Thông
qua
công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính,
vụ
việc
dân
sự
trên
địa
bàn
tỉnh
Tuyên
Quang,
tác
giả
nhận
thấy
còn
có
một
số
khó
khăn
vướng
mắc
về
nhận
thức
và
áp
dụng
pháp
luật
trong
công
tác
giải
quyết
và
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính,
vụ
việc
dân
sự,
cụ
thể
như
sau:
1.
Về
xác
định
tư
cách
tố
tụng
của
người
bị
tuyên
bố
mất
tích
Trong
trường
hợp
yêu
cầu
tuyên
bố
một
người
mất
tích:
Có
quan
điểm
cho
rằng
xác
định
người
bị
tuyên
bố
mất
tích
là
người
có
quyền
lợi
liên
quan
theo
quy
định
tại
khoản
6
Điều
68
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự
năm
2015,
sửa
đổi
bổ
sung
năm
2025
“Người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
trong
việc
dân
sự
là
người
tuy
không
yêu
cầu
giải
quyết
việc
dân
sự
nhưng
việc
giải
quyết
việc
dân
sự
có
liên
quan
đến
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
của
họ
nên
họ
được
tự
mình
đề
nghị
hoặc
đương
sự
trong
việc
dân
sự
đề
nghị
và
được
Tòa
án
chấp
nhận
đưa
họ
vào
tham
gia
tố
tụng
với
tư
cách
là
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan.
Trường
hợp
giải
quyết
việc
dân
sự
có
liên
quan
đến
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
của
một
người
nào
đó
mà
không
có
ai
đề
nghị
đưa
họ
vào
tham
gia
tố
tụng
với
tư
cách
là
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
thì
Tòa
án
phải
đưa
họ
vào
tham
gia
tố
tụng
với
tư
cách
là
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
trong
việc
dân
sự”
Tuy
nhiên
cũng
có
quan
điểm
cho
rằng
phải
xác
định
người
bị
tuyên
bố
mất
tích
là
người
bị
yêu
cầu
theo
hướng
dẫn
tại
mục
4
phần
IV
Công
văn
số
163/TANDTC-PC
ngày
10/9/2024
của
Toà
án
nhân
dân
tối
cao
về
việc
giải
đáp
một
số
vướng
mắc
trong
xét
xử
“Trong
việc
dân
sự
tuyên
bố
một
người
là
đã
chết
hoặc
mất
tích,
Tòa
án
có
đưa
người
bị
yêu
cầu
tuyên
bố
là
đã
chết
hoặc
mất
tích
vào
tham
gia
tố
tụng
với
tư
cách
là
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
hay
không?
Trường
hợp
này,
Tòa
án
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
người
bị
tuyên
bố
mất
tích
hoặc
tuyên
bố
là
đã
chết
là
người
bị
yêu
cầu
theo
quy
định
tại Chương
XXVI về
thủ
tục
giải
quyết
yêu
cầu
tuyên
bố
một
người
mất
tích
và Chương
XXVII về
thủ
tục
giải
quyết
yêu
cầu
tuyên
bố
một
người
đã
chết
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự”
Như
vậy,
cùng
một
nội
dung
yêu
cầu
nhưng
có
nhiều
quan
điểm
khác
nhau
về
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
người
bị
tuyên
bố
mất
tích,
gây
khó
khăn
vướng
mắc
trong
nhận
thức
và
áp
dụng
pháp
luật.
Tác
giả
đồng
tình
với
quan
điểm
thứ
nhất,
vì
theo
Điều
361
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự
năm
2015,
sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2025
thì
“Việc
dân
sự
là
việc
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
không
có
tranh
chấp,
nhưng
có
yêu
cầu
Tòa
án
công
nhận
hoặc
không
công
nhận
một
sự
kiện
pháp
lý
là
căn
cứ
làm
phát
sinh
quyền,
nghĩa
vụ
dân
sự,
hôn
nhân
và
gia
đình,
kinh
doanh,
thương
mại,
lao
động
của
mình
hoặc
của
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
khác;
yêu
cầu
Tòa
án
công
nhận
cho
mình
quyền
về
dân
sự,
hôn
nhân
và
gia
đình,
kinh
doanh,
thương
mại,
lao
động…”,
theo
quy
định
trên,
việc
dân
sự
là
không
có
tranh
chấp
giữa
các
bên.
Do
đó,
đương
sự
trong
việc
dân
sự
chỉ
bao
gồm:
Người
yêu
cầu
và
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
theo
quy
định
tại
khoản
5,
6
Điều
68
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự
năm
2015
(sửa
đổi,
bổ
sung).
2.
Về
kiểm
sát
việc
áp
dụng,
thay
đổi,
hủy
bỏ
biện
pháp
khẩn
cấp
tạm
thời
Theo
quy
định
tại
Điều
140
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự
và
Điều
76
Luật
Tố
tụng
hành
chính,
trong
thời
hạn
03
ngày
làm
việc
kể
từ
ngày
nhận
được
quyết
định,
Viện
kiểm
sát
có
quyền
kiến
nghị
đối
với
quyết
định
áp
dụng,
thay
đổi,
hủy
bỏ
biện
pháp
khẩn
cấp
tạm
thời
của
Tòa
án,
tuy
nhiên
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự,
Luật
Tố
tụng
hành
chính,
Thông
tư
liên
tịch
số
02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC,
số
03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC
cùng
ngày
31/8/2016
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
và
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
quy
định
việc
phối
hợp
giữa
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
và
Tòa
án
nhân
dân
trong
thi
hành
một
số
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
và
thi
hành
một
số
quy
định
của
Luật
Tố
tụng
hành
chính
không
có
điều,
khoản
nào
quy
định
việc
Tòa
án
chuyển
tài
liệu
cùng
các
quyết
định
nêu
trên
cho
Viện
kiểm
sát
hoặc
Viện
kiểm
sát
có
quyền
yêu
cầu
Tòa
án
cho
sao
chụp
tài
liệu
nên
còn
khó
khăn
trong
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính,
vụ
việc
dân
sự.
3.
Việc
xác
định
như
thế
nào
là
vi
pháp
pháp
luật
nghiêm
trọng
trong
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính,
vụ
việc
dân
sự
Theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
5
Luật
tổ
chức
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
quy
định:
“1.
Trường
hợp
hành
vi,
bản
án,
quyết
định
của
cơ
quan,
cá
nhân
có
thẩm
quyền
trong
hoạt
động
tư
pháp
có
vi
phạm
pháp
luật
nghiêm
trọng,
xâm
phạm
quyền
con
người,
quyền
công
dân,
lợi
ích
của
Nhà
nước,
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
tổ
chức,
cá
nhân
thì
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
phải
kháng
nghị...”.
Việc
đánh
giá
“vi
phạm
pháp
luật
nghiêm
trọng”
trong
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính,
vụ
việc
dân
sự,
chưa
thống
nhất
cách
hiểu,
không
có
tiêu
chí,
hướng
dẫn
cụ
thể,
rõ
ràng
dẫn
đến
còn
có
nhận
thức
khác
nhau,
nên
còn
khó
khăn
trong
việc
xác
định
căn
cứ
vi
phạm
pháp
luật
nghiêm
trọng
để
thực
hiện
quyền
kháng
nghị.
Trên
đây
là
một
số
khó
khăn,
vướng
mắc
về
nhận
thức
và
áp
dụng
pháp
luật
trong
công
tác
giải
quyết
và
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính,
vụ
việc
dân
sự.
Đề
nghị
liên
ngành
Trung
ương
sớm
ban
hành
văn
bản
hướng
dẫn
cụ
thể
đối
với
trường
hợp
xác
định
tư
cách
tố
tụng
của
người
bị
tuyên
bố
mất
tích,
xác
định
trường
hợp
vi
pháp
pháp
luật
nghiêm
trọng
trong
giải
quyết
các
vụ
án
hành
chính,
vụ
việc
dân
sự
để
việc
áp
dụng
pháp
luật
được
đảm
bảo
nghiêm
chỉnh
và
thống
nhất.
Đào
Thị
Hảo
-
Phòng
9
VKSND
tỉnh