Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 427

   Một số khó khăn, vướng mắc về nhận thức và áp dụng pháp luật trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự


Thứ ba - 02/12/2025 19:57
 
Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, tác giả nhận thấy còn có một số khó khăn vướng mắc về nhận thức và áp dụng pháp luật trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, cụ thể như sau:

 
1. Về xác định tư cách tố tụng của người bị tuyên bố mất tích
 
Trong trường hợp yêu cầu tuyên bố một người mất tích: Có quan điểm cho rằng xác định người bị tuyên bố mất tích là người có quyền lợi liên quan theo quy định tại khoản 6 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự”
 
Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng phải xác định người bị tuyên bố mất tích là người bị yêu cầu theo hướng dẫn tại mục 4 phần IV Công văn số 163/TANDTC-PC ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân tối cao về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử “Trong việc dân sự tuyên bố một người là đã chết hoặc mất tích, Tòa án có đưa người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết hoặc mất tích vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không? Trường hợp này, Tòa án xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố là đã chết là người bị yêu cầu theo quy định tại Chương XXVI về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích và Chương XXVII về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết của Bộ luật Tố tụng dân sự”
 
Như vậy, cùng một nội dung yêu cầu nhưng có nhiều quan điểm khác nhau về xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị tuyên bố mất tích, gây khó khăn vướng mắc trong nhận thức và áp dụng pháp luật. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất, vì theo Điều 361 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 thì “Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…”, theo quy định trên, việc dân sự là không có tranh chấp giữa các bên. Do đó, đương sự trong việc dân sự chỉ bao gồm: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 5, 6 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung).
 
2. Về kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
 
Theo quy định tại Điều 140 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 76 Luật Tố tụng hành chính, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị đối với quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, tuy nhiên Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC cùng  ngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính không có điều, khoản nào quy định việc Tòa án chuyển tài liệu cùng các quyết định nêu trên cho Viện kiểm sát hoặc Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án cho sao chụp tài liệu nên còn khó khăn trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự.
 
3. Việc xác định như thế nào là vi pháp pháp luật nghiêm trọng trong giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự
 
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: 1. Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị...”. Việc đánh giá “vi phạm pháp luật nghiêm trọng” trong giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, chưa thống nhất cách hiểu, không có tiêu chí, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng dẫn đến còn có nhận thức khác nhau, nên còn khó khăn trong việc xác định căn cứ vi phạm pháp luật nghiêm trọng để thực hiện quyền kháng nghị.
 
Trên đây là một số khó khăn, vướng mắc về nhận thức và áp dụng pháp luật trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự. Đề nghị liên ngành Trung ương sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp xác định tư cách tố tụng của người bị tuyên bố mất tích, xác định trường hợp vi pháp pháp luật nghiêm trọng trong giải quyết các vụ án  hành chính, vụ việc dân sự để việc áp dụng pháp luật được đảm bảo nghiêm chỉnh và thống nhất. 
 
                             Đào Thị Hảo - Phòng 9 VKSND tỉnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top