Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 161

   TRAO ĐỔI VỀ CÁCH TÍNH THỜI HẠN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ


Thứ tư - 07/01/2026 19:49
 
Thời hạn là một chế định quan trọng trong pháp luật nói chung và pháp luật dân sự, tố tụng dân sự nói riêng. Việc quy định thời hạn nhằm bảo đảm sự ổn định của các quan hệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, đồng thời bảo đảm hoạt động tố tụng được tiến hành kịp thời, đúng pháp luật.

 
Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, thấy rằng quy định về thời hạn trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) và quy định về thời hạn tố tụng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) vẫn còn một số điểm chưa đồng nhất, cụ thể như sau:
  
BLDS quy định về thời hạn tại Chương X, trong đó:
 
- Thời hạn được xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện sẽ xảy ra;
 
- Nguyên tắc chung là không tính ngày bắt đầu, thời hạn kết thúc vào 24 giờ của ngày cuối cùng;
 
- Nếu ngày cuối cùng của thời hạn trùng vào ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày lễ thì thời hạn kết thúc vào ngày làm việc tiếp theo.
 
BLTTDS quy định về thời hạn tố tụng tại Chương XI, cụ thể tại Điều 183 quy định về Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự về thời hạn như sau:
 
 “Cách tính thời hạn tố tụng, quy định về thời hạn tố tụng, thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn tố tụng trong Bộ luật này được áp dụng theo các quy định tương ứng của Bộ luật dân sự”.
 
Tuy nhiên trong BLTTDS, thời hạn tố tụng tồn tại hai nhóm: nhóm thời hạn được tính theo ngày làm việc và nhóm thời hạn không tính theo ngày làm việc, trong khi BLDS không có quy định cách tính thời hạn “ngày làm việc”, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn còn có cách hiểu và thực hiện chưa thống nhất.
 
Ví dụ: Thời hạn xem xét đơn khởi kiện, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí hoặc giao các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định công nhận, Quyết định đình chỉ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát… thì quy định thời hạn “số ngày làm việc”. Việc tính thời hạn trong trường hợp này rõ ràng, không có vấn đề gì để bàn luận và nó mang nét riêng của tố tụng dân sự.
 
Đối với hoạt động tố tụng ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 212 BLTTDS), giao hoặc gửi Bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp (Điều 269 BLTTDS) thì chỉ quy định “số ngày”, không có kèm cụm từ “ngày làm việc”. Trường hợp này dẫn đến 02 cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau khi ngày kết thúc thời hạn vào ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày lễ, cụ thể:
 
- Áp dụng tinh thần của BLTTDS thì thời điểm kết thúc thời hạn vào ngày nào thì người tiến hành tố tụng căn cứ vào ngày đó để ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc giao, gửi Bản án theo quy định.
 
- Áp dụng tinh thần của BLDS thì thời điểm kết thúc thời hạn vào ngày làm việc tiếp theo. Nếu áp dụng cách hiểu này thì việc Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hạn có cụm từ “ngày làm việc” hay không có cụm từ “ngày làm việc” không có gì khác biệt.
 
Việc quy định chưa đồng nhất như trên dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả giải quyết vụ án đồng thời khó khăn trong việc xác định vi phạm thiếu sót để Viện kiểm sát thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị
 
Quan điểm của tác giả: Quy định đồng nhất khi ấn định thời hạn đối với các hoạt động tố tụng dân sự, bổ sung thêm cụm từ “ngày làm việc” đối với trường hợp ấn định thời hạn theo ngày để tạo sự đồng nhất và cũng phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ của ngành Tòa án nhân dân.
 
                                                                       Vũ Thị Hiền Nhung
                                                        VKSND khu vực 1 - tỉnh Tuyên Quang
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top