Quyền
yêu
cầu
là
một
trong
những
quyền
năng
pháp
lý
quan
trọng
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
trong
quá
trình
thực
hiện
chức
năng
kiểm
sát
hoạt
động
tư
pháp.
Việc
thực
hiện
quyền
này
thể
hiện
tính
chủ
động,
trách
nhiệm
của
Viện
kiểm
sát
trong
việc
bảo
đảm
pháp
luật
được
chấp
hành
nghiêm
chỉnh
và
thống
nhất;
đồng
thời
tạo
tiền
đề
để
thực
hiện
các
quyền
năng
tiếp
theo
như
quyền
kiến
nghị,
quyền
kháng
nghị
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Theo
khoản
3
Điều
58
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
năm
2015,
Kiểm
sát
viên
có
nhiệm
vụ,
quyền
hạn
nghiên
cứu
hồ
sơ
vụ
việc,
yêu
cầu
Tòa
án
xác
minh,
thu
thập
tài
liệu,
chứng
cứ
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự.
Quy
định
này
được
cụ
thể
hóa
tại
Điều
22
Thông
tư
liên
tịch
số
02/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC
ngày
31/8/2016
về
việc
phối
hợp
giữa
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
và
Tòa
án
nhân
dân
trong
việc
thi
hành
một
số
quy
định
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự.
Theo
đó,
trước
khi
mở
phiên
tòa,
phiên
họp,
Kiểm
sát
viên
có
quyền
gửi
văn
bản
yêu
cầu
Tòa
án
xác
minh,
thu
thập
chứng
cứ
cho
Tòa
án
đang
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự.
Tuy
nhiên,
kể
từ
ngày
01/07/2025,
Luật
số
85/2025/QH15
sửa
đổi
bổ
sung
một
số
điều
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
năm
2025,
Luật
số
81/2025/QH15
sửa
đổi,
bổ
sung
một
số
điều
của
luật
tổ
chức
Tòa
án
nhân
dân
năm
2025
và
Luật
số
82/2025/QH15
sửa
đổi
bổ
sung
một
số
điều
của
Luật
tổ
chức
Viện
Kiểm
sát
nhân
dân
năm
2025
có
hiệu
lực
thi
hành.
Việc
sửa
đổi,
bổ
sung
các
quy
định
nêu
trên
không
chỉ
sửa
đổi,
bổ
sung
về
thẩm
quyền
của
các
cơ
quan
tư
pháp
mà
còn
làm
thay
đổi
trực
tiếp
đến
hoạt
động
thu
thập,
đánh
giá
chứng
cứ
trong
tố
tụng
dân
sự.
Đáng
chú
ý,
Điều
15
Luật
tổ
chức
Tòa
án
nhân
dân
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2025)
đã
bổ
sung
quy
định
về
việc
thu
thập
tài
liệu,
chứng
cứ
trong
xét
xử
vụ
việc
dân
sự.
Theo
đó,
nghĩa
vụ
thu
thập,
cung
cấp,
giao
nộp
tài
liệu,
chứng
cứ
được
xác
định
rõ
thuộc
về
các
bên
đương
sự;
Tòa
án
giữ
vai
trò
hướng
dẫn,
yêu
cầu
cung
cấp,
hỗ
trợ
thu
thập
trong
trường
hợp
cần
thiết,
tiếp
nhận
và
kiểm
tra,
thẩm
định
tính
xác
thực
của
tài
liệu,
chứng
cứ,
chứ
không
còn
trực
tiếp
tiến
hành
xác
minh,
thu
thập
chứng
cứ
như
trước
đây.
Như
vậy
Luật
đã
thiết
lập
một
quy
định
mang
tính
nguyên
tắc
về
hoạt
động
thu
thập
tài
liệu,
chứng
cứ
trong
giải
quyết
các
loại
vụ
việc
thuộc
thẩm
quyền
của
Tòa
án.
Trong
đó
đề
cao
nghĩa
vụ
chứng
minh
của
đương
sự
theo
Điều
91
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự.
Mặc
dù
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
vẫn
cho
phép
Tòa
án
tự
mình
xác
minh,
thu
thập
chứng
cứ
trong
trường
hợp
xét
thấy
cần
thiết,
song
xét
theo
nguyên
tắc
áp
dụng
pháp
luật
quy
định
tại
khoản
3
Điều
156
Luật
Ban
hành
văn
bản
quy
phạm
pháp
luật
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2020),
thì
trường
hợp
có
sự
khác
nhau
giữa
các
văn
bản
do
cùng
một
cơ
quan
ban
hành
về
cùng
một
vấn
đề,
phải
áp
dụng
quy
định
của
văn
bản
ban
hành
sau.
Do
đó,
kể
từ
khi
Luật
Tổ
chức
Tòa
án
nhân
dân
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2025)
có
hiệu
lực,
vai
trò
trực
tiếp
xác
minh,
thu
thập
tài
liệu,
chứng
cứ
của
Tòa
án
trong
tố
tụng
dân
sự
đã
được
thu
hẹp
đáng
kể.
Sự
thay
đổi
này
đặt
ra
yêu
cầu
tất
yếu
phải
điều
chỉnh
cách
thức
thực
hiện
quyền
yêu
cầu
của
Viện
Kiểm
sát
nhân
dân
đối
với
Tòa
án
nhân
dân
trong
tố
tụng
dân
sự,
bảo
đảm
phù
hợp
với
mô
hình
tố
tụng
tranh
tụng
và
các
quy
định
pháp
luật
mới.
Trong
bối
cảnh
đó,
ngày
28/11/2025,
Viện
Kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
đã
ban
hành
Quy
chế
số
436/QĐ-VKSTC
về
công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
việc
dân
sự
để
đáp
ứng
các
quy
định
mới
trong
công
tác
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự
của
Tòa
án.
Một
trong
những
nội
dung
trọng
tâm,
có
ý
nghĩa
lý
luận
và
thực
tiễn
quan
trọng
của
Quy
chế,
là
quy
định
về
quyền
yêu
cầu
Tòa
án
xác
minh,
thu
thập
tài
liệu,
chứng
cứ
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân.
Điều
16
Quy
chế
đã
cụ
thể
hóa
quyền
này
theo
hướng
phân
hóa
rõ
hai
trường
hợp
áp
dụng,
bảo
đảm
tính
phù
hợp
với
hệ
thống
pháp
luật
hiện
hành.
Thứ
nhất,
trường
hợp
Kiểm
sát
viên
xét
thấy
tài
liệu,
chứng
cứ
trong
hồ
sơ
chưa
bảo
đảm
cho
việc
giải
quyết
vụ
việc,
thì
báo
cáo
lãnh
đạo
Viện
kiểm
sát,
căn
cứ
khoản
3
Điều
58
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
và
hướng
dẫn
tại
Thông
tư
liên
tịch
số
02/2016
yêu
cầu
Tòa
án
nhân
dân
hướng
dẫn
đương
sự
thu
thập,
giao
nộp
tài
liệu,
chứng
cứ
mà
đương
sự
chưa
biết
hoặc
chưa
thực
hiện
đúng.
Qua
đó
bảo
đảm
hồ
sơ
vụ
việc
được
thu
thập
đầy
đủ,
khách
quan
để
giải
quyết
vụ
án.
Viện
kiểm
sát
không
làm
thay
nghĩa
vụ
chứng
minh
của
đương
sự,
mà
thực
hiện
chức
năng
kiểm
sát
đối
với
quá
trình
thu
thập,
đánh
giá
chứng
cứ
của
Tòa
án.
Thứ
hai,
trường
hợp
các
bên
đương
sự
đã
áp
dụng
các
biện
pháp
cần
thiết
nhưng
vẫn
không
thể
tự
mình
thu
thập
được
tài
liệu,
chứng
cứ
và
đã
có
đề
nghị
Tòa
án
hỗ
trợ
nhưng
Tòa
án
không
hỗ
trợ
hoặc
không
có
lý
do
chính
đáng,
thì
Kiểm
sát
viên
báo
cáo
lãnh
đạo
Viện
kiểm
sát
để
yêu
cầu
Tòa
án
thực
hiện
nghĩa
vụ
hỗ
trợ
đương
sự
thu
thập
tài
liệu,
chứng
cứ
theo
khoản
4
Điều
15
Luật
Tổ
chức
Tòa
án
nhân
dân
(sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2025).
Việc
sửa
đổi,
bổ
sung
quy
định
về
quyền
yêu
cầu
Tòa
án
xác
minh,
thu
thập
tài
liệu,
chứng
cứ
trong
Quy
chế
số
436/QĐ-VKSTC
có
ý
nghĩa
quan
trọng
trong
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự.
Quy
chế
đã
tạo
cơ
sở
pháp
lý
vững
chắc
cho
đội
ngũ
Kiểm
sát
viên,
Kiểm
tra
viên
trong
quá
trình
nghiên
cứu,
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự
để
kịp
thời
báo
cáo
lãnh
đạo
viện
xem
xét
ban
hành
yêu
cầu
Tòa
án
hỗ
trợ
đương
sự
thực
hiện
việc
xác
minh
thu
thập
tài
liệu
chứng
cứ
đảm
bảo
đúng
quy
định
pháp
luật;
Kiểm
sát
việc
Tòa
án
xác
minh
tài
liệu,
chứng
cứ
đảm
bảo
thu
thập
đầy
đủ
tài
liệu
chứng
cứ
để
giải
quyết
vụ
án
dân
sự;
Bảo
vệ
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
chính
đáng
cho
đương
sự.
Đồng
thời,
quy
định
này
cũng
góp
phần
làm
rõ
nghĩa
vụ
chứng
minh
của
đương
sự,
vai
trò
hỗ
trợ
của
Tòa
án
và
chức
năng
kiểm
sát
của
Viện
kiểm
sát,
bảo
đảm
sự
vận
hành
hài
hòa
của
mô
hình
tố
tụng
tranh
tụng.
Trong
bối
cảnh
cải
cách
tư
pháp
hiện
nay,
quyền
yêu
cầu
Tòa
án
xác
minh,
thu
thập
tài
liệu,
chứng
cứ
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cần
được
xem
như
một
công
cụ
pháp
lý
cần
thiết
để
bảo
đảm
tính
hợp
pháp,
khách
quan
và
toàn
diện
của
việc
giải
quyết
các
vụ
việc
dân
sự.
Quy
chế
số
436/QĐ-VKSTC
đã
kịp
thời
cụ
thể
hóa
tinh
thần
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
năm
2025,
Luật
Tổ
chức
Tòa
án
nhân
dân
năm
2025
và
Luật
Tổ
chức
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
năm
2025,
góp
phần
nâng
cao
chất
lượng
công
tác
kiểm
sát
và
bảo
vệ
hiệu
quả
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
của
đương
sự.
Phạm
Tất
Lợi
-
Viện
KSND
Khu
vực
2
-
Tuyên
Quang