Thời
hạn
là
một
chế
định
quan
trọng
trong
pháp
luật
nói
chung
và
pháp
luật
dân
sự,
tố
tụng
dân
sự
nói
riêng.
Việc
quy
định
thời
hạn
nhằm
bảo
đảm
sự
ổn
định
của
các
quan
hệ
pháp
luật,
bảo
vệ
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
các
chủ
thể,
đồng
thời
bảo
đảm
hoạt
động
tố
tụng
được
tiến
hành
kịp
thời,
đúng
pháp
luật.
Tuy
nhiên,
qua
thực
tiễn
công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
việc
dân
sự,
thấy
rằng
quy
định
về
thời
hạn
trong
Bộ
luật
Dân
sự
năm
2015
(BLDS)
và
quy
định
về
thời
hạn
tố
tụng
trong
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
năm
2015
(BLTTDS)
vẫn
còn
một
số
điểm
chưa
đồng
nhất,
cụ
thể
như
sau:
BLDS
quy
định
về
thời
hạn
tại
Chương
X,
trong
đó:
-
Thời
hạn
được
xác
định
bằng
giờ,
ngày,
tuần,
tháng,
năm
hoặc
bằng
một
sự
kiện
sẽ
xảy
ra;
-
Nguyên
tắc
chung
là
không
tính
ngày
bắt
đầu,
thời
hạn
kết
thúc
vào
24
giờ
của
ngày
cuối
cùng;
-
Nếu
ngày
cuối
cùng
của
thời
hạn
trùng
vào
ngày
nghỉ
cuối
tuần
hoặc
ngày
lễ
thì
thời
hạn
kết
thúc
vào
ngày
làm
việc
tiếp
theo.
BLTTDS
quy
định
về
thời
hạn
tố
tụng
tại
Chương
XI,
cụ
thể
tại
Điều
183
quy
định
về
Áp
dụng
quy
định
của
Bộ
luật
dân
sự
về
thời
hạn
như
sau:
“Cách
tính
thời
hạn
tố
tụng,
quy
định
về
thời
hạn
tố
tụng,
thời
điểm
bắt
đầu,
kết
thúc
thời
hạn
tố
tụng
trong
Bộ
luật
này
được
áp
dụng
theo
các
quy
định
tương
ứng
của
Bộ
luật
dân
sự”.
Tuy
nhiên
trong
BLTTDS,
thời
hạn
tố
tụng
tồn
tại
hai
nhóm:
nhóm
thời
hạn
được
tính
theo
ngày
làm
việc
và
nhóm
thời
hạn
không
tính
theo
ngày
làm
việc,
trong
khi
BLDS
không
có
quy
định
cách
tính
thời
hạn
“ngày
làm
việc”,
dẫn
đến
việc
áp
dụng
pháp
luật
trong
thực
tiễn
còn
có
cách
hiểu
và
thực
hiện
chưa
thống
nhất.
Ví
dụ:
Thời
hạn
xem
xét
đơn
khởi
kiện,
thông
báo
nộp
tiền
tạm
ứng
án
phí
hoặc
giao
các
văn
bản
tố
tụng
như:
Thông
báo
thụ
lý
vụ
án,
Quyết
định
công
nhận,
Quyết
định
đình
chỉ,
chuyển
hồ
sơ
cho
Viện
kiểm
sát…
thì
quy
định
thời
hạn
“số
ngày
làm
việc”.
Việc
tính
thời
hạn
trong
trường
hợp
này
rõ
ràng,
không
có
vấn
đề
gì
để
bàn
luận
và
nó
mang
nét
riêng
của
tố
tụng
dân
sự.
Đối
với
hoạt
động
tố
tụng
ra
Quyết
định
công
nhận
sự
thỏa
thuận
của
các
đương
sự
(Điều
212
BLTTDS),
giao
hoặc
gửi
Bản
án
cho
các
đương
sự,
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
khởi
kiện
và
Viện
kiểm
sát
cùng
cấp
(Điều
269
BLTTDS)
thì
chỉ
quy
định
“số
ngày”,
không
có
kèm
cụm
từ
“ngày
làm
việc”.
Trường
hợp
này
dẫn
đến
02
cách
hiểu
và
áp
dụng
pháp
luật
khác
nhau
khi
ngày
kết
thúc
thời
hạn
vào
ngày
nghỉ
cuối
tuần
hoặc
ngày
lễ,
cụ
thể:
-
Áp
dụng
tinh
thần
của
BLTTDS
thì
thời
điểm
kết
thúc
thời
hạn
vào
ngày
nào
thì
người
tiến
hành
tố
tụng
căn
cứ
vào
ngày
đó
để
ra
Quyết
định
công
nhận
sự
thỏa
thuận
của
các
đương
sự
hoặc
giao,
gửi
Bản
án
theo
quy
định.
-
Áp
dụng
tinh
thần
của
BLDS
thì
thời
điểm
kết
thúc
thời
hạn
vào
ngày
làm
việc
tiếp
theo.
Nếu
áp
dụng
cách
hiểu
này
thì
việc
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
quy
định
thời
hạn
có
cụm
từ
“ngày
làm
việc”
hay
không
có
cụm
từ
“ngày
làm
việc”
không
có
gì
khác
biệt.
Việc
quy
định
chưa
đồng
nhất
như
trên
dẫn
đến
việc
áp
dụng
pháp
luật
không
thống
nhất,
ảnh
hưởng
nhất
định
đến
hiệu
quả
giải
quyết
vụ
án
đồng
thời
khó
khăn
trong
việc
xác
định
vi
phạm
thiếu
sót
để
Viện
kiểm
sát
thực
hiện
các
quyền
yêu
cầu,
kiến
nghị,
kháng
nghị
Quan
điểm
của
tác
giả:
Quy
định
đồng
nhất
khi
ấn
định
thời
hạn
đối
với
các
hoạt
động
tố
tụng
dân
sự,
bổ
sung
thêm
cụm
từ
“ngày
làm
việc”
đối
với
trường
hợp
ấn
định
thời
hạn
theo
ngày
để
tạo
sự
đồng
nhất
và
cũng
phù
hợp
với
đặc
điểm
nhiệm
vụ
của
ngành
Tòa
án
nhân
dân.
Vũ
Thị
Hiền
Nhung
VKSND
khu
vực
1
-
tỉnh
Tuyên
Quang