được
thu
thập
hợp
pháp.
Mặc
dù
hồ
sơ
có
tài
liệu
thể
hiện
ông
S
từng
bị
tai
biến,
chấn
thương
sọ
não
nhưng
chưa
có
quyết
định
có
hiệu
lực
pháp
luật
của
Tòa
án
tuyên
bố
ông
S
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
hoặc
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi.
Do
đó,
không
thể
mặc
nhiên
xác
định
ông
S
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
hoặc
không
có
năng
lực
hành
vi
tố
tụng
dân
sự.
Trường
hợp
Tòa
án
đã
thực
hiện
việc
tống
đạt,
triệu
tập
và
giải
thích
quyền,
nghĩa
vụ
tố
tụng
theo
quy
định
nhưng
ông
S
không
tham
gia,
không
đưa
ra
ý
kiến
thì
việc
không
tham
gia
tố
tụng
của
ông
S
được
xử
lý
theo
quy
định
của
pháp
luật
tố
tụng
dân
sự
về
sự
có
mặt,
vắng
mặt
của
đương
sự.
Tòa
án
căn
cứ
vào
các
tài
liệu,
chứng
cứ
có
trong
hồ
sơ
để
giải
quyết
yêu
cầu
khởi
kiện
của
bà
L.
3.
Quan
điểm
của
tác
giả
Tác
giả
đồng
tình
với
quan
điểm
thứ
hai
vì
có
cơ
sở
hơn
cả
về
phương
diện
pháp
lý
và
thực
tiễn
giải
quyết
các
vụ
án
hôn
nhân
và
gia
đình.
Quyền
yêu
cầu
ly
hôn
của
một
bên
vợ
hoặc
chồng
không
phụ
thuộc
vào
việc
bên
còn
lại
có
đồng
ý
hay
không.
Khoản
1
Điều
51
Luật
Hôn
nhân
và
gia
đình
quy
định:
“Vợ,
chồng
hoặc
cả
hai
người
có
quyền
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
ly
hôn”.
Như
vậy,
pháp
luật
ghi
nhận
quyền
yêu
cầu
giải
quyết
ly
hôn
của
mỗi
bên
vợ,
chồng
và
không
đặt
điều
kiện
phải
có
sự
đồng
ý
của
cả
hai
bên.
Đối
với
trường
hợp
ly
hôn
theo
yêu
cầu
của
một
bên,
khoản
1
Điều
56
Luật
Hôn
nhân
và
gia
đình
quy
định
khi
vợ
hoặc
chồng
yêu
cầu
ly
hôn
mà
hòa
giải
tại
Tòa
án
không
thành,
Tòa
án
giải
quyết
cho
ly
hôn
nếu
có
căn
cứ
xác
định
hôn
nhân
lâm
vào
tình
trạng
trầm
trọng,
đời
sống
chung
không
thể
kéo
dài,
mục
đích
hôn
nhân
không
đạt
được.
Do
đó,
việc
ông
S
không
có
ý
kiến
đối
với
yêu
cầu
ly
hôn
của
bà
L
không
phải
là
căn
cứ
để
Tòa
án
không
thụ
lý
hoặc
không
giải
quyết
yêu
cầu
khởi
kiện.
Vấn
đề
cần
xem
xét
là
tình
trạng
hôn
nhân
thực
tế
và
các
điều
kiện
luật
định
để
giải
quyết
cho
ly
hôn.
Phân
biệt
dấu
hiệu
về
tình
trạng
sức
khỏe,
nhận
thức
với
tình
trạng
pháp
lý
về
năng
lực
hành
vi
dân
sự.
Điều
22
Bộ
luật
Dân
sự
quy
định
trường
hợp
một
người
do
bị
bệnh
tâm
thần
hoặc
mắc
bệnh
khác
mà
không
thể
nhận
thức,
làm
chủ
được
hành
vi
thì
theo
yêu
cầu
của
người
có
quyền,
lợi
ích
liên
quan
hoặc
của
cơ
quan,
tổ
chức
hữu
quan,
Tòa
án
ra
quyết
định
tuyên
bố
người
đó
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
trên
cơ
sở
kết
luận
giám
định
pháp
y
tâm
thần.
Điều
23
Bộ
luật
Dân
sự
cũng
quy
định
đối
với
người
thành
niên
do
tình
trạng
thể
chất
hoặc
tinh
thần
mà
không
đủ
khả
năng
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
nhưng
chưa
đến
mức
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
thì
việc
xác
định
là
người
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
phải
được
Tòa
án
quyết
định
trên
cơ
sở
kết
luận
giám
định
pháp
y
tâm
thần.
Như
vậy,
cần
phân
biệt
giữa
tình
trạng
bệnh
lý
hoặc
dấu
hiệu
về
khả
năng
nhận
thức
trên
thực
tế
với
tình
trạng
pháp
lý
về
năng
lực
hành
vi
dân
sự
đã
được
Tòa
án
xác
định.
Việc
một
người
từng
bị
tai
biến,
chấn
thương
sọ
não
hoặc
có
bệnh
lý
ảnh
hưởng
đến
sức
khỏe
là
tình
tiết
để
xem
xét,
xác
minh
nhưng
chưa
đủ
căn
cứ
để
mặc
nhiên
xác
định
người
đó
là
người
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
hoặc
người
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi.
Đặc
biệt,
khoản
3
Điều
69
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
quy
định
người
từ
đủ
mười
tám
tuổi
trở
lên
có
đầy
đủ
năng
lực
hành
vi
tố
tụng
dân
sự,
trừ
người
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự;
đối
với
người
bị
hạn
chế
năng
lực
hành
vi
dân
sự,
người
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
thì
năng
lực
hành
vi
tố
tụng
dân
sự
được
xác
định
theo
quyết
định
của
Tòa
án.
Quy
định
này
có
ý
nghĩa
quan
trọng
đối
với
việc
giải
quyết
vụ
án.
Khi
chưa
có
quyết
định
của
Tòa
án
xác
định
ông
S
là
người
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
hoặc
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
thì
không
thể
chỉ
dựa
vào
bệnh
án
hoặc
nhận
định
chủ
quan
về
tình
trạng
sức
khỏe
để
mặc
nhiên
xác
định
ông
S
không
có
năng
lực
hành
vi
tố
tụng
dân
sự.
Thứ
ba,
chưa
có
quyết
định
của
Tòa
án
xác
định
tình
trạng
năng
lực
hành
vi
dân
sự
thì
không
có
căn
cứ
thay
đổi
địa
vị
tố
tụng
của
bị
đơn.
Khoản
1
Điều
27
và
Điều
376
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
quy
định
việc
tuyên
bố
một
người
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự,
bị
hạn
chế
năng
lực
hành
vi
dân
sự
hoặc
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
là
một
vấn
đề
dân
sự
được
Tòa
án
xem
xét,
giải
quyết
theo
trình
tự,
thủ
tục
luật
định.
Theo
Điều
22,
Điều
23
Bộ
luật
Dân
sự,
việc
xác
định
tình
trạng
này
phải
được
Tòa
án
quyết
định
trên
cơ
sở
căn
cứ
pháp
luật
và,
đối
với
trường
hợp
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
hoặc
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi,
trên
cơ
sở
kết
luận
giám
định
pháp
y
tâm
thần.
Do
đó,
việc
ông
S
từng
bị
tai
biến,
chấn
thương
sọ
não
và
có
bệnh
lý
ảnh
hưởng
đến
sức
khỏe
chỉ
là
tình
tiết
để
xem
xét,
xác
minh,
chưa
đủ
căn
cứ
để
mặc
nhiên
xác
định
ông
S
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
hoặc
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi.
Trường
hợp
Tòa
án
đã
bảo
đảm
việc
tống
đạt,
triệu
tập
và
giải
thích
quyền,
nghĩa
vụ
tố
tụng
mà
ông
S
không
tham
gia
thì
sự
vắng
mặt
của
ông
S
được
xử
lý
theo
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự.
Việc
bị
đơn
không
tham
gia
tố
tụng
không
làm
mất
quyền
yêu
cầu
ly
hôn
của
nguyên
đơn.
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
quy
định
cơ
chế
bảo
đảm
quyền
tham
gia
tố
tụng
của
đương
sự,
đồng
thời
cũng
quy
định
việc
giải
quyết
vụ
án
trong
trường
hợp
đương
sự
vắng
mặt.
Theo
Điều
227
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự,
sau
khi
Tòa
án
đã
triệu
tập
hợp
lệ,
việc
đương
sự
vắng
mặt
được
xử
lý
theo
các
trường
hợp
mà
pháp
luật
quy
định.
Vì
vậy,
Tòa
án
phải
bảo
đảm
việc
tống
đạt,
triệu
tập,
giải
thích
đầy
đủ
quyền
và
nghĩa
vụ
tố
tụng
cho
bị
đơn.
Trường
hợp
các
thủ
tục
này
đã
được
thực
hiện
hợp
lệ
nhưng
bị
đơn
vẫn
không
tham
gia
thì
Tòa
án
tiếp
tục
giải
quyết
vụ
án
theo
thủ
tục
chung
là
có
cơ
sở.
Trên
đây
là
nội
dung
trao
đổi
về
việc
giải
quyết
yêu
cầu
ly
hôn
khi
bị
đơn
có
dấu
hiệu
về
năng
lực
hành
vi
dân
sự.
Tác
giả
rất
mong
nhận
được
ý
kiến
góp
ý,
trao
đổi
của
các
đồng
chí,
đồng
nghiệp./.
Tác
giả:
Nguyễn
Thị
Phương
Dung
–
Viện
KSND
khu
vực
7